Sấm Giảng

Quyển V-Lời Khuyến Thiện

Quyển V-Lời Khuyến Thiện

Inbox
x
Vu Nguyen
Dec 6 (2 days ago)

to bcc: me
Em cháu xin gởi tiếp quyển 5, mong quý vị hoan hỉ đón nhận.
Vũ Nguyễn
*****************************************************

Quyển V

Lời Khuyến Thiện

Của Ông Vô Danh Cư Sĩ

(776 câu)

Băng tâm ngẫu hứng thừa nhàn,
Theo đòi nghiên-bút luận bàn Tục, Tiên.
Ta là cư-sĩ canh điền,
Lo nghề cày cuốc cũng chuyên tu hành.


Xa nơi tranh-đấu lợi danh,
Giữ lòng thanh-tịnh tánh lành trau-tria.
Gắng công trì niệm sớm khuya,
Thân tuy còn tục tâm lìa cõi mê.

Chí toan gieo giống Bồ-Ðề,
Kiếm người lương thiện dắt về Tây-Phang.
Dạy khuyên những kẻ ngỗ-ngang,
Biết câu Lục-tự gìn đàng Tứ-ân.

Ở trần xử trọn nghĩa-nhân,
Quyết làm tôi Phật gởi thân Liên-Ðài.
Cầu cho mối Ðạo hoằng-khai,
Cầu cho trăm họ Bồng-Lai được gần.

Sớm về cõi Phật an-thân,
Kẻo kiếp phong-trần dày gió dạn sương.
Phật-đài phưởng-phất mùi hương,
Cúi đầu đảnh lễ cậy nương đức mầu.

Từ-bi oai lực nhiệm sâu,
Ðộ con thoát chốn ưu-sầu trần-ai.
Nam-Mô Thích-Ca Như-Lai,
Ta-Bà Giáo-Chủ xin Ngài chứng-minh.


Dưới đây lược tả sách kinh,
Cho trong nam nữ hữu tình thì coi.
Lời lành của Phật truyền roi,
Ðọc qua suy nghiệm xét soi chánh tà.


 

THI

Tiếng kệ từ-bi quá diệu-trầm,
Diệt lòng tham vọng diệt thinh-âm.
Trần-gian say-đắm theo màu-sắc,
Tịnh-độ giác-thuyền trị dục-tâm.

Phải rõ nghiệp-duyên trần cấu tạo,
Nghe rành chánh-pháp thoát tà-dâm.
Phù-sanh nhược mộng đời lao khổ,
Tỉnh trí tu thân khỏi lạc lầm.

Hào-quang chư Phật rọi mười phương,
Ðạo pháp xem qua chớ gọi thường.
Chuyên-chú nghỉ suy từ nét dấu,
Cố công gìn giữ tánh thuần-lương.

Lòng quảng ái xót thương nhân chủng,
Buổi lố-lăng Phật-Giáo suy đồi.
Kẻ tu hành ai nở yên ngồi,
Mà sớm kệ chiều kinh thong thả.

Mình đã gặp con thuyền Bát-Nhã,
Có lý nào ích-kỷ tu thân?
Phật-Tổ xưa còn ở nơi trần,
Ngài gắng sức ra công hoằng-hóa.

Nền Ðại-Ðạo lưu thông khắp cả,
Bực tiên hiền đều trọng Phật-gia.
Rèn dân bằng giáo-thuyết bình-hòa,
Giống bác-ái gieo sâu vô tận.

Sau nhằm buổi phong-trào tân-tấn,
Ðua chen theo vật-chất văn-minh.
Nên ít người khảo xét kệ-kinh,
Ðược dắt chúng hữu-tình thoát khổ.


Thêm còn bị lắm phen giông-tố,
Lời tà-sư ngoại-đạo gieo vào.
Cho nhơn-sanh trong dạ núng-nao,
Chẳng gìn chặt gương xưa mạnh mẽ.

Dùng thế-lực dùng nhiều mánh-khóe,
Cám dỗ người đặng có khiến sai.
Chúng nằm không hưởng của hoạnh tài,
Ðể khốn-khổ mặc ai trối kệ.

Mắt thấy rõ những điều tồi-tệ,
Tai thường nghe lắm giọng ru người.
Thêm thời nầy thế-kỷ hai mươi,
Cố xô sệp thần quyền cho hết.

Người nhẹ dạ nghe qua mê-mết,
Rằng: Nên dùng sức mạnh cạnh-tranh.
Ðược lợi-quyền lại được vang danh,
Bài-xích kẻ tu hành tác phước.

Làn sóng ấy nhiều người đón rước,
Giục dân tâm sôi-nổi tràn-trề.
Cổ tục nhà phỉ-báng khinh-chê,
Cho tôn-giáo là mùi thuốc phiện.

Ai nếm vào ắt là phải nghiện,
Chẳng còn lo trang võ đấu chinh.
Lấy sắc-thân dẹp nổi bất-bình,
Bỏ đức-tính của câu nhơn-quả.


Dầu ai có bền gan sắt đá,
Cũng động lòng trước cảnh ngửa-nghiêng.
Ðạo diệu-mầu gặp lúc truân chuyên,
Phận môn-đệ phải lo vun quén.

Tằm sức nhỏ còn làm nên kén,
Người không lo có thẹn hay chăng?
Cả tiếng kêu cùng khắp chư tăng.
Với tín-nữ thiện-nam Phật-Giáo.

Nên cố gắng trau thân gìn Ðạo,
Hiệp cùng nhau truyền-bá kinh lành.
Làm cho đời hiểu rõ thinh-danh,
Công đức Phật từ-bi vô lượng.

 

Ðồng dẹp bớt âm-thinh sắc-tướng,
Lo chấn-hưng Phật-Pháp mới là.
Nói cho đời hiểu Phật Thích-Ca,
Lòng tự giác xả thân tầm Ðạo.

Ta cũng chẳng hoàn-toàn thông-thạo,
Nhưng phân cùng bổn-đạo xa gần.
Có một điều già trẻ ân-cần,
Là phải biết nguyên nhân Phật-Giáo.


Hồi thế-kỷ khoảng trong thứ sáu,
Trước kỷ-nguyên tây-lịch thời xưa.
Pháp giáo chưa biệt-lập tam thừa,
Thuở Trung-Quốc nhà Châu Chiêu-Ðế.

Bên Ấn-Ðộ thành Ca-Tỳ-La-Vệ,
Có đức vua Tịnh-Phạn nhơn từ.
Khắp thần dân lạc nghiệp an cư,
Trên chúa thẳng tôi ngay phò tá.


Ðức Hoàng-hậu Ma-Da phong-nhã,
Sắc đẹp dường ngọc thốt hoa cười.
Một hôm kia vẻ mặt vui tươi,
Ðến trước bệ tâu cùng thánh thượng.

Rằng: Thần thiếp nhờ ơn chung hưởng,
Của hoàng-gia cũng được vinh-quang.
Kể từ nay thiếp muốn an nhàn,
Dưỡng tâm-trí lần xa thế trược.

Chẳng phiền kẻ hầu sau đón trước,
Chỉ trừ người ý hiệp tâm đầu.
Xin một điều ở chốn long lâu,
Tập đức tánh khoan-dung đại độ.

Tránh tất cả những điều thô-lỗ,
Chẳng ưa gần kẻ bạo ngang-tàng.
Thiếp cúi đầu ngưỡng vọng Thiên-nhan,
Phê cho thiếp những điều xin ấy.

Vua nghe xong vội-vàng đứng dậy,
Bèn chuẩn y tỏ ý vừa lòng.
Bà tâu thêm ở trước đền rồng,
Xin Thánh-thượng bao-dung kẻ khó.

Lòng yêu dân ví như con đỏ,
Tội giảm tha, đói giúp cơm tiền.
Cứu dân nghèo trong lúc đảo điên,
Lấy đức rộng bủa trong bá tánh.

Vua hứa chịu giúp người đói lạnh,
Bà lui về cung điện nghỉ-ngơi.
Ðêm trăng thanh gió mát thảnh-thơi,
Tiết hòa-thuận khắp nơi hoa nở.

Ðức Hoàng-hậu trong lòng hớn-hở,
Giấc chiêm-bao Bà thấy lạ-lùng.
Bạch tượng từ ở chốn không trung,
Bỗng sa xuống mình bà hối-hả.

Vừa tỉnh giấc mơ tiên mới lạ,
Khắp phòng huê thơm nức mùi hương.
Bà rảo chân bèn bước ra vườn,
Truyền thị-vệ thỉnh vua lai đáo.

Vua y lời đến nơi hoa thảo,
Lại gần bà sao rất quái-kỳ.
Tay chơn bèn run-rẩy một khi,
Muốn quì xuống mắt dường tăm-tối.


Tiếng Thần Tiên trên không ca trổi,
Rằng ta mừng vua hữu thiện căn.
Sắp có con thế-giới chẳng bằng,
Sau người ấy lập nên Ðạo cả.

Vua nghe xong cúi đầu bái tạ,
Liền phán cùng Hoàng-hậu Ma-Da.
Có việc chi vội-vả dời ta,
Khá nói lại đầu đuôi tường tất.


Bà thuật rõ chiêm bao trong giấc,
Xin vua vời ít kẻ bàn giùm.
Các thầy bàn được lịnh vào cung,
Nghe xong-xả tâu rằng điềm quí.

Ngày thắm-thoát đông qua hạ chí,
Bà trổ sanh Thái-tử đẹp tươi.
Mặt trang-nghiêm khí-phách hơn người,
Vua cùng khắp thần dân mừng rỡ.


Họ Thích-Ca từ đây cũng ngỡ,
Sẽ có người nối nghiệp hoàng-gia.
Liền đặt tên là Sĩ-Ðạt-Ta,
Cả triều chính treo hoa yến ẩm.

Có nhà sư cách thành mấy dậm,
Thường ở ăn trong sạch hiền-từ.
Lòng thẳng-ngay chẳng có vị tư,
Ðời thanh-tịnh gìn theo Ðạo-lý.

Ông lại được Thần Tiên dẫn chỉ,
Hiểu Thiên-cơ thấu mối diệu-huyền.
Ông là người Bà-la-môn tiên,
A-tư-Ðà tiên hiền tên lão.


Thời buổi ấy vua ưa người Ðạo,
Bèn vào chầu tâu trước bệ rồng.
Xin vua cho ông bước vào trong,
Ðược yết-kiến tử-hoàng luôn thể.

Ông xem xong bỗng liền sa lệ,
Vẽ mặt buồn chẳng thốt ra lời.
Thấy lạ-lùng vua bước đến nơi,
Liền phán hỏi bảo ông phân rõ.

Trước cung-điện ông liền bày tỏ,
Rằng tử-hoàng chừng được thành nhơn.
Lìa đền-đài khổ-cực chẳng sờn,
Tìm Ðạo-lý dắt-dìu sanh-chúng.

Ngài sẽ được thế-gian ca tụng,
Chắc phần Ngài quả Phật vẹn tròn.
Buồn vì tôi tuổi lớn sức mòn,
Chẳng sống đặng nghe lời Phật thuyết.

Cả hồng-trần đau-thương thống-thiết,
Nhờ Ngài mà diệt nẻo luân-hồi.
Vô phước nên tủi bấy phận tôi,
Chớ chẳng có điều chi lo ngại.

Ðức Hoàng-hậu đến ngày thứ bảy,
Dứt nợ trần nên vội qui tiên.
Có bà dì thay thế mẹ hiền,
Giùm săn-sóc trông-nom Thái-tử.

 

Khi lớn lên cho người dạy chữ,
Lúc vào trường chẳng học mà thông.
Buổi trưởng thành vua vẫn hằng mong,
Cho Thái-tử đừng lìa cung điện.

Hội triều-đình các quan lựa tuyển,
Nàng Du-Gia được chọn kết hôn.
Vua nghĩ rằng muốn tâm yên-ổn,
Chọn cung-phi mỹ nữ làm trò.

Cất đền-đài lộng-lẫy đẹp to,
Ngày ca múa đêm bày lơi-lả.
Lòng Thái-tử cũng không xiêu-ngả,
Ra khỏi đền du ngoạn một khi.

Buổi đầu tiên gặp những chuyện gì,
Gặp cụ lão tay nương gậy chống.
Ngài xem qua lòng bèn cảm-động,
Lần thứ hai thấy kẻ ốm đau.

Xét cõi trần trong dạ héo xào,
Chi xiết nổi núng-nao cõi tạm.
Lần thứ ba xe lìa khỏi trạm,
Ðược trông nhìn kẻ chết đang khiêng.

Về đền-đài cảm xúc buồn riêng,
Hằng để trí tầm phương giải-thoát.
Lần thứ tư vừa đi dạo mát,
Bỗng gặp người tốt đẹp trang-nghiêm.

Nào dè đâu Trời đã ứng điềm,
Giã tăng-sĩ gợi lòng Thái-tử.
Ngài hiểu rõ ấy là phận-sự,
Phải xuất gia tầm Ðạo mau mau.


Liền quày xe trở lại lai trào,
Xin Vương-phụ lánh xa mùi thế.
Vua buồn thảm dùng lời khóc kể,
Rằng: Cha già biết cậy nhờ ai.

Khuyên con nên ở chốn điện-đài,
Lo nối nghiệp sau tu chẳng muộn.
Lòng Thái-tử quyết theo ý muốn,
Thừa đêm khuya lén trốn vào rừng.

Lìa cha già, vợ đẹp, con cưng,
Thân chẳng sá xông-pha bờ bụi.
Ngày thuở ấy nên mười chín tuổi,
Tâm đại-hùng cương-quyết tu trì.

Trải bao phen lao-khổ xiết chi,
Sau Ngài đến Rạch-Ni Liên-Thuyền.
Thấy cỏ hoa cảnh bắt tham-thiền,
Ngồi khổ-hạnh sáu năm bên ấy.

Ðạo gần đắc Ma-Vương theo khuấy,
Dùng thần-thông nghị-lực dẹp tan.
Ấy mới vừa đắc Ðạo hoàn-toàn,
Và lần bước phô-trương độ chúng.

Ngài bèn xét ở trong Phật chủng,
Các chúng-sanh đều có như Ta.
Bị vô-minh vọng-tưởng vạy-tà,
Nên quay lộn Ta-bà cõi khổ.

Lòng thương chúng thuyết-phương Tịnh-độ,
Ðặng dắt-dìu tất cả chúng-sanh.
Nếu như ai cố chí làm lành,
Chuyên niệm Phật cầu sanh Phật-Quốc.

Cả vũ-trụ khắp cùng vạn-vật,
Dầu Tiên, Phàm, Ma, Quỉ, Súc-sanh.
Cứ nhứt tâm tín, nguyện, phụng-hành,
Ðược cứu-cánh về nơi an-dưỡng.

Chỉ một kiếp Tây-phương hồi hướng,
Thoát mê-đồ dứt cuộc luân-hồi.
Xét cõi trần sóng khổ giạt-trôi,
Vô lượng thứ ở trong thế-giới.

Lời Phật thuyết Ta xin nhắc lại,
Ta-bà khổ, Ta-bà lắm khổ.
Có bao người xét cho tột chỗ,
Tịnh-độ vui, Tịnh-độ nhàn vui.

Cảnh thanh-minh sen báu nặc mùi,
Nào ai rõ cái vui triệt đáo.

*************************

Vì phần Ta rất yêu-mến Ðạo,
Chẳng nệ chi trí siển tài sơ.
Lấy lời xưa kết lại ít tờ,
Cho thiện-tín rỗi nhàn xem-xét.

Dứt mê tâm dứt điều hờn ghét,
Rán cần chuyên niệm Phật làm lành.
Thường trau-giồi chí-hướng cao thanh,
Cho khỏi thẹn con lành Phật-Giáo.

Ðức Thích-Ca từ xưa dạy bảo:
Khổ Ta-bà nhiếp lại tám phần.
Bởi chúng-sanh mang lấy xác thân,
Khổ thứ nhứt sự Sanh là gốc.

Vào bụng mẹ chung quanh bao-bọc,
Có khác nào ở chốn ngục tù.
Buổi mẹ đau huyết kiệt hình thu,
Lúc mẹ đói dường treo lỏng-bỏng.

Ta kể sơ những điều bi-thống,
Mẹ no cơm chật-chội khó-khăn.
Khi ra đời đau-đớn vô ngần,
Cất tiếng khóc nếm mùi dương-thế.

Ðoạn Lão khổ thứ nhì xin kể,
Từ trẻ thơ đến tuổi thành nhân.
Hết tráng- cường đến lúc mòn thân,
Răng lần rụng lưng cong gối mỏi.

Nằm đi đứng đỡ nưng chống chỏi,
Thử nghĩ coi lao nhọc cùng chăng?
Ðoạn thứ ba ma Bịnh làm nhăng,
Đeo hành phạt xác thân ô-uế.

Bởi thời-thế chuyển xây biến-thể,
Thêm uống ăn chẳng được điều-hòa.
Là nguyên-nhân căn bịnh phát ra,
Thân trằn-trọc hôn-mê nhức-nhối.

Cơn bịnh hoạn càng không tránh nổi,
Còn mang thêm tật nọ tật kia.
Rồi từ đây đến lúc chia lìa,
Ðoạn Tử khổ thứ tư phân giải.

Trên dương thế hữu hình tắc hoại,
Có sanh ra khổ-hải đâu chừa.

Trải bao phen dãi gió dầm mưa,
Ngày kiệt sức huyễn thân tan-nát.

Gần hấp-hối tâm-thần xao-xác,
Trí vẩn-vơ kinh-sợ vô cùng.
Rồi mòn lần đến lúc lâm chung,
Giã cõi tạm theo đường tội phước.


Nhiều phương thuốc ngừa sau ngăn trước,
Mà cũng không thoát luật tuần-huờn.
Dầu ẩn nơi cùng cốc thâm sơn,
Chẳng trốn lánh tử thần cho khỏi.

Ðoạn thứ năm nghĩ-suy tìm-tỏi,
Cầu Chẳng Thành những việc thích-ham.
Người trên đời ai cũng lòng tham,
Muốn phước, thọ, phẩm, hàm, tiền của.

Nào vợ đẹp, hầu xinh, là-lụa,
Không được thì bực-tức ưu-phiền.
Cả tâm thần điêu-đứng đảo-điên,
Vậy có phải khổ hay là chẳng?

Ðoạn thứ sáu Biệt-Ly cay đắng,
Người mình thương bỗng lại chia-lìa.
Khi khóc than nước mắt đầm-đìa,
Lúc trông nhớ ruột tầm chua xót.

Ở thế-gian mấy ai thoát lọt,
Nợ gia-đình đeo đắm căn-duyên.
Cơn nguy nghèo thân thể truân-chuyên,
Kẻ lưu-lạc người chờ trông mãi.


Cuộc tan hiệp, hiệp tan ân-ái,
Ðến xong đời để lại sầu ưu.
Cái khổ nầy dầu lắm trí mưu,
Cũng chung chịu như người tăm-tối.

Ðoạn thứ bảy khổ Oan-Tắng-Hội,
Hể thương nhau tất có ghét nhau.
Thường tranh-đua tiếng thấp lời cao,
Chẳng nhẫn-nhịn thành ra cừu oán.

Muốn tránh xa đừng trông tâm dạng,
Cứ gặp nhau mắt tựa kim châm.
Làm cho người đau đớn âm-thầm,
Khổ như thế diễn ra mãi mãi.

Ðoạn thứ tám Ưu-Sầu lo ngại,
Cuộc tang-thương dâu bể cảnh trần.
Nghèo thì lo một nổi nợ-nần,
Lo đau-đói liệu cơn nhà rách.

Buồn duyên-số phận mình nhơ sạch,
Rầu gia-đình chúng bạn khinh cười.
Giàu thì lo chen lấn với người,
Miễn cho được đầy rương đầy tủ.

Của dương-thế góp tom bảo-thủ,
Sợ gian-phi trộm cướp rình-mò.
Lo tước-quyền cho được thơm-tho,
Sợ kẻ khó thiếu tiền chẳng trả.

Ôi! cả sang hèn chẳng ai thong-thả,
Sao nhơn sanh cứ mãi đắm say.
Chẳng tu thân đặng dựa Phật-Ðài,
Cho thong-thả hưởng mùi sen báu.

Thần-thức nhập Thai-Sen tinh-hảo,
Nên khỏi màng lo nổi khổ sanh.
Thân thì Thân Công-Ðức hiền lành,
Bất di dịch khỏi vì khổ lão.

Thể Thanh-tịnh thường không huyên-náo,
Hết lo toan nắng lạnh gió mưa.
Khổ bịnh kia bởi đó mà chừa,
Ta thoát cuộc lao-đao vì nó.

Ðường sanh-mạng Phật, ta đồng thọ,
Tánh an nhiên bất diệt trường tồn.
Tử thần kia đâu dám dắt hồn,
Thoát luân-chuyển khỏi đeo khổ tử.

Cuộc y thực muốn chi đủ thứ,
Không nhọc-nhằn lo việc sanh-nhai.
Trí yên nhàn nhìn cảnh Phật-Ðài,
Khỏi quả khổ mưu cầu bất đắc.


Cả Hải-chúng thảy đều vững-chắc,
Toàn dân lành đâu có đắn-đo.
Dứt ái-ân quyến-thuộc chuyện-trò,
Thoát sống khổ thương-yêu, ly-biệt.


Chữ Hòa-Thuận kể sao cho xiết,
Tâm đồng nhau thượng-thiện vui-vầy.
Cảnh như như chẳng có đổi thay,
Không màng biết phân chia nhơn-ngã.

Sẵn vị ngôi rành phân thượng hạ,
Khỏi khổ câu oán ghét gặp nhau.
Thân tâm thường-trụ hết rạt-rào,
Chất thô-trược tiêu tan mất cả.

Cõi Tịnh-độ lắm điều thanh-nhã,
Khổ, buồn, rầu, lo, sợ chẳng còn.
Chốn Ta-bà tim lụn dầu mòn,
Thân tứ-đại của người cũng thế.

Mau thức-tỉnh tu-thân kẻo trể,
Ðến tội rồi mới hối muộn-màng.
Chi cho bằng ta sớm lo toan,
Gìn giới-luật nghe kinh trọng Phật.

Ðến lâm-chung quả lành đâu mất,
Cõi Tây-Phương chư Phật đợi chờ.
Việc tu thân thiện-tín hẩng-hờ,
Chừng họa đến e cho khó tránh.


Môn Tịnh-độ là phương cứu-cánh,
Rán phụng-hành kẻo phụ Phật xưa.
Lòng từ-bi chẳng quản nắng mưa,
Xông thuyền giác rước đưa sanh-chúng.

Trong một nước nhân tài hữu dụng,
Kẻ tu hành đa phước thì nên.
Quyết trau thân tánh hạnh cho bền,
Niềm ơn nghĩa toan đền dứt nợ.

Ao sen báu Tây-Phương đua nở,
Chờ chúng-sanh niệm Phật chí tâm.
Rán tu cho quỉ khiếp thần khâm,
Ðược tâm phát Bồ-Ðề vững chắc.

Giữ đừng cho Ma-Vương dẫn-dắt,
Thường nhớ câu Ðại-Lực, Ðại-Hùng.

Thắng Thất-Tình giữ vẹn Ðạo-Trung,
Trừ Lục-Dục chớ cho ô-nhiễm.

Thập-tam Ma diệt bằng trí-kiếm,
Rứt xong rồi vô sự thảnh-thơi.
Biển hồng-trần lao-lý diệu-vơi,
Xô đẩy mãi trong vòng Ngũ-Trược.

Thân hôi tanh muỗi, ruồi đón rước,
Thêm nhọt u, ghẻ lác, phong cùi.
Ðâu lúc nào toàn vẹn yên vui,
Là Kiếp-Trược, ta xin kể trước.

Dòm việc quấy ngắm điều bạo-ngược,
Mắt trông vào những chỗ đê-hèn.
Nào được xem cảnh báu đài sen,
Nghĩa Kiến-Trược giải ra như vậy.

Trí vẩn-vơ tưởng đó nhớ đây,
Thiết mưu-kế toan bề thắng-thối.
Ghi thù-oán chưởng điều đáp đối,
Nên ma phiền Nảo-Trược đắm say.


Chuyển luân trong nhân-vật các loài,
Căn mờ ám làm điều dại-dột.
Chúng-Sanh Trược, Ta đà kể nốt,
Còn thứ năm là Mạng-Trược trung.

Số giàu-sang, họa phước, bần-cùng,
Giàu hoa-nguyệt thung-dung cẩu-thả.

 

Ưa đẹp mắt mến điều mới lạ,
Sang oai-quyền, hối-lộ gần xa.
Nghèo a-dua, bợ-đở nịnh tà,
Khó trộm-cướp cũng là nhơ xấu.

Nguyện cùng Phật dứt duyên trần-cấu,
Phải trừ thêm thập-ác huyễn thân.
Khuyên nữ nam suy-nghiệm ân-cần,
Ác nơi khẩu nhứt là Lưỡng-Thiệt.

Với người nầy dùng lời tha-thiết,
Ðến kẻ kia đâm-thọc cho gây.
Khá chừa đi hương-đảng bớt rầy,
Dùng sự thiệt giải-bày tâm trí.

Người choảng nhau tại mình gia vị,
Mà cũng không hưởng được lợi-danh.
Sau rõ ra chúng lại ghét-ganh,
Chiêu cảm quả bất lành thêm nữa.

Ác thứ nhì Ỷ-Ngôn chất-chứa,
Ðợi cho người lầm-lỗi xéo vày.
Của tiền nhiều tự phụ rằng hay,
Chủ ỷ thế nhiếc xài kẻ dưới.

Lắt-léo chi có ba tấc lưỡi,
Quan ỷ khôn mạt-sát dân ngu.
Nghèo ỷ lanh láo-xược lu-bù,
Ôi! Thấy thế lòng đau tợ cắt.

Khuyên bá-tánh giữ-gìn cho chặt,
Ðừng để cho quỉ dắt đường cong.
Dùng từ-ngôn nói tận đáy lòng,
Dầu trên dưới cũng không mấy khác.

Chúng vô phước đời nầy dốt-nát,
Người khôn-ngoan chỉ-dẫn mới là.
Lời trang-nghiêm êm-ái thốt ra,
Ðừng bao-biếm mới là nhơn-thiện.

Tới Ác-Khẩu thứ ba bày-biện,
Tiếng tục-tằn thô-lổ hung-hăng.
Nào chưởi cha, mắng mẹ lăng-xăng,
Chẳng kể đến luân-thường thảo hiếu.

Hăm đánh giết những người hèn yếu,
Hiếp xóm-chòm cô bác chẳng kiên.
Trong gia-đình chưởi rủa liên-miên,
Hết Dương-thế kêu sang Thần-Thánh.

Chẳng kiêng nể Phật Trời thượng cảnh,
Cõi Long-cung mời thỉnh tối ngày.
Ðời ám-u tội trạng thảm thay,
Khuyên bá-tánh bá-gia rán bỏ.

Gương tổ-phụ còn roi lại đó,
Sau không theo nề-nếp gia-phong.
Chư Thánh-Thần đâu có mất lòng,
Mà kêu réo Ðông, Tây, Nam, Bắc?

Mấy câu trên toàn là ròng-rặt,
Những đàn-bà khe-khắt cháu con.
Kể từ nay phải giữ cho tròn,
Không chừa dứt ắt mang tai-ách.

Lựa lời tiếng dịu-dàng trong sạch,
Khi thốt ra đoan chánh hiền từ.
Tích thiện thì thường có phước dư,
Bằng tích ác họa-ương đeo đắm.

Ác Vọng-Ngữ thứ tư cũng cấm,
Nói thêm thừa huyễn-hoặc đủ điều.
Ghét người thời kiếm chuyện dệt-thêu,
Thương viện lẽ thấp cao bào chữa.

Ðời bất công mấy ai xem sửa,
Trên điêu-ngoa dưới chẳng phục-tòng.
Khuyên nhơn sanh lấy lẽ chí công,
Mà ăn ở nói năng chơn chất.

Phật từ-bi độ trong nhơn vật,
Là luật kinh dạy rất tinh-tường.
Nếu chẳng nghe hồn vướng tai-ương,
Chừng ấy mới kêu mời khó rước.

Người dương-thế chẳng ưa bốc-xước,
Phật Thần nào gần kẻ xảo-ngôn.
Ðã tu hành đừng có bôn-chôn,
Tưởng hay giỏi khoe-khoang tài cán.

Người hiểu rành mới càng thêm chán,
Chi bằng ta bỏ lối trớ-trêu.
Nói với ai cũng phải lựa điều,
Ðừng tráo-chác cho người khinh dể.

Ác Tà-Dâm thứ năm càng tệ.
Chúa hôn-mê chiếm đoạt thê thần.
Làm đảo-huyền tất cả quốc-dân,
Tôi bất chánh hoàng-cung dâm loạn.

Tội lỗi ấy diễn nhiều thảm trạng,
Từ xưa nay Trời đất đâu dung.
Giàu của nhiều dâm hiếp bần cùng,
Quan lấn thế dâm-ô dân khó.

 

Trai liều-lĩnh điều này nên bỏ,
Ðừng phá trinh hại tiết nữ nhơn.
Gái lẳng-lơ tiếng huyễn lời đờn,
Hoa có chủ đèo-bòng tình mới.

Cất tiếng gọi nữ nam ơi hỡi,
Bỏ những điều điếm nhục tông môn.
Ðấng nam-nhi học lấy điều khôn,
Lòng trung-hiếu gìn theo đạo-lý.

Hàng phụ nữ gương xưa nối chí,
Những mẹ hiền dâu thảo roi truyền.
Niệm Phật mà gây lấy thiện duyên,
Cho đẹp mặt Tổ-tiên nòi giống.

Thờ Phật-Ðạo tỉnh cơn ác mộng,
Thoát mê-đồ thường phóng quang-minh.
Rán hiểu rành tiếng kệ lời kinh,
Ác thứ sáu ấy là Ðạo-Tặc.


Lấy của người sắm ăn sắm mặc,
Chẳng kể công nước mắt mồ-hôi.
Phá lương dân dạ luống bồi-hồi,
Ngày làm-lụng đêm lo gìn-giữ.

Trốn pháp-luật tập-tành đủ thứ,
Nào đào tường, khoét vách khuân đồ.
Tội chập-chồng đâu biết ở mô,
Trốn người khỏi trốn Trời sao khỏi.

Nay đuốc huệ Từ-Bi đã rọi,
Vào thâm-tâm những kẻ gian-phi.
Hãy tu thân chừa thói vô nghì,
Của phi nghĩa làm chi xong chuyện.

Luật nhơn-quả thật là cao viễn,
Suốt cổ kim chẳng lọt một ai.
Vậy ta nên làm việc thẳng ngay,
Cứ bền chí có ngày thong-thả.

Ác thứ bảy Sát-Nhơn gây vạ,
Tánh hung-hăng đâm chém chặt bầm.
Chất-chứa điều hung dữ trong tâm,
Chờ đắc thế ra tay hạ sát.

Viết đến đây động lòng rào rạt,
Gẫm nhiều người bội-bạc thâm ân.
Nào kể chi là đạo Quân-thần,
Tôi giết chúa, con đành sát phụ.

Lúc nguy-cơ tớ mong hại chủ,
Trò giết thầy tội ấy đáng không.
Thêm chồng giết vợ, vợ giết chồng,
Niềm huynh-đệ cùng nhau xâu-xé.

Cũng hiếm lúc con còn giết mẹ,
Giành của tiền cốt-nhục giết nhau.
Tranh lợi danh giết lẫn đồng-bào,
Tình nhơn-loại phân chia yểm-bách.

Giết sanh vật đầy lòng kiêu-cách,
Tưởng rằng mình như thế là ngoan.
Khuyên bá-gia bá-tánh việt-đàn,
Chớ sát hại mạng người như thế.

Bớt giết vật đặng mà cúng tế,
Gẫm Thánh-Thần đâu có tư riêng.
Rủi ốm đau bởi tại căn tiền,
Hoặc hiện kiếp làm điều bạo-ác.

Phải ăn-năn phước điền tạo-tác,
Lo thuốc thang khẩn-vái Phật Trời.
Nguyện sửa lòng ắt Phật giúp đời,
Xuống phước rộng từ-bi hỉ-xả.

Ðấng Thần-Minh công bình trực dạ,
Ðâu ăn lo đổi họa làm may.
Mở tâm linh nghĩ đến đoạn nầy,
Ðiều họa phước ấy cơ báo ứng.

Chẳng biết thân còn toan chứa đựng,
Quả bất lành chưa trả vay thêm.
Cầu cho đời sóng lặng gió êm,
Ðặng bá-tánh an nhàn tu niệm,

Ác thứ tám là lòng Tham Hiểm,
Muốn bao gồm của thế một mình.
Tham nhà cao, cửa rộng, thân vinh,
Tham vườn ruộng cò bay thẳng kiếng.

Thấy của người thèm khô nước miếng,
Tính làm sao lường gạt lấy đi.
Sẵn túi tham bất cứ chuyện gì,
Dầu xấu tốt cũng là dồn chứa.

Nhớ lời Phật khi xưa dạy sửa,
Của thế trần như mật dính dao.
Trẻ tham ăn kê miệng liếm vào,
Chừng đứt lưỡi mới là hối-hận.

Tham của tạm làm điều tàn-nhẫn,
Nhắm mắt rồi đâu có mang theo.
Tham tiền tài thường vướng nạn eo,
Tham sắc đẹp nhà tan cửa nát.

Lúc tận số nằm trơ một xác,
Gẫm kim-tiền bội-bạc bất tài.
Không làm cho ta được sống dai,
Lại chẳng bước tiển đưa một bước.

Thà nghèo thanh hơn giàu mà trược,
Lo vun trồng cội phước về sau.
Muốn trừ tham phải liệu cách nào,
Phải bố-thí diệt lòng ích-kỷ.

Tâm chánh niệm thường thường suy nghĩ,
Vật ở trần như bọt nước làn mây.
Thân Ta còn rày đó mai đây,
Của ấy cũng khi tan khi hiệp.

Ác thứ chín Hận-Sân luận tiếp,
Lửa trong tâm chẳng đốt mà lừng.
Nổi lôi đình đâu có định chừng,
Cho ta biết mà toan giữ trước.

Tánh sân-nộ thường làm bạo-ngược,
Nên loài người ở cõi thế-gian.
Giận hờn nhau thù-oán dẫy tràn,
Mới có cuộc tranh tài đấu lực.

Hơn tự-đắc, khoe-khoang dõng sức,
Phải bị người hềm-khích ghét-ganh.
Thua hổ-ngươi làm chuyện bất lành,
Gây nghiệp dữ oan oan tương báo.

Trong cơn giận kể gì nhơn đạo,
Tỷ như con cọp dữ trên rừng.
Gặp thịt toan cấu xé tưng bừng,
Phân từng mảnh mới là thỏa dạ.

Diệt được nó tâm trần thong-thả,
Ta thường nên tập tánh khoan-dung.
Thiệt- hành đi đừng có ngại-ngùng,
Tha-thứ kẻ lỗi-lầm ngu-xuẩn.

Và nhẫn-nhịn đừng ham tranh-luận,
Khỏi mất lòng tất cả mọi người.
Tánh thuần-lương vẻ mặt vui tươi,
Vậy mới đáng tín đồ Phật-Giáo.


Nay ta đã quy-y cầu Ðạo,
Gây-gổ là trái thuyết từ-bi.
Ác thứ mười đoạn chót Mê-Si,
Nguyên tăm-tối từ hồi vô thỉ.

Màn vô-minh che mờ căn trí,
Nên thường khi nhận ngụy làm chơn.
Lo huyễn thân vật-chất kém hơn,
Chẳng tìm biết tinh-thần đạo-đức.

Dệt lưới nghi đeo điều phiền-phức,
Bịn-rịn đời cực-khổ tang-thương.
Khi nói làm ít chịu suy lường,
Mãi phạm tội nên rằng nghiệp ác.

Diệt mê-si phải nương thuyền giác,
Muôn việc làm chính-trực khôn-ngoan.
Ðừng bạ đâu tin bướng nghe càn,

Làm ngu muội đọa thân uổng kiếp

 

Ác trừ xong hiện ra thiện nghiệp,
Lóng nguồn chơn Phật tiếp-dẫn cho.
Trồng cây lành vị-quả thơm-tho,
Tuy không thấy mà sau chẳng mất.

Dầu ai có cười ta khờ-khật,
Cũng đừng phiền xao-lãng chơn tâm.
Mong tiếng kêu thấu đến Tòng-lâm,
Cùng thiện-tín bá-gia hưởng ứng.

Muốn Phật-Giáo từ đây bền vững,
Ðừng riêng lo lợi-dưỡng một mình.
Nếu xuất gia thì phải hy-sinh,
Cả vật-chất tinh thần lo đạo.

Chớ giả-dối mà mang sắc áo,
Mượn bồ-đề chuỗi hột lòe người.
Làm cho dân khinh-dể ngạo cười,
Tội-lỗi ấy luật nào dung-thứ.

Tu còn ham chay to đám bự,
Ðặng thế-gian dưng cúng bạc tiền.
Dối rằng: lo tu-bổ chùa chiền,
Mà làm của xài riêng cho thỏa.

Bảo làm sao dân không sa-ngã,
Nghe lời rù Tông nọ phái kia.
Cả tăng-đồ trong nước chia lìa,
Riêng pháp-bảo, riêng chùa, riêng Phật.

Trong bá-tánh sầu-thành chất-ngất,
Mãi nghi nan chẳng biết đàng nào.
Lòng mến yêu chẳng nệ công-lao,
Mượn bút mực đôi lời trần thuyết.

Tùy thiện-tín hiểu Ta giả thiệt,
Làm hay không chẳng dám ép nài.
Nguyện mười phương chư Phật đáo lai,
Ðồng tiếp-dẫn chúng-sanh giải-thoát.

 

KỆ:
Ðêm thanh hiên nguyệt dựa kề,
Nhìn xem thế-sự não-nề tâm-can.
Từ Ta nương chốn Phật-đàng,
Dứt tâm trần-cấu chẳng màng vinh-huê.

Trần-hoàn thiện-tín còn mê,
Thêm lời giục-thúc gọi về đàng tu.
Dốc lòng vạch ngút mây mù,
Ðặng dìu bá-tánh đường tu chen vào.

Lời Thầy cạn tỏ âm-hao,
Ðể truyền hậu-thế vàng thau lọc-lừa.
Tu cầu thuận gió hòa mưa,
An-hòa nhơn-vật phước thừa trời ban.

Tu cầu thoát chốn gian-nan,
Cầu trong chư quốc chư bang giao-hòa.
Tu cầu yên nước lợi nhà,
Cửu-huyền Thất-tổ Diêm-la thoát hình.

Tu cầu Phật hóa tánh tình,
Lưới mê chẳng buộc nhẹ mình tiêu-dao.
Tu cầu cửa Phật đặng vào,
Gót sen thong-thả xiết bao thanh-nhàn.

Tu cầu bịnh tật tiêu-tan,
Từ-bi hỉ-xả Phật ban phép lành.
Tu cầu thoát khỏi tử sanh,
Nương theo Phật-Quốc lời lành hằng nghe.

Cỏi trần đừng đắm ngựa xe,
Ðeo tuồng mộng-huyễn lập-lòe sắc hương.
Tu cầu trăm họ hiền lương,
Ðồng thinh niệm Phật tai-ương chẳng còn.

Tu cầu gia-đạo vuông tròn,
Chồng hòa vợ thuận cháu con thảo hiền.
Tu cầu thoát khỏi xích-xiềng,
Dựa kề chơn Phật xa miền trần-lao.

Tu cầu chóng hết binh đao,
Gặp đời bình trị xiết bao vui-vầy.
Mắt nhìn chư Phật đông dầy,
Thành vàng điện ngọc trò Thầy đăng tiên.

Ai mà muốn đặng phước-duyên,
Nghe lời khuyến-thiện lòng liền phát tâm.
Tu cho rõ mối huyền-thâm,
Qui đầu Phật-Pháp khỏi lâm tai nàn.

Phước đức quí hơn bạc vàng,
Những người bạc-ác giàu sang ích gì.
Chi bằng ăn ở nhu-mì,
Nghe lời Phật Thánh kính vì người trên.

Hiếu trung lòng chớ vội quên,
Sống lo trọn Ðạo, thác lên Tiên-Ðài.
Nam-mô miệng niệm hằng ngày,
Lánh lời dua-mị học rày kệ kinh.

Trau tâm luyện tánh cho minh,
Chuyên lo niệm Phật sửa mình cho trơn.
Lóng tai nghe rõ tiếng đờn,
Không giây không phiếm oán hờn cũng không.

Ðờn tây rồi lại đờn đông,
Trách trong bá-tánh gặp sông quên nguồn.
Phàm-trần như chỉ rối cuồn,
Mà còn say đắm theo tuồng lẳng-lơ.

Lời lành mắt lấp tai ngơ,
Ðua theo vật-chất hẫng-hờ đàng tiên.
Hố sâu tình dục lại ghiền,
Ghiền cho đến lúc chúng khiêng quan-tài.

Nhắm mắt cũng nắm hai tay,
Ðâu đem tiền của đem rày hầu non.
Chỉ có tội phước hỡi còn,
Ðến nơi thẩm-phán cửa son Diêm-Ðài.

Phước nhiều tiên cảnh lên rày,
Tội nhiều sa-đọa nhiều ngày thảm-thê.
Chừng ấy mới biết chỉn ghê,
Ăn-năn chẳng kịp khó bề tính-toan.

Ngày nay sớm đến Phật-đàng,
Tu cầu chư Phật cứu an linh-hồn.
Tội tiêu phước hưởng trường-tồn,
Không còn mắc nẻo dại-khôn luân-hồi.

Thấy đời khó nổi yên ngồi,
Thêm lời Thầy nhắc một hồi thấp cao.
Nữ nam muốn rõ âm-hao,
Rán trau đức-hạnh ngày sau sẽ tường.


*****************************
Ngôn-từ đạo hạnh ý Thầy khuyên,
Hạnh đức ân-cần rán tập chuyên.
Thất-tổ cửu-huyền nơi chín suối,
Mỉa-mai xa lánh sáu đường duyên.

Vô thượng thậm thâm dĩ ý truyền,
Danh ngôn chép để rạch đàng Tiên.
Cư-gia Tịnh-Ðộ tâm viên-mãn,
Sĩ xuất văn-từ dốc dạy khuyên.
NAM MÔ BỒN-SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT (tam niệm)

NAM MÔ A-DI-ÐÀ PHẬT

2 Attachments

5a- Quyển V-Lời Khuyến Thiện.doc
5b- Quyển V-Lời Khuyến Thiện.pdf
140 KB
Click here to Reply or Forward
Discuss and share knowledge with others at OPEN Forum, a community for small business owners.
Why this ad?Ads –
0.14 GB (0%) of 15 GB used
©2013 Google – Terms & Privacy
Last account activity: 7 days ago

Details

Ad
OPEN FORUM®
Join a free community.

Discuss and share knowledge with others at OPEN Forum, a community for small business owners.

Categories: Sấm Giảng | Leave a comment

Quyển IV – Giác Mê Tâm Kệ

Quyển IV – Giác Mê Tâm Kệ

Inbox
x
Vu Nguyen
Nov 29 (9 days ago)

to bcc: me

Kính gởi quý đồng đạo, quý đạo hữu;

 

Em cháu xin gởi tiếp quyển 4, mong quý vị hoan hỉ đón nhận.  Xin cầu chúc quý vị một mùa lễ Tạ Ơn trong an lạc.

 

Trân trọng,

Vũ Nguyễn

 

*****************************

Quyển IV

Giác Mê Tâm Kệ

 (846 câu)

Khai ngọn đuốc từ-bi chí thiện,
Tìm con lành dắt lại Phật đường.
Thương dân hiền giáo đạo Nam-Phương,
Ðặng chỉ ngõ làm lành lánh dữ.


Sách Thánh đạo ghi trong Tam-Tự,
Người mới sanh tánh thiện Trời dành.
Bởi lớn lên tập nhiễm lợi danh,
Nên tật xấu che mờ thiện-tánh.

Thiếu giáo-dục thiếu thêm đức-hạnh,
Ta quyết lòng nhắc lại tánh xưa.
Mặc tình đời gièm-siểm ghét ưa,
Rừng kinh kệ ít người hay chữ.

Quá mắc mỏ bởi chưng Phạn-ngữ,
Nên người đời khó kiếm cho ra.
Mõ chuông bày đọc tụng ó la,
Chớ hiếm kẻ tường thông nghĩa lý.

Dòm trước mắt thấy điều hồ-mị,
Nên động tình bác-ái dạy răn.
Réo những ai lợi dụng làm xằng,
Cho suy-sụp chơn-nhơn mờ-mịt.


Nào có khác mây đen phủ bít,
Rồi dắt nhau đến chỗ dại ngây.
Lấy tinh-thần hiệp vén ngút mây,
Trong bổn-đạo tự thân phải xử.


Xuống dương-thế dạo trong lê-thứ,
Thấy bá-gia gặp lúc não-nùng.
Cảnh trần-gian nhiều nổi lao-lung,
Việc tu-tỉnh ít người hiểu lý.

Trong bá-tánh muốn nơi cao quí,
Phải truy tầm huyền-bí nơi cơ.
Từ sấm kinh cho đến thi thơ,
Trong chốn ấy nhiều nơi trọng yếu.

Tạo làm chi những trung với hiếu!
Ấy là người bổn phận phải trau.
Khuyên dương-trần đừng nệ cần-lao,
Cũng rán sửa rán trau nền đạo.


Tu đầu tóc không cần phải cạo,
Miễn cho rồi cái đạo làm người.
Kể từ nay lỡ khóc lỡ cười,
Vì buồn bực thấy đời biến chuyển.

Các chư Phật từ đây lựa tuyển,
Coi ai là đức-hạnh hiền-từ.
Lời sách xưa cận thủy tri ngư,
Cận sơn lãnh trần gian tri điểu.

Trong sấm giảng nếu ai không hiểu,
Tầm kệ nầy Ta chỉ nẻo đường.
Quyết dạy trần nên nói lời thường,
Cho sanh-chúng đời nay dễ biết.

Trời dông gió sái mùa sái tiết,
Nắng cùng mưa cũng khác xưa rồi.
Khuyên dương-gian bỏ các việc tồi,
Ðặng lo liệu cho tròn phận-sự.


Thấy trần-thế hãy còn lưỡng-lự,
Muốn tu mà còn hỡi chần-chờ.
Việc thế-gian như thể cuộc cờ,
Thắng với thối một hai nước tướng.


Nào ai có gạt dân nói bướng,
Mà dương-trần liệu lượng chánh tà.
Ta mến yêu những kẻ thiệt-thà,
Nghe cơ-giảng thiết-tha lo-liệu.

Học đạo lý như đờn trúng điệu,
Hòa bản rồi thì cứ làm theo.
Lũ Tam-Bành trong bụng còn đeo,
Ðoàn Lục-Tặc ta mau sớm giết.

Mài gươm trí cho tinh cho khiết,
Dứt tâm trần kiếm chữ sắc không.
Ðức Di-Ðà Phật-Tổ ngóng trông,
Chờ dân chúng tìm nơi diệt khổ.

Theo Phật-Giáo từ kim chí cổ,
Gốc ông cha ta cũng tu-hành.
Mà ngày nay cứ mãi tranh giành,
Danh với lợi, của tiền, quyền tước.

Thấy trần thế ai ai cũng ước,
Ðời sao không tới phứt cho rồi.
Nay khổ lao khó đứng khôn ngồi,
Lúc đói cơm buồn lòng ngơ ngẩn.

Làm ác đức nhiều điều quanh quẩn,
Như gà cồ ăn bẩn cối xay.
Thấy người hiền nói đắng nói cay,
Sau mới biết thân ai lao khổ.


Nhớ thuở trước oai-linh Phật-Tổ,
Phép thần-thông trừ lũ Ma-Vương.
Chốn rừng tòng ngồi chịu nắng sương,
Tìm đạo-lý hiến cho trần-thế.

Hiệu Lão-Sĩ ra đời thật-tế,
Ðem lời vàng dạy dỗ dương-trần.
Khuyên chúng-sanh khuya sớm chuyên-cần,
Tìm nguồn-cội diệt-trừ Tứ-Khổ.

Bịnh với Tử từ kim chí cổ,
Sanh với Già hai chữ hoài hoài.
Ðức Thích-Ca xưa ở lầu đài,
Nghiệm Tứ-Khổ nên Ngài tầm Ðạo.

Lo tu tỉnh mặc ai khinh-ngạo,
Diệt Lục-Căn đừng nhiễm Lục-Trần.
Chữ Sắc-Thinh chớ có hầu gần,
Hương với Vị xác trần nên lánh.

Chữ Xúc-Pháp treo gương Hiền Thánh,
Tránh Sáu Ðường cũng đặng về Thần.
Từ xưa nay dạy chỉ nhiều lần,
Mà lê-thứ không lo chẳng liệu.

Nhãn thấy sắc thường hay bận-bịu,
Tai ưa nghe những điệu âm thinh.
Mắt với tai đều chọn đẹp xinh,
Còn lỗ mũi ưa mùi êm dịu.

Ðồ thơm tho nó ưa nó chịu,
Chốn xạ hương hay lết lại gần.
Lưỡi ưa ngon là chuyện ân-cần,
Ðồ ngọt béo nó ưa nó mến.

 

Thân tham sướng muốn tiền của đến,
Ðặng ăn xài cho phỉ tấm tình.
Ý thì ưa sửa sắc soi hình,
Với chức phận cho cao cho quí.

Sáu đường ấy ở trong tâm ý,
Ta mau mau dứt nó cho rồi.
Nếu tỉnh tâm nào có mấy hồi,
Mượn trí đạo duổi ra khỏi xác.

Dứt được nó ấy là giải thoát,
Thì xác trần mới khỏi đọa-đày.
Cả tiếng kêu những kẻ trí tài,
Hãy yên lặng bình tâm suy-nghĩ

Tiên xử kỷ hậu lai xử bỉ,
Bắt lỗi người phải xét lỗi mình.
Vậy mới là phải bực công-bình,
Nẻo chánh-trực chí người quân tử.

Người biết đạo phải gìn ngôn ngữ,
Nói với ai chớ có sai lời.
Trọng mẹ cha kính nễ Phật Trời,
Ðừng nhiều tiếng nghinh-ngang mang lỗi.

Tánh ngay thẳng ta không dời đổi,
Dầu tan xương nát thịt chẳng màng.
Ta Khùng Ðiên nói đại nói càn,
Chẳng có sợ ai rầy ai mắng.

Trời còn lúc tối mưa sớm nắng,
Thì trần-gian còn mãi khổ lao.
Ở trên đời kẻ thấp người cao,
Kẻ hiền-hậu người thì gian-ác.

Không quen biết mà cao tuổi tác,
Ta cũng nên kính trọng mới là.
Tâm từ-bi sánh thể ngọc-ngà,
Trong các báu khó bì tánh Thiện.

Phải xử thế chớ nên bày biện,
Miệng xảo ngôn thường kiện tấm thân.
Việc bán buôn phải giữ ngang cân,
Chớ tập tánh lận lường tráo đấu.


Các công cuộc của người tánh xấu,
Ta giữ gìn chớ có nhiễm vào.
Tâm Bần Tăng chẳng mến sắc màu,
Mến những kẻ biết vào đường chánh.

Ta dạy thế mượn lời Phật Thánh,
Nên truyền ban cho chúng-sanh tường.
Tuy ngày nay chúng nó hùng-cường,
Chừng phân định thì ta cao-quí.

Khuyên bổn-đạo lập thân nuôi chí,
Ðặng chờ ngày yết-kiến Phật Trời.
Quá yêu dân cạn tỏ nhiều lời,
Cho trần-hạ tìm trong lánh đục.

Chẳng chịu tu mãi còn lục-thục,
Lo giàu nghèo lo cũng chẳng rành.
Ham công-danh quên chữ sanh-thành,
Mến phú-quí quên câu dưỡng-dục.

Rán kiếm chỗ tầm tiên lánh tục,
Người ở đời phải được lòng trong.
Biển hồng-trần sớm gội cho xong,
Ngày lập hội mới mong trở lại.

Chữ bần-tiện khuyên dân đừng nại,
Miễn cho ta trở lại ngay đàng.
Chữ vinh-hoa giờ chớ có màng,
Bởi giả tạm của đời Nguơn-hạ.

Gắng công tu xem nhiều phép lạ,
Của Thần-Tiên trừ lũ hung-đồ.
Nào lụa là, lãnh nhiễu, tố sô,
Chớ ham mến mà sau lao-lý.

Ngày tiêu-diệt từ năm Bính-Tý,
Ðến năm nay hao hớt đã nhiều.
Các ngoại bang đã nhuộm máu điều,
Sao trần-thế không toan chẳng liệu.

Ðể đến việc dang lưng mà chịu,
Chớ Phật đâu cứu kịp cho người.
Khuyên chúng-sanh bỏ tánh biếng lười,
Phải sốt-sắng làm ăn cần-thiết.

Nghèo với đói từ nay sẽ biết,
Hàng ngoại bang bố thiết ta hoài.
Nên bá-gia hãy rán miệt-mài
Dầu rách rưới cũng mau cần kiệm.

Lời ta dạy hãy nên suy-nghiệm,
Phải phá tan Ngũ-Uẩn trong mình.
Chữ Tham trong ý muốn mặc tình,
Rán định tánh trừ cho nó tuyệt.

Chữ gây-gổ là Sân hãy diệt,
Cho nó đừng thấp-thoáng trong lòng.
Thêm chữ Si thiệt quá lòng-dòng,
Nên tỉnh trí tìm nơi dụt tắt.

Chữ Nhơn Ngã cũng là quá gắt,
Ta chớ nên phân biệt với người.
Dẹp năm tên được mới mừng cười,
Vô pháp-tướng mới là thiệt tướng.

Người tu hành phải trừ nghiệp-chướng,
Với bốn ma mới đặng an nhàn.
Tửu nhiễm vào thân thể bất an,
Sắc mến nó ngày kia lao khổ.

Ta nghiệm xét từ đời Bàn-Cổ,
Có ai dùng mà đặng thành Tiên.
Mà đời nay theo nó liên-miên,
Chữ Tài Của khổ riêng một kiếp.


Bị tội cướp nào ai có tiếp,
Mà đời nay nó cứ mãi làm.
Chữ Khí hùng khuyên chớ có ham,
Mà lao lý tấm thân trần-thế.

Kẻ nhứt dạ thường sanh bá kế,
Ðể gạt người làm thế cho mình.
Ngày sau nầy lắm nỗi tội tình,
Sao sanh-chúng chẳng lo cải sửa.


Bịnh ôn-dịch thường hay ói mửa,
Mà dương-trần chẳng chịu kiêng-dè.
Qua năm Dê đến lúc mùa hè,
Trong bá-tánh biết ai hữu chí.

 

Ta chịu lịnh Tây-Phương thọ ký,
Gìn Nghiệt-Long đặng cứu dương-trần.
Nên ra đời dạy-dỗ ân-cần,
Khuyên bá-tánh vạn dân liệu lấy.

Khổ với thãm ngày nay có mấy,
Sợ mai sau dòm thấy bay hồn.
Trừ tà-gian còn thiện chỉ tồn,
Cảnh sông máu núi xương tha-thiết.

Trần với thế bây giờ nào biết,
Chừng nhìn xem hư thiệt mới tường.
Ta bây giờ tu niệm tầm thường,
Sau danh thế xạ hương khắp chốn.

Nhà giàu có xài không sợ tốn,
Phải để tiền cho kẻ nghèo nàn.
Lo ăn xài trà rượu xình-xoàng,
Chừng khổ não phàn-nàn căn số.

Lời truyền sấm như bài toán đố,
Ai biết tầm thì đặng hưởng nhờ.
Ta khuyên tu dân cứ mãi ngờ,
Sợ gạt chúng kiếm xu kiếm cắt.

Bị ngoại quốc bán hàng quá gắt,
Nên dân ta chịu chữ cơ-hàn.
Ta Khùng Ðiên của cải chẳng màng,
Miễn lê-thứ được câu hạnh-phúc.

Cờ thế-giới ngày nay gần thúc,
Nên Phật Tiên phải xuống hồng-trần.
Chừng lao-xao ác thú non Tần,
Thì Nam-Quốc lương dân mới biết.

Nay dạy thế cậy cùng ngòi viết,
Với xác trần du-thuyết ít hàng.
Ai nói chi ta cũng chẳng màng,
Sau biết đặng dân đừng có tiếc.

Con phù du hẫng-hờ nào biết,
Thấy bóng đèn thì quyết chun vô.
Thảm thương thay chết héo chết khô,
Nhìn đèn nọ thấy mồ phù-dũ.

Kệ khuyên trần đã mãn mùa thu,
Ðeo danh lợi như con vật ấy.

Giống xe cát biển đông thường thấy,
Tên Dã-Tràng rất uổng công-trình.

Khi nước ròng nhờ lúc bình-minh,
Lúc nước lớn cát kia tan rã.

Trần phú-quí thì trần thong-thả,
Chớ còn ta cứ khổ lao hoài.

Viết kệ-cơ giảng dạy ít bài,
Mặc lê-thứ làm không tự ý.

Coi rồi phải nhận cho hiểu lý,
Câu huyền sâu của kẻ Khùng nầy.

Bởi chữ khùng của Phật của Thầy,
Chớ chẳng phải của người lãng-trí.

Mê với tỉnh nhận ra là lý,
Thấy dương-trần ngủ mãi ngủ hoài.

Thức dậy mà tầm đạo kiếm bài,
Ðể thi cử khỏi mang tiếng rớt.

Sách khuyến-thiện miệng kêu không ngớt,
Mà nào ai có thức dậy tầm.

Ta nghĩ suy cũng bắt hổ thầm,
Nên than thở cùng trần ít tiếng.

Tâm sáng suốt như đài nguyệt-kiến,
Tánh trong như nước bích mùa xuân.

 

Nếu không tu chừng khổ cũng ưng,
Ðừng có trách sao không chỉ bảo.

Từ nhỏ tuổi đến người trưởng lão,
Mắc trong vòng sanh tử luân hồi.

Xuống Diêm-Ðình thấy tội hỡi ôi!
Ðó mới biết có nơi địa-ngục.

Kỳ xả tội nay còn một lúc.
Sao chẳng tu đặng có hưởng nhờ.

Gặp giảng kinh trần cứ làm ngơ,
Trồng bông kiểng giống chi hưởng nấy.

Ðịa-ngục cũng tại tâm làm quấy,
Về thiên-đàng tâm ấy tạo ra.

Cái chữ Tâm mà Quỉ hay Ma,
Tiên hay Phật cũng là tại nó.

Tu với tỉnh biết làm chẳng khó,
Nếu lặng Tâm tỏ-ngộ Ðạo mầu.

Cảnh dương-gian muôn thảm ngàn sầu,
Ngó vạn vật đài lầu chẳng có.

Sông với núi trước kia mắt ngó,
Khi chết rồi thấy nó đặng nào.

Ai biết đường hãy sớm tẩu-đào,
Kiếm Ðạo-lý mà nhờ mà nhõi.

Chịu cay-đắng tu hành mới giỏi,
Ta thương đời len-lỏi xuống trần.

Ðạo vô-vi của Phật ân-cần,
Nối theo chí Thích-Ca ngày trước.

Câu phú-quí Ngài không màng-ước,
Chữ bồ-đề như cội bá-tòng.

Rán dưỡng nuôi chữ đó trong lòng,
Thì là được định chừng diệu-quả.

Lời thuyết-pháp chẳng vì nhơn-ngã,
Người nào đâu có Phật-tánh là.

Xem kệ nầy như ngọc như ngà,
Phải nảy nở như cơn mưa thuận.

Hạp mùa tiết giống kia bất luận,
Thảy mọc mầm trổ lá mới mầu.

 

Trông chúng sanh nghĩ tận đuôi đầu,
Về Cực-Lạc mới là hết khổ.

Ðạo với lý từ đây nhiều chỗ,
Phải lọc-lừa cho kỹ mà nhờ.

Chọn nơi nào đạo chánh phượng thờ,
Thì mới được thân sau cao-quí.

Nhìn Phật-Giáo mà tìm cái lý,
Coi tại sao ta phải tu hành.

Vì yêu dân Ta kể ngọn-ngành,
Khuyên lê-thứ làm lành mà tránh.

Cảnh Niết-Bàn là nơi cứu cánh,
Về chốn ni xa lánh hồng-trần.

 

Dầu không siêu cũng đặng về Thần,
Nhờ hai chữ trung-quân ái-quốc.

Chừng lập Hội biết ai còn mất,
Giờ chưa phân chưa biết chánh tà.

Ta vì vưng sắc lịnh Ngọc-Tòa,
Ðền Linh-Khứu sơn-trung chịu mạng.

Nền Ðạo-đức Ta bày quá cạn,
Mà dương-gian còn gạn danh từ.

Làm cho Ta lỡ khóc lỡ cười,
Khóc là khóc thương người ngu muội

Thấy Ðiên Khùng làm như sắt nguội,
Chẳng tranh đương nó lại khinh-khi.

Ngó về Tây niệm chữ từ-bi,
Cười trần-thế mê-si thái quá.

Tranh với luận đặng dành cơm cá.
Khuyến dụ người đặng kiếm bạc tiền.

Thấy chúng sanh ghét ngỏ ganh hiền,
Theo chế-nhạo những người tu tỉnh.

Tu không tu cũng không mời thỉnh,
Mặc tình ai trọng-kỉnh hay chê.

Thương lê-dân còn mảng say mê,
Chẳng tu tỉnh cho rành sương nắng.

Thấy ta lại nói cay nói đắng,
Ðắng với cay ta cũng chẳng màng.

Chừng trần-gian kiến thấy phụng-hoàng,
Sè cánh múa chào mừng Phật Thánh.

Thấy đạo-lý chớ nào thấy tánh,
Còn ẩn nơi tim óc xác phàm.

Ai biết tri việc phải cứ làm,
Sau mới biết ai phàm ai Thánh.

Ðức Lục-Tổ ít ai dám sánh,
Người dốt mà nói pháp quá rành.

Lựa làm chi cao chữ học hành,
Biết tỏ ngộ ấy là gặp Ðạo.

Việc cổ tích cần chi phải thạo,
Chuyện qua rồi kể lại làm gì.

Nếu ai mà biết chữ tu trì,
Tâm bình tịnh được thì phát huệ.

Ta yêu chúng viết ra Giảng Kệ,
Khuyên tăng-đồ cùng các tín-đồ.

Nghe cạn lời có mờ-hồ,
Tìm hiểu nghĩa làm theo đắc Ðạo.

Trần với thế nó hay kiêu-ngạo,
Các nhà sư hãy rán sửa mình.

Nếu xuất gia ngũ-giái rán gìn,
Tu chơn chánh mới không hổ tiếng.

Cả ngàn năm nhơn tâm xao-xuyến,
Sao tu hoài chẳng thấy ai thành.

Bởi chữ tu liền với chữ hành,
Hành bất chánh người đời mới nói.

Bị tăng chúng quá ham chùa ngói,
Nên tởi khuyên khắp chốn cùng làng.

Phật nào ham tượng cốt phết vàng,
Mà tăng tạo hao tiền bá-tánh.

Việc giả dối từ đây nên lánh,
Bổn-đạo ôi! Hãy rán sửa mình.

Cuộc dạy đời ta lắm công-trình,
Làm chẳng trọn uổng thay một kiếp.

Lời chơn-chánh trần hay bỏ liếp,
Mãi lo làm hung-hiếp người hiền.

Mà làm cho Ngọc-Ðế thảm phiền,
Muốn trừng-trị trần-gian thảm-thiết.

Ðức Phật-Tổ tâm Ngài nhứt quyết,
Tâu Ngọc-Hoàng để Phật dạy trần.

Nên ra Kinh, Cơ-Giảng nhiều lần,
Mà dương-thế chẳng cần xét đến.

Xác trần-tục như cây cạnh khến,
Làm hiền hoài ắt phải tiêu mòn.

Ðẽo với bào riết nó cũng tròn,
Ðến chừng đó trông vào rất tốt.

Lũ giả-dối thường hay thề-thốt,
Nó chẳng kiên Thần Thánh là gì.

Tâm kẻ hung làm chuyện cố-lỳ,
Chẳng có sợ mang điều tội phước.

Ghét những kẻ tu hành bốc-xước,
Miệng kêu gào chuyện phước bề ngoài.

Bước vào chùa thấy Phật lạy dài,
Lui khỏi cửa ra tay cấu-xé.

Thấy quyền quí nó hay dựa mé.
Ðặng bợ bưng những kẻ hung-sùng.

Ta thương đời nói những chuyện cùng,
Chẳng có vị có dung kẻ quấy.

Cuộc sám -hối vô chùa thường thấy,
Làm gian lừa biết mấy nhiêu lần.

Thấy dương-gian lường gạt Thánh Thần,
Mà chua xót cho đời Nguơn-Hạ.

Chữ tự hối nào ai có lạ,
Là ăn-năn cải-sửa tâm lành.

Phật chẳng qua dụng chữ tín-thành,
Chớ nào dụng Hương, Ðăng, Trà, Quả.

Làm chay đám tạo nhiều xá-mã,
Bay về Tây nói những chuyện gì?

Thấy chúng tăng làm chuyện quáy kỳ,
Ta khuyên mãi cũng không chịu bỏ.

Lời chơn-chánh hình như nói xỏ,
Mà không không nào có biếm đời.
Thấy lạc-lầm khuyên nhủ ít lời,
Chớ nào có ngạo chi tăng chúng.

 

Coi tâm kệ làm theo mới trúng,
Ðể lạc-lầm lắm bớ tăng-đồ.
Ðịnh tâm-thần như mặt nước hồ,
Suy với nghĩ, nghĩ suy đường lối.

Muốn niệm Phật chẳng cần sớm tối,
Ghi vào lòng sáu chữ Di-Ðà.
Thì hiền lương quên mất điều tà,
Ðặng hạnh-phúc nhờ lòng cố gắng.

Việc đạo-đức bất cần thối thắng,
Chữ tu hiền ngay thẳng lần hồi

Thấy Thiên-cơ khó nổi yên ngồi,
Thương lê-thứ tới hồi khổ-não.


Thầy lạc tớ không ai chỉ bảo,
Như vịt con dìu dắt nhờ gà.
Phải nghĩ suy cạn lẽ mới là,
Nay gặp gốc phải mau tìm gốc.

Ðể gặp Phật ngồi mà than khóc,
Gỡ làm sao hết rối mà về.
Mắt nhìn xem yêu quái bộn bề,
Bởi ác-đức nên không ai cứu.

Mang thủy ách hồi năm Ðinh-sửu,
Ðến năm nay tái lại một lần.
Khổ-ách nầy đặng thức-tỉnh trần,
Rằng thiên-định tuồng đời sắp hạ.

Trẻ nhỏ tuổi đời nầy lăng-mạ,
Bị văn-minh cám dỗ loài người.
Kể từ rày cười một khóc mười,
Kẻo chúng nó dể-ngươi Phật Thánh.


Ðạo Quỉ-Vương rất nhiều chi ngánh,
Khuyên dương-trần sớm tránh mới mầu.
Ðể ngày sau đến việc thảm-sầu,
Rán nghe kỹ lời ta mách trước.


Thuyền chúng nó thẳng buồm chạy lướt,
Lọt ngoài khơi mới hết hò khoan.
Tu mà ham cho được giàu sang,
Với quyền tước là tu dối thế.

Nhớ thuở trước vua Lương-Võ-Ðế,
Tạo chùa chiền khắp nước tu hành.
Ðến chừng sau ngã-tử Ðài-thành,
Phật bất cứu vì tâm còn ác.

Tu biết cách như đươn biết đát,
Ðươn đát rành đặng dựa Xe-Loan.
Ai biết nghe thì sớm liệu toan,
Ðể đến việc như người thất nghiệp.

Phải qui căn cùng nhau hội hiệp,
Rán mau chơn mới kịp Ðạo-mầu.
Sớm với chiều gắng chí nguyện-cầu,
Thì sẽ được Tòa-chương dựa kế.

Chúng-sanh thể như gà thất thế,
Phải nằm chờ tới nước bắt ra.
Thời-kỳ nầy nhiều quỉ cùng ma,
Trời mở cửa Quỉ-Vương xuống thế.

Nên Ta mới ra tay cứu-tế,
Kẻo chúng-sanh bịnh khổ quá chừng.
Sau Quỉ-Vương đi đứng nửa lừng,
Thêm tên tuổi chúng-sanh nó biết.


Làm đủ cách xuống lên tha-thiết,
Ở ngoài đường nó biết tên mình.
Tin cùng không thì cũng mặc tình,
Chớ Ta lắm công-trình dạy-dỗ.

Hồi thuở trước Thích-Ca Phật-Tổ,
Ngồi tham-thiền bị nó ghẹo hoài.
Mà cũng không rúng động đặng Ngài,
Nên cố oán phá đời mãi mãi.

Trong bổn-đạo cùng là sư vãi,
Rán bền lòng cho được hiền từ.
Hết khổ lao thì đến vui cười,
Chừng đó mới phỉ tình nguyện ước.

Bọn gái mới ra đường tha-thướt,
Bỏ hết trơn nề-nếp ông cha.
Khác tánh-tình người cổ nước ta,
Nên phải chịu đớn-đau đủ cách.


Trai với gái rán coi sử sách,
Ðứng trung thần với kẻ tiết-trinh.
Dọn bề trong mới gọi đẹp xinh,
Chớ mang lốt bề ngoài chẳng tốt.

Dạy chẳng đặng lòng như lửa đốt,
Khắp dương-gian chưa đặng ba phần.
Kể từ nay Tiên, Phật, Thánh, Thần,
Lo dạy-dỗ dương-trần chẳng xiết.

Ðức Thượng-Ðế dự đền Ngọc-Khuyết,
Nhìn dương-gian cũng luống thở dài.
Thấy chúng-sanh trau-trỉa mặt mày,
Chớ chẳng chịu trau tâm trỉa tánh.


Kẻ đói khó người sang hay lánh,
Bước lại gần chê lũ tanh-hôi.
Cõi Ta-bà Ta thấy hởi ôi!
Sầu bá-tánh quá nên kiêu-cách.


Người tàn-tật đui cùi đói-rách,
Ítt có ai để mắt nhìn vào.
Chuộng những người dù võng sắc màu,
Cậu với mợ, ông-thầy, cô-bác.

Thị kẻ khó như rơm như rác,
Ta quá rầu đài-các văn-minh.
Mấy ai mà giữ dạ sắt đinh,
Theo Tông-Tổ của mình thuở trước?

Ðầu với tóc áo quần láng-mướt,
Chử lanh khôn của quỉ của ma.
Chớ nó không có giống người ta,
Ma với quỉ sanh người hung ác.


Lo tập luyện những câu đờn hát,
Chớ chẳng lo dạy-dỗ ngu khờ.
Ðể cái tâm yên lặng như tờ,
Coi ta nói câu nào bất chánh?

Rán bắt chước làm theo Phật Thánh,
Nếu thiệt người thì biết thương người.
Thấy kẻ khờ quê dốt ngạo cười,
Nào có lấy lời chi chỉ bảo.


Ta thương xót lo tần lo tảo,
Chẳng thấy ai rể thảo dâu hiền.
Làm cho người Thượng-Cổ thêm phiền,
Rất đau xót cho nòi cho giống.


Biết chừng nào được qui nhứt thống,
Khắp hoàn-cầu dân biết thương nhau.
Nhắc ra thì dạ ngọc đớn-đau,
Không nhắc đến biết đâu dân sửa.

Cơm được chín ta nhờ có lửa,
Dân được vui nhờ lúc khải-hoàn.

Phật Như-Lai cho phép Khùng troàn,
Cho bổn-đạo khắp nơi đặng biết.

Ai chưởi mắng thì ta giả điếc,
Ðợi cho người hết giận ta khuyên.
Chữ nhẫn-hòa ta để đầu tiên,
Thì đâu có mang câu thù-oán.

Việc hung-ác hể vừa thấp-thoáng,
Chữ từ-bi ta diệt nó liền.
Sự oán-thù đáp lại chữ hiền,
Thì thù-oán tiêu-tan mất hết.

Chữ bạn tác dù cho đến chết,
Cũng keo sơn gắn chặt mới là.
Bước ra đường ăn nói thiệt-thà,
Dầu khôn-khéo cũng là giả dại.

Nếu tranh-đương ắt ta bị hại,
Thêm sa-cơ lại bị xích-xiềng.
Vì đời nay chúng nó dụng tiền,
Ít ai dụng chữ nhơn chữ nghĩa.

Theo học Ðạo mặc ai mai-mỉa,
Ta cũng đừng gây-gổ với người.
Ðược mấy điều thì đáng vàng mười,
Thiệt hiền-đức có ai mắng chưởi.

Xưa đức Thánh luận bàn cái lưỡi,
Ngài nói rằng các việc tại mầy.
Thuận với hòa hay ghét với rầy,
Cũng cái lưỡi làm thầy các việc.

Phải kiếm cách đặng ta trừ tuyệt,
Lấy tâm-thần làm chủ mới mầu.
Cũng chẳng nên theo tánh võ-hầu,
Thấy chẳng nói mà nhăn mà nhướng.

Hãy liệu sức chớ nên nói bướng,
Dầu việc chi liệu lượng mà làm.
Ðiên Khùng nầy chẳng có nói xàm,
Nói những chuyện từ-bi bác-ái.

Nếu bổn-đạo còn ai làm sái,
Coi kệ nầy mình sửa lấy mình.
Ta không tranh mà cũng không kình,
Cho bá-tánh gièm-pha thỏa chí.

Ai làm phước in ra mà thí,
Thì được nhiều hạnh-phúc sau nầy,
Chốn non xanh dạy-dỗ cáo-cầy,
Xuống trần-thế ra tay dắt chúng.


Tới với Ta chớ đem đồ cúng,
Chỉ đem theo hai chữ thành-lòng.
Chẳng có cần trà, quả, hương nồng,
Mong sanh-chúng từ-lòng hối-ngộ.

Kẻ xa-xuôi có lòng ái mộ,
Xem kệ nầy tu tỉnh tại nhà.
Ở ruộng đồng cũng niệm vậy mà,
Phật chẳng chấp chẳng nài thời khắc.


Chay bốn bữa ấy là quy-tắc,
Của kẻ Khùng chỉ dắt chúng-sanh.
Con Phật thì chẳng có khôn lanh,
Ðời văn-vật khôn ma khôn quỉ.

Lo trang-sức kim-thời huê mỹ,
Rồi phụ-phàng tục cổ nước nhà.
Trong tâm thì chứa chữ gian-tà,
Chớ chẳng chứa tấm lòng bác-ái.

Học chữ nghĩa cho thông cho thái,
Ðặng xuê-xang đài-các xe-tàu.
Tiếng chào mừng cửa miệng làm màu,
Trong tâm-ý mưu-mô đủ thế.

Ta còn mắc phiêu-lưu dương-thế,
Dạo Lục-Châu đặng cứu bá-gia.
Mặc tình ai xem kệ ngâm-nga,
Hay sửa đổi tùy lòng hưu-hỷ.

Thương sanh-chúng tỏ bày quá kỹ,
Hỡi dương-trần nên sớm quày đầu.
Ðặng sau xem Phật-pháp nhiệm-mầu,
Với báu-quí đài-lầu tươi tốt.

Xác ta vốn là người quê dốt,
Nên mở mang chưa được mấy rành.
Khắp dương-gian như sợi chỉ mành,
Mong bổn-đạo tâm thành trở lại.

Dầu cực khổ thân nầy chẳng nại,
Chẳng cần ai bái lạy khẩn-cầu.
Bỏ dị-đoan mới thấy đạo-mầu,
Bớt giả-dối gặp Người Thượng-Cổ.

Gốc thuở trước của Tông của Tổ,
Ðâu có bày dối-mị như vầy.
Những sấm truyền xưa của Phật Thầy,
Dân rán kiếm mà truy thì biết.

Xưa để lại nhiều câu thảm-thiết,
Mà nào ai có biết để lòng.
Chuyện Thiên-Cơ nói rất nảo nồng,
Câu hữu lý bá-tòng khó sánh.

Chốn tựu hội chớ nên léo hánh,
Vì lời xưa có dặn rạch-ròi.
Dân chớ nên phụ bạc giống nòi,
Mà lao-lý tấm thân vô ích.


Phải nhẫn-nhục chờ Người Cổ Tích,
Phật với Trời phân định cho ta.
Người xưa tuy ít chữ nôm-na,
Chớ chơn-chất người ta ngay thẳng.


Dạy bổn-đạo lấy câu trung đẳng,
Chẳng nói cao vì sắp rốt đời.
Ðấng nam-nhi ẩn-nhẫn tùy thời,
Vậy mới gọi khôn-ngoan hữu chí.

Ta ra sức viết câu huyền-bí,
Chúng dân ôi! Rán kiếm rán tầm.
Giống thú kia là loại sanh cầm,
Mà còn biết kiếm tầm đạo-đức.

Thú-vật biết tu hành náo-nức,
Còn người sao chẳng rứt hồng-trần?
Việc tu hành phải vẹn nghĩa ân,
Kinh với sấm chúng dân thường thấy.

Chữ Bát-Chánh rõ ràng trong giấy,
Là chơn truyền của Ðức Thích-Ca.

Người tu hành cần phải tìm ra,
Cho dân biết mục đầu Chánh-Kiến.

Trí linh-mẫn nhìn xem các chuyện,
Phải đừng cho lầm-lạc nẻo tà.
Dầu việc người hay việc của ta,
Nên phán-đoán cho tường cho tận.

Tội với phước xét coi nhiều bận,
Mới khỏi lầm tà-kiến đem vào.
Chánh Tư-Duy mục ấy thanh cao,
Hãy tưởng nhớ những điều đáng nhớ.

Trên cùng dười dầu thầy hay tớ,
Cũng tưởng điều trung-chánh mới mầu.
Việc vui say mèo-mả đâu đâu,
Hãy dẹp gát nhớ câu Lục-Tự.

Câu Chánh-Nghiệp cũng là quá bự,
Dấu nghề chi làm việc ngay đường.
Ta đừng nên theo kẻ bất lương,
Học ngôn xảo để lừa đồng loại.

Chánh Tinh-Tấn dầu thành hay bại,
Cứ một đường tín-ngưỡng của mình.
Dầu cho ai phá rối đức tin,
Ta cũng cứ một đàng đi tới.


Mục Chánh-Mạng chúng-sanh ơi hỡi,
Cho hồn-linh cai-quản châu-thân.
Lấy chơn-nhơn dẹp tánh phàm-trần,
Mới có thể mong về Cực-Lạc.


Câu Chánh-Ngữ lòng son ghi tạc,
Tiếng luận bàn ngay ngắn tỏ tường.
Nói những điều đức-hạnh hiền-lương,
Chớ thêm bớt mà mang tội lỗi.

Việc tráo-chác ấy là nguồn cội,
Lời xảo ngôn do đó mà ra.
Kinh-nghiệm rồi Ta mới diễn ca,
Câu Chánh-Niệm thiết-tha nhiều nỗi.

Khi cầu nguyện đừng cho phạm lỗi,
Phải làm tròn các việc vẹn toàn.
Dân chớ nên làm bướng làm càn,
Trong lúc ấy niệm cho lấy có.

Mục Chánh-Ðịnh thiệt là rất khó,
Giữ tấm lòng bất động như như.
Cho hồn-linh yên-lặng an cư,
Thì mới được huờn-nguyên phản-bổn.

Tà với chánh còn đương trà-trộn,
Người muốn tu phải sớm lọc-lừa.
Tứ-Diệu-Ðề ai có mến ưa,
Thì Lão cũng kể sơ thêm nữa.

Chữ Tập-Ðề nay đà mở cửa,
Ðể đem vào khuôn-khổ người hiền.
Rán cực lòng một bước đầu tiên,
Sau mới được làm nên Phật Thánh.

Về Thượng-Giái cõi Tiên mới bảnh,
Ðến Diệt-Ðề trừ vật-dục xưa.
Cõi hồng-trần các việc mến ưa,
Sự giả tạm ta nên rứt bỏ.

Muốn tâm-tánh ngày kia sáng tỏ,
Thì Khổ-Ðề phải chịu nhọc-nhành.
Lòng dục tu thì phải thiệt-hành,
Chớ đừng có ham điều sung-sướng.

Ðức Phật-Tổ nào đâu hẹp lượng,
Chịu nhọc-nhằn mới rõ Ðạo-Ðề.
Thấy một đàng thẳng-bẳng mà mê,
Ôi chừng đó mới là mầu nhiệm.

Mùi đạo diệu chúng dân rán kiếm,
Trễ thời kỳ khó gặp đặng Ta.
Rồi hành luôn Bát-Nhẫn mới là,
Thì muôn việc đều an bá tuế.

Chữ thứ nhứt Nhẫn-Năng-Xử-Thế,
Là người hiền khó kiếm trong đời.
Lập thân danh tuần trải nơi nơi,
Chờ thời đại mới là khôn khéo.

Chữ Nhẫn-Giái trì tâm trong trẻo,
Khuyên dương-trần giữ phận làm đầu.
Nhẫn-Hương-Lân cùng khắp đâu đâu,
Trên cùng dưới đều hòa ý hỉ.

Nhẫn-Phụ-Mẫu gọi trang hiền sĩ,
Phận xướng tùy chồng vợ nhịn nhau.
Nhịn xóm chòm cô bác mới cao,
Nhẫn-Tâm nọ ngày ngày an-lạc.

Nhịn tất cả những người tuổi tác,
Nhẫn-Tánh lành yên-tịnh dài lâu.
Giữ một lòng hiền-hậu mới mầu,
Quanh năm cũng bảo toàn thân-thể.

Chữ Nhẫn-Ðức kể ra luôn thể,
Thì trong đời vạn sự bình an.
Chữ Nhẫn-Thành báu-quí hiển-vang,
Khắp bá-tánh được câu hòa nhã.

Câu đạo-đức bay mùi thơm lạ,
Muốn nếm thì phải rán sưu tầm.
Các đạo tà mưu khéo âm thầm,
Dân rán tránh kẻo lâm mà khổ.


Chúng nó xuống khuyên-răn nhiều chỗ,
Dùng phép mầu lòe mắt chúng-sanh.
Ai ham linh theo nó tập-tành,
Sa cạm-bẩy khó mong sống sót.

Ta chẳng phải dùng lời chuốt-ngót,
Mà làm cho dân-chúng say mê.
Nẽo chánh tà biện luận nhiều bề,
Cho bá-tánh tìm nơi cội-gốc.

Lựa cho phải kèo xưa danh mộc,
Ðừng để lầm thợ khéo sơn da.
Thì sau nầy đến lúc phong-ba,
Dông gió lớn cột kèo khỏi gãy.

Thấy sanh-chúng nhiều người khờ dại,
Chẳng biết gìn phong-hóa lễ-nghi.
Nên ta đem đạo đức duy-trì,
Gìn tục cổ để người chẳng rõ.

Còn chậm chạp Ðạo-mầu chưa tỏ,
Như rừng hoang mới dọn một đường

Tớ với Thầy nào quản thân lươn,
Muốn cứu thế sá chi bùn trịn.

Thương quá sức nên ta bịn-rịn,
Quyết độ đời cho đến chung thân.
Nếu thế-gian còn chốn mê tân,
Thì Ta chẳng an vui Cực-Lạc.

Dạy bổn-đạo lấy lời đích-xác,
Mà chẳng tu là bởi không ưa.
Chớ nước sâu mà bị gàu thưa,
Dân đông-đảo lời truyền chẳng xiết.

Nên phải tạm mượn cây ngòi viết,
Ðem Ðạo-mầu như hạn cho mưa.
Ðặng tố-trần tâm ý Người Xưa,
Chữ thậm thâm trong kinh Phât-Giáo.

Nền chơn-lý chúng chê rằng láo,
Mà nào Ta có lợi-dung ai.
Trong bá-gia nhiều ít lòng chay,
Ðể giữ trọn trong nền Phật-Pháp.

Gìn giới cấm sửa tâm ô-tạp,
Niệm Phật thì phải dẹp lòng tà.
Nhớ từ-bi hai chữ ngâm-nga,
Dầu làm lụng cũng là trì chí.

Chờ Thiên-Ðịa châu-nhi phục-thỉ,
Như đời xưa có gã Tử-Phòng.
Xem thời cơ người đã rõ thông,
Dùng tôi thiểu mà an bá-tánh.

Ðời vật-chất văn-minh tranh-cạnh,
Chữ lợi quyền giựt-giết lẫn nhau.
Ðộng lòng hiền chư Phật đớn đau,
Cho kinh sấm dạy răn trần-thế.

Nhìn thấy chuyện gạo châu củi quế,
Nghèo bạc vàng đạo-đức cũng nghèo.
Ta xuống trần nhằm lúc nạn eo,
Nên phải bị kẻ hung khinh-bỉ.

Vì bác-ái nên thân Cuồng-Sĩ,
Phải chịu điều khổ hạnh sâu-xa,
Mong cho đời gặp lúc khải-ca,
Trong bốn biển thái-bình mới toại.

Phật, Tiên, Thánh, lòng nhơn hà-hải,
Những ước-ao thế-giới hòa-bình.
Nên khuyên đời truyền-bá sử-kinh,
Cho sanh-chúng sửa mình trong sạch.

Giàu đổi bạn khinh-khi kẻ rách,
Là những câu trong sách Minh-Tâm.
Tánh kẻ sang đổi vợ nào lầm,
Thánh-nhơn để nhiều câu hữu-lý.

Có mấy kẻ ăn-năn xét kỹ?
Mãi ỷ tài chê bướng chê càn.
Thì ngày sau đừng có trách than,
Những tội lỗi của mình tạo lấy.

Bị háo-thắng việc người không thấy,
Rồi mảng lo gièm-siểm nhiều lời.
Vì vậy nên tình nghĩa xe lơi,
Ðâu gần-gũi mà tường diệu lý.

Trong Lục-Tỉnh ai là người trí,
Mau thức thời tìm Ðạo nhiệm-sâu.
Khuyên dân đừng chia áo rẽ bâu,
Phải hợp tác gieo trồng giống quí.

Coi rồi phải thân mình tự trị
Chẳng độ xong Phật khó dắt-dìu.
Thả thuyền Từ bến Giác nâng-niu,
Kẻ hiểu Ðạo mau mau bước xuống.

Việc trải qua như mây gió cuốn,
Nhìn cuộc đời ngày tháng thoi đưa.
Trời sáng ra kế lại thấy trưa,
Năm củ đó rồi qua năm mới.

Mười hai tháng mà còn mau tới,
Thì tuồng đời cũng chóng đổi thay.
Chữ phù-vân phú-quí nay mai,
Luân với chuyển dời qua đổi lại.

Cõi Ta-Bà mấy ai tồn tại,
Sống dư trăm như tuổi lão Bành.
Ðời Hạ-Nguơn hay chết tuổi xanh,
Như thuở trước Nhan-Hồi còn trẻ.

Miễn cho được ngày hai cơm tẻ,
Buổi bần hàn đặng có tu thân.
Nhờ ơn Trời ban-bố đức ân,
Xem chung cuộc Phong-Thần tại thế.

Xử những kẻ hung-hăng tồi-tệ,
Thưởng những người trung nghĩa vẹn toàn.
Ra Kệ nầy hai chữ bảo-an,
Cho trần-thế được tâm thanh-tịnh.

Ngọc báu quí ẩn trong Nam-đỉnh,
Muốn tìm kim đáy biển gắng công.
Thấy dân tình luống những ước mong,
Gặp giống tốt hãy mau cày cấy.

Ai có nói Ta là người quấy,
Ta cũng cam bụng chịu tiếng lời.
Tỏ ít câu cầu chúc cho đời,
Mong bá-tánh vạn dân giải-thoát.

 

***

 

2 Attachments

4a- Quyển IV-Giác Mê Tâm Kệ.doc
4b- Quyển IV-Giác Mê Tâm Kệ.pdf
Click here to Reply or Forward
Discuss and share knowledge with others at OPEN Forum, a community for small business owners.
Why this ad?Ads –
Categories: Sấm Giảng | Leave a comment

Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý – Quyển I

Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý – Quyển I

Inbox
x
Vu Nguyen
Nov 8 (3 days ago)

to bcc: me

Kính gởi quý đồng đạo, quý đạo hữu!

 

Để tiện việc lưu truyền giáo lý đạo, em cháu xin gởi đến quý vị những Sấm Giảng, Thi Văn… của Đức Thầy, theo trình tự những gì trong quyển “Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ”.

 

Để tiện việc nghiên cứu, tra khảo, phổ biến giáo lý đạo đến với đại chúng dưới nhiều hình thức, em cháu sẽ gởi đến quý vị dưới 3 dạng sau:kèm trong email, Microsoft Word và PDF.  Mong quý vị hoan hĩ tiếp nhận và niệm tình tha thứ cho tất cả những sai xót. 

 

Xin chân thành cảm tạ và mong đón nhận những ý kiến đóng góp trong tinh thần đạo pháp.  Cầu xin Hồng Ân Tam Bảo gia hộ cho quý vị cùng gia quyến vạn sự bình an.

 

Trân trọng,

 

Vũ Nguyễn

 

**************************************

Quyển I

Khuyên Người Đời Tu-Niệm

(912 câu)

Hạ-nguơn nay đã hết đời,
Phong-ba biến-chuyển đổi-dời gia-cang.
Năm Mèo Kỷ-Mão rõ ràng,
Khắp trong trần-hạ nhộn-nhàng xiết chi.
Ngồi buồn Ðiên tỏ một khi,
Bá gia khổ-não vậy thì từ đây.
Cơ trời thế cuộc đổi xây,
Ðiên mới theo Thầy xuống chốn phàm-gian.
Thấy đời ly-loạn bất an,
Khắp trong các nước nhộn-nhàng đao binh.
Kẻ thời phụ nghĩa bố-kình,
Người thời trung-hiếu chẳng gìn vẹn hai.
Nên Ðiên khuyên-nhủ bằng nay,
Xin trong lê-thứ ngày rày tỉnh tâm.
Cơ thâm thì họa diệt thâm,
Nào trong sách sử có lầm ở đâu.
Người khôn nghe nói càng rầu,
Người ngu nghe nói ngửa đầu cười reo.
Rồi sau sẽ thấy hùm beo,
Khắp trong bá-tánh hiểm nghèo đáng thương.
Ðiên nầy vưng lịnh Minh-Vương,
Với lịnh Phật đường đi xuống giảng dân.
Thấy trong bá-tánh phàm-trần,
Kẻ khinh người nhạo Thần Tiên quỉ tà.
Mặc ai bàn tán gần xa,
Quỉ của Phật Bà sai xuống cứu dân.
Kẻ xa thì mến đức-ân,
Làm cho người gần ganh-ghét khinh khi.
Nam mô, mô Phật từ-bi,
Miệng thì niệm Phật lòng thì tà-gian.
Khắp trong bá-tánh trần-hoàn,
Cùng hết xóm làng đều bỉ người Ðiên.
Ðiên nầy xưa cũng như ai,
Vào các ra đài tột bực giàu-sang.
Nghĩ suy danh-lợi chẳng màng,
Bèn lên ẩn-dật lâm-san tu trì.
Nhờ Trời may-mắn một khi,
Thẩn-thơ lại gặp Ðức Thầy Bửu-Sơn.
Cuối đầu Ðiên tỏ nguồn-cơn,
Ðộng lòng bác-ái ra ơn dạy truyền.
Thấy Ðiên tâm tánh quá thiềng,
Nội trong sáu khắc biết liền Thiên-cơ.
Chuyện nầy thôi nói sơ sơ,
Ðể rộng thì giờ nói chuyện chơn tu.
Dương-trần kẻ trí người ngu,
Ham võng ham dù danh-lợi xuê-xang.
Cờ đà đến nước bất an,
Chẳng lo tu niệm tham-gian làm gì.
Phật, Trời thương kẻ nhu-mì,
Trọng cha, yêu Chúa kính vì tổ-tông.
Ngồi buồn nói chuyện bông-lông,
Khắp trong trần-hạ máu hồng nhuộm rơi.
Chừng nào mới đặng thảnh-thơi,
Dậu Phật ra đời thế-giới bình yên.
Ðiên nầy Ðiên của Thần-Tiên,
Ở trên Non-Núi xuống miền Lục-Châu.
Ðời còn chẳng có bao lâu,
Rán lo tu-niệm đặng chầu Phật-Tiên.
Thế-gian ít kẻ làm hiền,
Nhiều người tàn-bạo làm phiền Hóa-Công.
Thế-gian chuyện có nói không,
Ðến hội Mây-Rồng thân chẳng toàn thây.
Việc đời đến lúc cấn gay,
Mà cũng tối ngày nói xéo nói xiên.
Dương-trần tội ác liên-miên,
Sau xuống huỳnh-tuyền Ðịa-ngục khó ra.
Ðiên nầy nói chuyện gần xa,
Ðặng cho lê-thứ biết mà lo tu.
Tu cho qua cửa Diêm-phù,
Khỏi sa Ðịa-ngục ngao-du Thiên-đài.
Ðường đời chẳng có bao dai,
Nên viết một bài cho bá-tánh coi.
Tuồng đời như pháo châm ngòi,
Bá-gia yên-lặng mà coi Khùng nầy.
Khùng thời ba Tớ một Thầy,
Giảng-dạy dẫy-đầy rõ việc Thiên-cơ.
Ðiên đây còn dại còn khờ,
Yên lặng như tờ coi chúng làm sao.
Bá-gia kẻ thấp người cao,
Chừng thấy máu đào chúng mới chịu tu.
Bây giờ giả dại giả ngu,
Cũng như Nhơn-Quí ở tù ngày xưa.
Lúc nầy kẻ ghét người ưa,
Bị Ðiên nói bừa những việc vừa qua.
Dương-trần biếm nhẻ gần xa,
Nói quỉ nói tà đây cũng cam tâm.
Ngồi buồn nhớ chuyện xa xăm,
Dạo trong Bảy-Núi cười thầm sư-mang.
Nói rằng lòng chẳng ham sang,
Sao còn ham của thế-gian làm gì?
Việc nầy thôi quá lạ kỳ,
Cũng trong Phật-Giáo sao thì chê khen.
Lúc nầy tâm trí rối beng,
Tiếng quyển tiếng kèn mặc ý bá-gia.
Hết gần rồi lại tới xa,
Dân-sự nhà nhà bàn tán cười chơi.
Chuyện nầy cũng lắm tuyệt-vời,
Giả như Hàn-Tín đợi thời lòn trôn.
Ðến sau danh nổi như cồn,
Làm cho Hạng-Võ mất hồn mấy khi.
Chuyện xưa thanh-sử còn ghi,
Khen anh Hàn-Tín vậy thì mưu cao.
Chuyện đời phải có trước sau,
Ðiên Khùng khờ dại mà cao tu hành.
Bá-gia phải rán làm lành,
Niệm Phật cho rành đặng thấy Thần-Tiên.
Thương đời trong dạ chẳng yên,
Khắp trong lê-thứ thảm phiền từ đây.
Ngày nay thế-cuộc đổi xây,
Rán lo tu niệm đặng Thầy cứu cho.
Mảng theo danh-lơi ốm-o,
Sẳn của hét hò đứa ở người ăn.
Ðừng khi nhà lá một căn,
Mà biết niệm Phật sau bằng bạc muôn.
Giàu sang như nước trên nguồn,
Gặp cơn mưa lớn nó tuôn một giờ.
Cửu-Huyền Thất-Tổ chẳng thờ,
Ðể thờ những Ðạo ngọn cờ trắng phau.
Dương-trần bụng dạ nhiều màu,
Thấy cảnh bên Tàu sao chẳng nghĩ suy.
Lời xưa người cổ còn ghi,
Những việc lạ kỳ nay có hay chưa?
Chưa là với kẻ chẳng ưa,
Chớ người tâm đạo biết thừa tới đâu.
Bá-gia mau kíp lo âu,
Ðể sau đối đầu chẳng đặng toàn thây.
Việc đời nói riết thêm nhây,
Nếu muốn làm Thầy phải khổ phải lao.
Mèo kêu bá-tánh lao-xao,
Ðến chừng rồng rắn máu đào chỉn ghê.
Con ngựa lại đá con dê,
Khắp trong trần-hạ nhiều bề gian-lao.
Khỉ kia cũng bị xáo-xào,
Canh khuya gà gáy máu đào mới ngưng.
Nói ra nước mắt rưng-rưng,
Ðiên biểu dân đừng làm dữ làm hung.
Việc đời nói chẳng có cùng,
Ðến sau mới biết đây dùng kế hay.
Bây giờ mắc việc tà tây,
Nên mới làm vầy cho khỏi ngại-nghi.
Thiên-cơ số mạng biết tri,
Mà sao chẳng chịu chạy đi cho rồi?
Những người giả đạo bồi-hồi,
Còn chi linh-thính mà ngồi mà nghe.
Việc đời như nước trong khe,
Nó tưởng đặt vè nói biếm người hung.
Ðiên nầy nối chí theo Khùng,
Như thể dây dùn đặng cứu bá-gia.
Sau nầy kẻ khóc người la,
Vài ba năm nữa biết mà tà-tinh.
Ðiên biết chẳng lẽ làm thinh,
Nói cho bá-tánh mặc tình nghe không.
Việc Ðiên, Ðiên xử chưa xong,
Lục-Châu chưa giáp mà lòng ủ-ê.
Người nghe đạo lý thì mê,
Kẻ lại nhún trề nói: Lão kiếm cơm.
Thấy nghèo coi thể rác-rơm,
Rồi sau mới biết rác-rơm của Trời.
Vì Ðiên chưa đến cái thời,
Nên còn ẩn dạng cho người cười chê.
Từ đây sắp đến thảm-thê,
Con lìa cha mẹ, vợ kia xa chồng.
Tới chừng đến việc ngóng-trông,
Trách rằng Trời Phật không lòng từ-bi.
Di-Ðà lục-tự rán ghi,
Niệm cho tà-quỉ vậy thì dang ra.
Khuyên đừng xài phí xa-hoa,

Ăn cần ở kiệm đặng mà lo tu.
Ðừng khinh những kẻ đui-mù,
Ðến sau sẽ khổ gấp mười mù-đui.
Ðời nay xét tới xem lui,
Chừng gặp tuổi Mùi bá-tánh biết thân.
Tu-hành sau được đức-ân,
Nhờ Trời ban bố cho gần Phật Tiên.
Nói ra trong dạ chẳng yên,
Ðiên gay chèo quế dạo miền Lục-Châu.
Tới đâu thì cũng như đâu,
Thêm thảm thêm sầu lòng dạ người xưa.
Bá-gia ai biết thì ưa,
Tôi chẳng nói thừa những việc Thiên-cơ.
Khi già lúc lại trẻ thơ,
Giả quê giả dốt khắp trong thị thiềng.
Ði nhiều càng thảm càng phiền,
Lên doi xuống vịnh nào yên thân Già.
Tay chèo miệng lại hát ca,
Ca cho bá-tánh biết đời loạn-ly.
A-Di-Ðà Phật từ-bi,
Ở bên Thiên-Trước chứng tri lòng nầy.
Từ ngày thọ giáo với Thầy,
Dẹp lòng vị-kỷ đầy lòng yêu dân.
Ngày nay chẳng kể tấm thân,
Miễn cho bá-tánh được gần Bồng-Lai.
Ðời nầy vốn một lời hai,
Khắp trong trần-hạ mấy ai tu trì.
Ðời nầy giành-giựt làm chi,
Tới việc ly-kỳ cũng thả trôi sông.
Thuyền đưa Tiên-cảnh Non-Bồng,
Mấy ai mà có thiềng lòng theo đây.
Cứ lo làm việc tà-tây,
Bắt ngưu bắt cầy đặng chúng làm ăn.
Chừng đau niệm Phật lăng-xăng,
Phật đâu chứng kịp lòng người ác-gian.
Thấy đời mê-muội lầm-than,
Ăn bạ nói càng tội-lỗi chỉn ghê.
Chữ tu không phải lời thề,
Mà không nhớ đến đặng kề Tiên-bang.
Nói nhiều trong dạ xốn-xang,
Cùng hết xóm làng tàn-ác nhiều hơn.
Thầy chùa như thể cây sơn,
Ngoài da coi chắc trong thời mối ăn.
Buồn thay cho lũ ác-tăng.
Làm điều dối thế cho hư đạo-mầu.
Di-Ðà Phật-Tổ thêm rầu,
Giận trong tăng-chúng sao lừa-dối dân.
Có thân chẳng liệu lấy thân,
Tu theo lối cũ mau gần Diêm-Vương.
Bá-gia lầm lạc đáng thương,
Nên trước Phật đường thọ lãnh dạy dân.
Dương trần nhiều kẻ ham sân,
Cứ theo biếm-nhẻ xa gần người Ðiên.
Lòng buồn mượn lấy bút nghiên,
Viết cho trần hạ bớt phiền lo tu.
Thương đời chớ chẳng kiếm xu,
Buồn cho bá-tánh hết mù tới đui.
Có chi mà gọi rằng vui,
Khắp trong bá-tánh gặp hồi gian lao.
Từ đây hay ốm hay đau,
Rán tu đem được Phật vào trong tâm.
Lời hiền nói rõ họa thâm,
Ðặng cho bá-tánh tỉnh tâm tu hành.
Ngày nay Ðiên mở đạo lành,
Khắp trong lê-thứ được rành đường tu.
Nay đà gần cuối mùa thu,
Hết ngu tới dại công-phu gần thành.
Xác trần đạo-lý chưa rành,
Mấy ai mà được lòng thành với Ðiên.
Ðiên nầy sẽ mở xích xiềng,
Dắt-dìu bá-tánh gần miền Tiên-bang.
Không ham danh-lợi giàu sang,
Mong cho bá-tánh được nhàn tấm thân.
Thường về chầu Phật tấu trần,
Cầu xin Phật-Tổ ban lần đức ơn.
Nay đà bày tỏ nguồn cơn,
Cho trong trần-hạ thiệt hơn tỏ tường.
Phật, Trời thấy khổ thời thương,
Muốn cho lê-thứ thường thường làm nhơn.
Ðừng ham tranh-đấu thiệt hơn,
Tu niệm chớ sờn uổng lắm dân ôi!
Hồng-trần biển khổ thấy rồi,
Rán tu nhơn-đạo cho tròn mới hay.
Ðừng ham nói đắng nói cay,
Cay đắng sau nầy đau đớn, sầu-bi.
Tu hành tâm trí rán trì,
Sau nầy sẽ thấy việc gì trên mây.
Ðừng làm tàn-ác ham gây,
Sẽ có người nầy cứu vớt giùm cho.
Dương-trần lắm chuyện đôi co,
Phải dẹp vị-kỷ mà lo tu hành.
Kệ kinh tưởng-niệm cho sành,
Ngày sau thấy Phật đành rành chẳng sai.
Lúc nầy thế-giới bi-ai,
Chẳng nói vắn dài Phật nọ tức tâm.
Mấy lời khuyên nhủ chẳng lầm,
Từ đây đạo hạnh được mầm thanh-cao.
Hồng-trần lao-khổ xiết bao,
Khuyên trong lê-thứ bước vào đường tu.
Xưa nay đạo-hạnh quá lu,
Ngày nay sáng tỏ đền bù ngày xưa.
Mặc tình kẻ ghét người ưa,
Ðiên chẳng nói thừa lại với thứ-dân.
Quan-trường miệng nói vang rân,
Mà tâm dính chặt hồng-trần bụi nhơ.
Buồn đời nên mới làm thơ,
Cũng còn tai lấp mắt ngơ mới kỳ.
Người đời lòng dạ bất tri,
Trông cho làm bịnh dị-kỳ nó coi.
Dương-gian chậu úp được voi,
Giấu đầu rồi lại cũng lòi sau đuôi.
Nói nhiều mà dạ chẳng nguôi,
Việc tu bá-tánh bắn lùi như tôm.
Tưởng Phật được lúc đầu hôm,
Ðêm khuya muốn giựt nồi cơm của người.
Thế-gian nhiều việc nực cười,
Tu-hành chẳng chịu, lo cười lo khinh.
Người già ham muốn gái xinh,
Ðến sau chẳng biết thân mình ra sao?
Xác thân cọp xé beo quào,
Còn người tàn bạo máu đào tuôn rơi.
Tu-hành hiền-đức thảnh-thơi,
Ngay cha thảo chúa Phật, Trời cứu cho.
Bá gia hãy rán mà lo,
Kiếm Lão Ðưa Ðò nói chuyện huyền cơ.
Bấy lâu chẳng biết làm thơ,
Nay viết ít tờ trần-hạ tỉnh tâm.
Ðến sau khổ hạnh khỏi lâm,
Nhờ công tu niệm âm-thầm quá hay.
Chừng nào chim nọ biếng bay,
Cá kia biếng lội khổ nầy mới yên.
Nhắc ra quá thảm quá phiền,
Bể khổ gần miền mà chẳng chịu tu.
Ngọn đèn chơn-lý hết lu,
Khắp trong lê-thứ ao tù từ đây.
Thấy trong thời-cuộc đổi xây,
Ðời nay trở lại khác nào đời Thương.
Nhắc ra thêm ghét Trụ-Vương,
Ham mê Ðắc-Kỷ là phường bội cha.
Hết gần Ðiên lại nói xa,
Nói cho bá-tánh biết mà người chi.
Lời lành khuyên hãy gắn ghi,
Dương-trần phải rán tu-trì sớm khuya.
Ðừng ham làm chức nắc-nia,
Ngày sau như khóa không chìa dân ôi!
Tu-hành như thể thả trôi,
Nay lở mai bồi chẳng có thiềng tâm.
Mưu sâu thì họa cũng thâm,
Ngày sau sẽ biết thú cầm chỉn ghê.
Hùm beo tây tượng bộn bề,
Lại thêm ác thú mãng-xà, rít to.
Bá-gia ai biết thì lo,
Gác tai gièm xiểm đôi co ít gì!
Hết đây rồi đến dị-kỳ,
Sưu cao thuế nặng vậy thì thiết tha.
Dân nay như thể không cha,
Chẳng ai dạy-dỗ thiệt là thảm-thương.
Thứ nầy đến thứ Minh-Vương,
Nơi chốn Phật-đường mặt ngọc ủ-ê.
Cám thương trần-hạ nhiều bề,
Bởi chưng tàn bạo khó kề Phật Tiên.
Chúng ham danh-lợi điền-viên,
Ngày sau đến việc lụy-phiền suốt canh.
Kệ-kinh tụng niệm đêm thanh,
Ấy là châu-ngọc để dành ngày sau.
Bây giờ chưa biết vàng thau,
Ðời sau kính trọng người cao tu hành.
Nam-mô miệng niệm lòng lành,
Bá gia phải rán biết rành đường tu.
Thương ai ham võng ham dù,
Cũng như những kẻ đui mù đi đêm.
Khuyên đời như vá múc thêm,
Mảng lo tranh đoạt thù-hềm với nhau.
Ðến chừng có ốm có đau,
Vang mồm niệm Phật, Phật nào chứng cho.
Dương-trần tiếng nhỏ tiếng to,
Nói ngỗng nói cò đây cũng làm thinh.
Tưởng rằng thân nó là vinh,
Chẳng lo tu niệm cứ ghình với Ðiên.
Nói ra trong dạ chẳng yên,
Bây giờ nói chuyện cởi thuyền khuyên dân.
Ðêm ngày chẳng nại tấm thân,
Nắng mưa chẳng quản tảo-tần ai hay.
Chừng sau đến hội Rồng-Mây,
Người đời mới biết Ðiên nầy là ai.
Lui thuyền chèo quế tay gay,
Thuyền đi nước ngược đến rày cù lao.
Xa xa chẳng biết làng nào,
Thiệt làng Long-Khánh ít người nào tu.

Tớ Thầy liền giả đui mù,
Bèn đi ca hát kiếm xu dương-trần.
Bá-gia tựu lại rần-rần,
Trong nửa ngày trần chẳng có đồng chi.
Nực cười trần-hạ một khi,
Ở một đêm thì sáng lại qua sông.
Bình-minh vừa buổi chợ đông,
Bày trò bán thuốc hát ròng đời nay.
Cho thiên-hạ tựu đông vầy,
Rồi mới ra bài hát việc Thiên-cơ.
Tới đây bá-tánh làm ngơ,
Buồn cho lê-thứ kịp giờ ra đi.
Lìa xa Hồng-Ngự một khi,
Thẳng đường trực-chỉ Ðiên đi Tân-Thành.
Tới đây ra mặt người rành,
Nói chuyện thiệt sành thông-lảu Ðạo nho.
Nhiều người xúm lại đôi co,
Chê lão đưa đò mà biết việc chi.
Thấy đời động tánh từ-bi,
Ðiên chẳng bắt tì còn mách việc xa.
Khoan khoan chơn nọ bước ra,
Giáp rạch Cả-Cái rồi ra ngoài vàm.
Ðoái nhìn mây nọ trắng lam,
Ðiên ra sức lực chèo chơi một giờ.
Xa nhìn sương bạc mờ mờ,
Tân-An làng nọ dân nhờ bắp khoai.
Giả người bán cá bằng nay,
Dân chúng ngày rày xúm lại mua đông.
Tới lui giá cả vừa xong,
Ðiên cũng bằng lòng cân đủ cho dân.
Có người chẳng chịu ngang cân,
Bỏ thêm chẳng bớt mấy lần không thôi.
Nực cười trần-hạ lắm ôi!
Giảng cho bá-tánh một hồi quá lâu.
Thân già thức suốt canh thâu,
Nói cho lê-thứ quày đầu mới thôi.
Nhiều người nghe hết phủi rồi,
Quày thuyền trở lại bồi-hồi sầu-bi.
Giả người tàn-tật một khi,
Xuống vàm kinh Xáng được thì chút vui.
Một người nhà lá hẩm hiu,
Mà biết đạo-lý mời Cùi lên chơi.
Bàn qua kim-cổ một hồi,
Cùi xuống giữa vời Châu-Ðốc thẳng xông.
Ðến nơi thiên-hạ còn đông,
Giả gái không chồng đi bán cau tươi.
Thấy dân ở chợ nực cười,
Xúm nhau trêu ghẹo đặng cười Gái Tơ.
Buồn đời lăng mạ ngẫn-ngơ,
Biến mất lên bờ liền giả cùi đui.
Phố phường nhiều kẻ tới lui,
Thấy kẻ Ðui Cùi chẳng muốn ngó ngang.
Ðời nay quý trọng người sang,
Giả ra gây lộn nói toàn tiếng Tây.
Tây, Nam, Chà, Chệt, chú, thầy,
Nó thấy làm vầy chẳng bắt ngại nghi.
Xuống thuyền quày quả một khi,
Chèo lên Vĩnh-Tế vô thì núi Sam.
Ði ngang chẳng ghé chùa am,
Xuôi dòng núi Sập đặng làm người ngu.
Xem qua đầu tóc u-xù,
Cũng như người tội ở tù mới ra.
Chèo ghe rao việc gần xa,
Bồng-lai Tiên-cảnh ai mà đi không?
Nhiều người tâm đạo ước mong,
Nếu tôi gặp được như rồng lên mây.
Ấy là tại lịnh Phương Tây,
Cho kẻ bạo tàn kiến thấy Thần Tiên.
Có người nói xéo nói xiên,
Chú muốn kiếm tiền nói gạt bá gia.
Thoáng nghe lời nói thiết tha,
Rưng rưng nước mắt chèo về Mặc-Dưng.
Tay chèo miệng cũng rao chừng,
Ðường đi Tiên cảnh ai từng biết chưa?
Khúc thời nhắc lại đời xưa,
Lúc chàng Lý-Phủ đổ thừa Trọng-Ngư.
Nhà anh có của tiền dư,
Sao chẳng hiền-từ thương-xót bá-gia?
Bây giờ gặp việc thiết-tha,
Bạc vàng có cứu anh mà hay không?
Hết tây Ðiên lại nói đông,
Có ai thức-tỉnh để lòng làm chi!
Mặc-Dưng mất dạng Từ-Bi,
Thuyền đi trở ngược về thì Vàm-Nao.
Dòm xem thiên-hạ lao-xao,
Không ghé nhà nào cũng gọi vài câu.
Con sông nước chảy vòng cầu,
Ngày sau có việc thãm sầu thiết-tha.
Chừng ấy nổi dậy phong-ba,
Có con nghiệt-thú nuốt mà người hung.
Ðến chừng thú ấy phục-tùng,
Bá-gia mới biết người Khùng là ai.
Bây giờ phải chịu tiếng tai,
Giảng Ðạo tối ngày mà chẳng ai nghe.
Ðời như màn nọ bằng the,
Hãy rán học vè của kẻ Khùng-Ðiên.
Khỏi vàm Ðiên mới quày thuyền,
Xuống miền Cao-Lãnh lại phiền lòng thêm.
Tới đây ca hát ban đêm,
Ai có thù hềm chửi mắng cũng cam.
Cho tiền cho bạc chẳng ham,
Quyết lòng dạy-dổ dương-trần mà thôi.
Nghe rồi thì cũng phủi rồi,
Nào ai có biết đây là người chi.
Trở về Phong-Mỹ một khi,
Thuyền đi một mạch tới thì Rạch-Chanh.
Ghe chèo khúc quẹo khúc quanh,
Ở đây có một người lành mà thôi.
Nhắc ra tâm trí bồi-hồi,
Khó đứng khôn ngồi thương xót bá-gia.
Kiến-Vàng làng nọ chẳng xa,
Kíp mau tới đó vậy mà thử coi.
Xứ nầy nhà cửa ít oi,
Mà trong dân sự nhiều người chơn tu.
Thấy người đói rách xin xu,
Ra tay cứu vớt đui mù chẳng chê.
Khỏi đây đến chổ bộn-bề,
Rõ ràng Bến-Lức đã kề bên ghe.
Giả Người Tàn Tật đón xe,
Rồi lại nói vè ròng việc Thiên-cơ.
Hết vè rồi lại nói thơ,
Làm cho bá-tánh ngẩn-ngơ trong lòng.
Thơ vè Ðiên đã nói xong,
Ði luôn Ba-Cụm kẻo lòng ước-mơ.
Tới đây dẹp hết vè thơ,
Giả Người Bán Mắm quá khờ quá quê.
Chợ nầy thiên-hạ bộn-bề,
Kẻ nhún người trề chê mắm chẳng ngon.
Bạn hàng tiếng nói quá dòn:
Giá nầy chẳng bán còn chờ chuyện chi?
Bưng thời kẻ níu người trì:
Ở đây không bán chị thì đi đâu?
Dứt lời rồi lại câu-mâu,
Mắng: con đĩ chó khéo hầu làm khôn!
Muốn làm cho có người đồn,
Biến mất xác hồn cho chúng chỉnh ghê.
Nói ra thêm thảm thêm thê,
Ông-Lãnh dựa kề giả bán Trầu Cau.
Bạn hàng xúm lại lao-xao:
Ông bán giá nào nói thử nghe coi?
Trầu thời kẻ móc người moi,
Còn cau bẻ giấu thấy lòi tánh tham.
Thấy già bán rẻ nó ham,
Bị thêm quê dốt nó làm thẳng tay.
Ghe người biến mất bằng nay.
Cho chúng biết tài của kẻ Thần Tiên.
Bến-Thành đến đó đậu liền,
Gặp hai thằng lính tra liền thế thân.
Tớ Thầy nói chuyện cân phân:
Mới lỡ một lần xin cậu thứ-tha.
Hai người tôi ở phương xa,
Bởi chưng khổ-não mới là nổi trôi.
Lính nghe vừa dứt tiếng rồi,
Khoát nạt một hồi rồi lại bắt giam.
Thấy đời trong dạ hết ham,
Ghe người biến mất coi làm chi đây.
Tức thời Ðiên giả làm thầy,
Ði coi đi bói khắp trong phố phường.
Có người tu niệm đáng thương,
Ðiên mới chỉ đường Tịnh-Ðộ Vãng-Sanh.
Dạo cùng khắp cả Sài-Thành,
Khi ca khi lý nói rành Thiên-cơ.
Bá-gia bá-tánh làm ngơ,
Tưởng như những kẻ nói thơ kiếm tiền.
Văn-minh trọng bạc trọng tiền,
Khôn-ngoan độc-ác làm phiền người xưa.
Mặc ai ghét ghét ưa ưa,
Chẳng dám nói bừa cho bá-tánh nghe.
Phiền-ba ngựa ngựa xe xe,
Ðiên giả người què Gia-Ðịnh thẳng xông.
Què nầy đường xá lảu-thông,
Khắp trong thiềng-thị rồi thì nhà-quê.
Kêu cơm bá tánh nghe ghê,
Thêm nói bộn-bề những việc về sau.
Dương-trần bàn tán thấp cao,
Chẳng biết người nào rõ việc tiên-tri.
Giã từ Gia-định một khi,
Thuyền loan trực chỉ đến thì Cần-Thơ.
Tới đây giả Kẻ Quá Khờ,
Vợ điên chồng lại đứng hờ một bên.
Phố phường xóm dưới đầu trên,
Cùng người đi chợ xúm nhau reo cười.
Thị-thiềng hiền-đức được mười,
Phần nhiều xúm lại chê cười người điên.
Vợ thời ca hát huyên-thiên,
Chồng chẳng có tiền lại quán xin cơm.
Bá-gia coi thể rác-rơm,
Ai cũng sẵn hờm đặng có ghẹo chơi.
Ðiên mà ca hát việc đời,

Với việc hiện thời khổ-nảo Âu-Châu.
Chạy cùng chẳng sót đâu đâu,
Lòng quá thảm-sầu lìa lại Vĩnh-Long.
Chợ quê giảng dạy đã xong,
Thuyền loan trực chỉ đến rày Bến-Tre.
Chợ nầy đậu tại Nhà-Bè,
Giả Chị Bán Chè dạo khắp các nơi.
Giọng rao rặt tiếng kim thời,
Rước rước mời mời anh chị mua ăn.
Trẻ già qua lại lăng-xăng,
Nói nói rằng rằng những việc bướm-ong.
Gánh chè bán hết vừa xong,
Ðiên cũng nói ròng chuyện khổ về sau.
Nói rồi chơn bước mau mau,
Lìa xa thiềng-thị đến thì thôn-quê.
Ði đâu cũng bị nhún trề,
Kẻ lại chưởi thề nói: lũ bá-vơ.
Thấy đời tai lấp mắt ngơ,
Lúc ở trên bờ khi lại đi ghe.
Dạo cùng khắp tỉnh Bến-Tre,
Ðủ bực thơ vè lìa lại Trà-Vinh.
Tới đây bày đặt hát kình,
Ðua nhau bán thuốc mặc tình nghe không.
Nói ra những chuyện bông-lông,
Trách trong lê-thứ không lòng từ-bi.
Gặp người đói khó khinh-khi,
Ðiền-viên sự sản ai thì làm cho.
Dạy rồi thuyền lại Mỹ-Tho,
Khuyên trong trần-hạ rán lo tu-trì.
Xưa nay không có mấy khi,
Dương-trần có Phật vậy thì xuống đây.
Chợ quê giáp hết thuyền quay,
Ði trở lộn về Ông-Chưởng giảng dân.
Quản chi nắng Sở mưa Tần,
Chèo xuôi chèo ngược mấy lần không thôi.
Thảm thương bá-tánh lắm ôi !
Bồng-Lai Tiên-cảnh rao rồi một khi.
Nếu ai rảnh việc thì đi,
Còn mắc nợ thì ở lại dương-gian.
Có người xưng hiệu ông Quan,
Tên thiệt Vân-Trường ở dưới dinh Ông.
Thấy đời cũng bắt động lòng,
Ghé vào tệ-xá thẳng xông lên nhà.
Mình người tu-niệm vậy mà,
Nói chi lớn tiếng người mà khinh-khi.
Người nhà cảm tạ một khi,
Cúng năm cắc bạc tiền đi Non Bồng.
Xuống thuyền xuôi nước thẳng xông,
Ghé nhà chủ Phối xem lòng Ðạo Ba.
Ngồi chơi đạo-lý bàn qua,
Mấy bà có biết lúa mà bay không?
Có người đạo-lý hơi thông,
Xin ông bày tỏ cho tôi hiểu rày.
Ðiên nghe liền mới tỏ bày:
Lúa bay về núi dành rày ngày sau.
Hỏi qua tu-niệm âm-hao,
Không biết câu nào trái ý Ðạo Ba.
Buồn đời Ðiên mới bước ra,
Tay gay chèo quế dạo thì khắp nơi.
Ði hoài chẳng có nghỉ ngơi,
Miệng cũng rao mời Tiên-cảnh Bồng-Lai.
Có người xuống bến bằng nay,
Mách chơi ít tiếng người rày mạng vong.
Nhà ngươi thiệt chẳng có lòng:
Ðòi đã hai lần sao chẳng chịu đi?
Thương đời ta luống sầu-bi,
Ðò đi tới chốn ăn thì bao nhiêu?
Ðiên rằng tôi chẳng ham nhiều,
Bao nhiêu tự ý cho nhiều chẳng ham.
Ðiên nầy bụng chẳng có tham,
Ghe đã chở đầy chật nứt trong mui.
Già đây cũng chở cầu vui,
Vậy chú hãy ngồi ngay chổ sau đây.
Thấy người lòng dạ tà-tây:
Thân tôi làm vầy ông chẳng cho vô?
Trong mui đã mát lại khô,
Tôi có đủ tiền mà trả cho ông.
Trong mui dòm thấy trống không,
Bước nhầu vào đó máu hồng trào ra.
Cho người hung bạo biết Ta,
Thuyền Người biến mất vậy mà còn chi.
Trở lên Chợ-Mới một khi,
Chèo lên chèo xuống vậy thì cũng rao.
Năm xưa đây có máu đào,
Mà nay chưa có người nào chơn tu.
Nào Ðiên có muốn kiếm xu,
Mà trong trần-hạ đui mù không hay.
Hỏi ông người ở đâu rày,
Trả lời rằng ở Non cày Vua Nghiêu.
Tới đây trong dạ buồn hiu,
Bỏ ghe Ðiên cũng đánh liều chưa thôi.
Giả ra một Kẻ Hàn Nồi,
Khắp trong hàng xóm đi rồi sạch trơn.
Tới đâu cũng tỏ thiệt hơn,
Nhà tôi vốn thiệt có đờn năm dây.
Tôi còn mắc cái nợ nầy,
Nên mới làm vầy cho giải quả-căn.
Nhà tôi đâu phải khó khăn,
Ðem theo trong xách bạc hằng tám mươi.
Nhiều người nghe nói reo cười,
Thân tôi lao-lý anh cười tôi chi?
Giã từ Chợ-Mới một khi,
Thuyền đi xuôi ngược đến thì Ba-Răng.
Ít ai biết được đạo hằng,
Ghé am thầy pháp nói rằng lở chơn.
Trước sau bày tỏ nguồn cơn,
Vì thương lê-thứ chi sờn lòng Ðây.
Có người lối xóm muốn gây,
Xin sáu trái bắp liền quày xuống ghe.
Ghe Ðiên vốn thiệt ghe be,
Mà lại Ðiên nhè nước ngược thẳng xông.
Ra oai thuyền chạy như dông,
Người nhà xuống bến trong lòng ngại nghi.
Ông nầy chẳng biết người chi,
Chèo quế vậy thì mạnh bạo quá tay.
Thần Tiên mà chẳng ai hay,
Cứ biếm nhẻ hoài buồn dạ Người Xưa.
Ðời nay mỏng tợ màn thưa,
Khuyên trong lê-thứ chẳng thừa một câu.
Thân nầy chẳng nệ mau lâu,
Miễn cho bá-tánh gặp chầu vinh-huê.
Thương trong trần-hạ thảm-thê,
Lao-khổ nhiều bề chớ chẳng còn vui.
Nhiều người nghèo khổ hẩm-hui,
Không đất cậm dùi mà chẳng ai thương.
Con thuyền đang lướt gió sương,
Bỗng nghe tiếng khóc tư-lương ai-hoài.
Có người ở xóm bằng nay,
Bị mất trộm rày đồ-đạc sạch trơn.
Du-thần bày tỏ nguồn cơn :
Rằng người nghèo-khó đương hờn phận duyên.
Ðiên nghe vội-vã quày thuyền,
Dùng khoa coi bói giải phiền phàm nhơn.
Coi rồi bày tỏ thiệt hơn,
Khuyên cô đừng giận đừng hờn làm chi.
Rồi đi dạo xóm một khi,
Ði lên nhà thì giã gạo mà chơi.
Vào nhà nói chuyện một hơi,
Gặp người bán thuốc cũng thời ghé vô:
– Mua một ve uống hỡi cô,
Uống vô bổ khỏe trị nhiều chứng phong.
Uống thì pha nước nóng trong,
Chớ đừng pha rượu nó hòng kỵ thai.
Hai thằng ở xóm bằng nay,
Nó nói ngày rày thuốc chẳng có hay.
Người cha đi lại thấy rầy:
– Thiệt mấy đứa nầy cải-cọ làm chi.
Bước ra nhà nọ một khi,
Ði lên đi xuống kiếm thì xe lôi.
Gặp xe chẳng có lên ngồi,
Chạy trước đi rồi ngừng lại chỗ kia.
Xóm nầy kẻ ghét người ưa,
Ghé vào nhà nọ nhổ bừa cái răng.
Nhổ rồi lui tới lăng-xăng,
Liền bước xuống thuyền Thầy Tớ thả trôi.
Vàm-Nao rày đã đến rồi,
Quày thuyền ghé lại bằng nay Chợ-Ðình.
Hát hai câu hát huê-tình,
Ðậu xem dân chúng Chợ-Ðình làm sao.
Sáng ngày chợ nhóm lao-xao,
Giả bận Ao Màu ai cũng dòm xem.
Mấy thằng trai trẻ thấy thèm,
Ðứng xa quanh-quẩn nói gièm với nhau.
Ðứa nầy nói để cho tao,
Ðứa kia xạo-xự áo màu quá ngon.
Nhắc ra động tấm lòng son,
Buồn cho lê-thứ sao còn ham vui.
Ở đây một buổi ghe lui,
Về trên Bảy-Núi ngùi-ngùi thương dân.
Thầy Trò chẳng nại tấm thân,
Rảo khắp Non Tần bận nữa thử coi.
Chơn tu thì quá ít-oi,
Nhiều người ẩn-sĩ quá lòi tánh tham.
Ði lần ra đến núi Sam,
Ðến nơi rảo khắp chùa am của người.
Dạy rồi bắt quá tức cười,
Thầy tu nhiều kẻ biếng lười quá tay.
Trẻ già biến hóa ai hay,
Dạo trong Bảy Núi chẳng nài công lao.
Rú rừng lúc thấp lúc cao,
Giả ra Nghèo-Khó vào nhiều am-vân.
Tu hành nhiều kẻ tham sân,
Làm sao cho đặng mau gần Phật-Tiên.
Ai ai cũng cứ ham tiền,
Ấy là đem sợi xích xiềng trói thân.
Lìa xa Bảy-Núi lần lần,
Xuống thuyền trực chỉ đến gần Hà-Tiên.
Ðến đây giả Kẻ Không Tiền,
Rảo khắp thị-thiềng xin-xỏ bá-gia

Ði rồi cũng quá thiết-tha,
Trở về non cũ đặng mà dạo chơi.
Non Tiên gió mát thảnh thơi,
Nhưng nhớ việc đời lụy ngọc nhỏ sa.
Xuống trần lúc hát lúc ca,
Mà trong lê-thứ có mà biết chi.
Nam-mô hai chữ từ-bi,
Trần-hạ nói gì đây cũng làm thinh.
Tu thời nhàn hạ thân mình,
Phần Ðiên khuyên nhủ mặc tình ghét ưa.
Thiên-cơ ai dám nói thừa,
Mà trong bá-tánh chẳng ưa Ðiên Khùng.
Xuống thuyền chèo quế thung-dung,
Ði dạy đủ chỗ khắp cùng thử coi.
Rạch-Giá chợ nọ thoi-loi,
Gần nơi ven biển cá mòi nhiều hơn.
Tới đây giả kẻ Có Cơn,
Khi say khi tỉnh lúc hờn số căn.
Dương-trần đi lại lăng-xăng,
Chê chê nhạo nhạo cười rằng quân điên.
Ở đâu mà tới thị-thiềng,
Lính chẳng bắt xiềng nó lại bót đi.
Lòng thương vì tánh từ-bi,
Dạy-dỗ chuyện cùng mà chẳng ai nghe.
Dạy rồi Ðiên lại xuống ghe,
Long-Xuyên, Sa-Ðéc nói ròng vè-thơ.
Vợ chồng nghèo khổ bơ-vơ.
Ở nơi giữa chợ lại khờ lại quê.
Buồn trong lê-thứ ủ-ê,
Sóc-Trăng chợ ấy thuyền kề đến nơi.
Ðến đâu thì cũng tả-tơi,
Nói rõ việc đời sắp khổ sắp lao.
Thị-thiềng thiên-hạ lao-xao,
Chẳng có người nào tu-niệm hiền-lương.
Thấy trong trần-hạ thảm thương,
Ðâu có biết đường chơn chánh mà đi.
Lìa xa đô-thị một khi,
Thuyền loan trực-chỉ đến thì Bạc-Liêu.
Chợ nầy tàn-ác quá nhiều,
Phố-phường dân Thổ dân Tiều nhiều hơn.
Ði cùng thành-thị ráo trơn,
Ca-Mau đến đó thiệt hơn tỏ bày.
Cho trong bá-tánh chợ nầy,
Rõ việc dẫy đầy lao lý về sau.
Ðường đi lao-khổ sá bao,
Miễn cho trần-hạ biết vào đường tu.
Tu hành đâu có tốn xu,
Mà sau thoát khỏi lao tù thế-gian.
Thầy Trò lắm cảnh gian-nan,
Chừng nào hết khổ mới an tấm lòng.
Ðằng-vân đến tỉnh Gò-Công,
Vì thương dân-thứ mới hòng đến đây.
Xưa kia bão-lụt tỉnh nầy,
Mà sau cảnh khổ xứ nầy nhiều hơn.
Yêu dân lòng nọ chẳng sờn,
Thầy hát Tớ đờn dạy cũng khắp nơi.
Khỏi đây Bà-Rịa tách vời,
Ðến đó vậy thời trời mới sáng ra.
Chợ nầy đông-đúc người ta
Nhiều đuông chà-là lại với nho tươi.
Ðến đây Thầy Tớ hóa mười,
Nói nói cười cười bán thuốc Sơn Ðông.
Ai ai đều cũng ngóng trông,
Coi lũ khách nầy hát thuật làm sao.
Hát mà trong bụng xáo-xào,
Nói chuyện bên Tàu máu đổ tuôn rơi.
Cả kêu dân-chúng hỡi ôi,
Sao không thức tỉnh việc đời gần bên.
Khổ đà đi đến như tên,
Rán lo tu niệm tìm nền vinh-hoa.
Vinh nầy của Ðức Phật Bà,
Của Ông Phật Tổ ban mà cho dân.
Tu cho nhàn toại tấm thân,
Ðừng làm tàn-ác xa lần Tiên bang.
Hát kêu bớ kẻ giàu sang,
Rán lo làm phước làm doan mới là.
Ðến lâm cảnh khổ có Ta,
Với lịnh Phật Bà cứu vớt giùm cho.
Tu hành phải rán trì mò,
Gặp Lão Ðưa Ðò đừng có khinh-khi.
Dạy rồi Thầy Tớ liền đi,
Biên-Hòa đến đó vậy thì xem qua.
Ðến đây dạy-dỗ gần xa,
Khuyên trong bá-tánh vậy mà tỉnh tâm.
Ngày nay gặp Bạn Tri-Âm.
Rán mà trì chí đặng tầm huyền-cơ.
Tân-an dạy-dỗ kịp giờ,
Chẳng dám chần chờ đi thẳng Tây-Ninh.
Tới đây vừa lúc bình-minh,
Ðiên ra sức giảng mặc tình nghe không.
Giảng rồi Dầu-Một thẳng xông,
Thiềng-thị giáp vòng thứ chót là đây.
Thương dân giảng dạy dẫy-đầy
Rảo khắp tối ngày chẳng có nghỉ chơn.
Nhiều người hung-ác quá chừng,
Không biết đời khổ lo mừng lo vui.
Nhắc ra dạ nọ nào nguôi,
Từ đây Lục-tỉnh đui cùi thiếu chi.
Nói mà trong dạ sầu-bi
Bá-gia chậm chậm khinh-khi Ðiên nầy.
Ðừng ham nói nọ nói nầy,
Lặng yên coi thử Ðiên nầy là ai.
Cảm thương Ông Lão Bán Khoai,
Vì yêu dân-chúng chẳng nài nắng mưa.
Câu nầy nhắc chuyện năm xưa,
Khuyên trong trần-hạ hãy chừa lòng tham.
Khùng thời quê ngụ núi Sam,
Còn Ðiên chẳng có chùa am dưới nầy.
Vua Nghiêu xưa mở đất cày,
Ngày nay nhường lại cảnh nầy cho Ðiên.
Xuống trần day-dỗ huyên-thiên,
Dạy rồi thì lại thảm-phiền nhiều hơn.
Cầu xin Phật-Tổ ra ơn,
Lời Ðiên khuyên nhủ như đờn Bá-Nha.
Thị-thiềng khắp hết gần xa,
Từ đây sắp đến quê nhà Ðiên đi.
Ðừng thấy ngu dại mà khi,
Thầy thì Huệ-Lựu, Tớ thì Huệ-Tâm.
Ðời cùng còn chẳng mấy năm,
Khắp trong các nước thây nằm bằng non.
Cha thì chẳng thấy mặt con,
Vợ thì chồng chẳng được còn tại gia.
Khuyên trong lê-thứ trẻ già,
Tu hành hiền đức Phật mà cứu cho.
Ấy là quý báu thơm tho,
Ðừng ham gây-gổ nhỏ to làm gì.
Con thì ăn ở nhu mì,
Học theo luân-lý kính vì mẹ cha.
Sau nầy sấu bắt hùm tha,
Xử người tàn-bạo vậy mà tại đây.
Ðời xưa quả-báo thì chầy,
Ðời nay quả-báo một giây nhãn tiền.
Dương-trần phải rán làm hiền,
Ðừng trọng bạc tiền bỏ nghĩa bỏ nhân.
Người hung phải sửa cái thân,
Từ đây có kẻ Du-Thần xét soi.
Chuyện người chớ móc chớ moi,
Hãy treo gương thiện mà soi lấy mình.
Ai thương ai ghét mặc tình,
Phận mình cứ giữ tâm mình cho ngay.
Ðiên đây vưng lịnh Phương Tây,
Hầu hạ bên Thầy đặng cứu bá-gia.
Thấy đời lòng dạ tây-tà,
Cứ theo chế nhạo cười mà người Ðiên.
Ngồi buồn kể chuyện huyên-thiên,
Chẳng có ham tiền cũng bị ghét vơ.
Viết cho bá-tánh ít tờ,
Ði làm ruộng rẫy bỏ hờ theo xem.
Thương người nghèo khổ lấm-lem,
Thấy cảnh sung-sướng nó thèm quá tay.
Ai mà biết đặng ngày mai,
Ngày nay yên-tịnh ngày mai thảm-sầu.
Từ rày gặp cảnh buồn rầu,
Cho người tàn-bạo cứng đầu khinh-khi.
Dương-trần nay đáng sầu-bi,
Nên Ðiên mới nói chuyện ni tỏ tường.
Ðêm ngày tưởng Phật cho thường,
Phải rán lo-lường kim-chỉ từ đây.
Thương đời Ðiên mới tỏ bày,
Dạy trong trần-hạ ngày rày rán nghe.
Ðừng khi nhà lá chòi tre,
Nhà săng cột lớn bù-xè hay ăn.
Lúc nầy Ðiên mắc lăng-xăng,
Dương-trần biết đặng đạo-hằng mới thôi.
Chẳng ham cúng kiếng chè xôi,
Phật Trời chẳng muốn điều tồi ấy đâu.
Muốn cho dân hiểu Ðạo-mầu,
Chớ không có muốn chùa lầu cho cao.
Bao nhiêu cũng biết vàng thau,
Dạy khôn trần-thế chớ nào dạy ngu.
Sáng ngày con chó sủa tru,
Chừng heo cắn ổ hiềm-thù mới yên.
Ðừng ham giành-giựt của tiền,
Người hung hay gọi kẻ hiền rằng ngu.
Nay Ðiên chỉ rõ đường tu,
Ấy là đủ việc tài bù cho dân.
Thôi thôi nói riết dần lân,
Tới đây cũng lần ngừng lại bút nghiên.

NAM-MÔ A-DI-ÐÀ PHẬT

BỬU châu công luyện chốn non Tần,
SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

 

2 attachments — Download all attachments (zipped for

  English (US)

)

1a- Quyển I – Khuyên Người Đời Tu Niệm.doc
123K   View   Download
1b- Quyển I – Khuyên Người Đời Tu Niệm.pdf
151K   View   Download
Sang Lephuoc
Nov 8 (3 days ago)

to mevantran200991giaccodoTantannguyen_pghhdieuchipham53AlexPhuongHenryhenryle888minhquang4429TonlawrenceLactannhanquatemplenhatquangquele1
TS. LêPhước Sang

Hội truởng HĐTSTƯ GH-PGHH
————————————————
12432 Euclid Street, Garden Grove, CA 92840
832-397-9813 & (714) 584-7778 (xin để lại message)
2 attachments — Download all attachments (zipped for

  English (US)

)

1a- Quyển I – Khuyên Người Đời Tu Niệm.doc
123K   View   Download
1b- Quyển I – Khuyên Người Đời Tu Niệm.pdf
151K   View   Download
Categories: Sấm Giảng | Leave a comment

Blog at WordPress.com.