Sinh Hoạt Tôn Giáo

PHÁI ĐOÀN NHÂN QUYỀN HOA KỲ TIẾP XÚC HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM

PHÁI ĐOÀN NHÂN QUYỀN HOA KỲ TIẾP XÚC HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM

PHÁI ĐOÀN NHÂN QUYỀN HOA KỲ TIẾP XÚC HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM

Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng

(Trái qua: Trợ lý Đặc biệt của Đại sứ Victoria Thoman, ông Lê Văn Sóc, HT Thích Không Tánh, Đại sứ Lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ David Saperstein, CTS Hứa Phi, MS Nguyễn Mạnh Hùng, Trưởng phòng Chính trị TLSQ Hoa Kỳ Charles Sellers, ông Lê Quang Hiển)

Vào lúc 15 giờ chiều ngày 12/05/2015, Đại sứ lưu động về Tự do tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ David Saperstein dẫn đầu cùng phái đoàn Nhân quyền Hoa Kỳ đã có cuộc gặp gỡ và tiếp xúc với Hội đồng Liên tôn Việt Nam (HĐLTVN) tại Dòng Chúa cứu thế (DCCT) số 38 Kỳ Đồng, quận 3, Sài Gòn. Phái đoàn Hoa Kỳ gồm có: Đại sứ Lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ David Saperstein, Trợ lý đặc biệt của Đại sứ Victoria Thoman, Trưởng phòng Chính trị Tổng LSQ Hoa Kỳ Charles Sellers. Phái đoàn HĐLTVN gồm có: Hòa thượng Thích Không Tánh đại diện Tăng đoàn GHPGVNTN, Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng đại diện hệ phái Tin lành tư gia độc lập, Chánh trị sự (CTS) Hứa Phi đại diện đạo Cao Đài chân truyền, Ông Lê Văn Sóc và ông Lê Quang Hiển đại diện Giáo hội Hòa Hảo thuần túy (PGHHTT).

Mở đầu cuộc tiếp xúc, ngài Saperstein giới thiệu các thành viên trong đoàn và nói rõ mục đích của buổi tiếp xúc là tìm hiểu về quyền tự do sinh hoạt tôn giáo tại Việt Nam và đặc biệt là các tôn giáo không được nhà nước công nhận. Sau đó các chức sắc tôn giáo tự giới thiệu về mình và trao đổi về tình hình sinh hoạt của tôn giáo mình với đoàn.

Hòa thượng (HT) Thích Không Tánh cảm ơn ngài Đại sứ lưu động và phái đoàn đã dành thời gian để tiếp xúc và lắng nghe ý kiến của các tôn giáo độc lập tại VN. HT cũng bày tỏ  rất tiếc là dịp này vì các Linh mục DCCT bận tĩnh tâm nên Công giáo vắng mặt mà chỉ có 4 tôn giáo tham gia tiếp xúc. HT thông báo các tôn giáo độc lập nói chung và GHPGVNTN nói riêng từ sau 30/4/1975 đến nay đều bị nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tước đoạt pháp lý, tài sản, đất đai, các cơ sở thờ tự của các tôn giáo thuần túy và lập ra các tổ chức tôn giáo “quốc doanh”. Cụ thể như GHPGVNTN bị tước đoạt gần hết các cơ sở thờ tự, hiện nay chỉ còn một số chùa và lượng phật tử thuần túy còn lại rất ít. Chùa Liên Trì luôn luôn bị an ninh canh gác, cô lập và ngăn cản gây khó khăn khi phát quà cứu tế cho quý anh em TPB/VNCH, các bệnh nhi ung bướu và dân oan. Việc nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam cam kết để được vào TPP là đánh lừa quốc tế. Thực tế họ cũng đã cam kết để được vào WTO và mới đây được làm thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ nhưng sau khi được vào họ vẫn tiếp tục đàn áp các tôn giáo độc lập, các tổ chức và những cá nhân đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền. Việc đàn áp càng ngày càng tàn nhẫn và tinh vi hơn như dùng côn đồ đập phá một số cơ sở thờ tự của giáo hội Mennonite độc lập và hành hung chức sắc tôn giáo, những nhà hoạt động dân chủ. Mới đây, chính quyền quận 2 đã đưa cho chùa Liên Trì quyết định và một thông báo nhằm cưỡng chiếm nhà, giải tỏa chùa Liên Trì. Họ báo cho phật tử biết sau khi Việt Nam được vào TPP thì sẽ cưỡng chế giải tỏa chùa.

Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng, cám ơn ngài Đại sứ Cố vấn đặc biệt cho TT Obama và phái đoàn đã quan tâm tới tình trạng nhân quyền Việt Nam và bớt chút thời gian tiếp xúc với HĐLTVN. MS trình bày về việc nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đặt ra những văn bản pháp luật trái với các Công ước quốc tế, vi phạm nghiêm trọng quyền con người nhằm bóp nghẹt và triệt tiêu các tôn giáo chân truyền độc lập. MS cũng trình bày chi tiết về các vụ việc công an và chính quyền địa phương dùng côn đồ tấn công, đập phá tan hoang hội thánh Mennonite Bến Cát, Bình Dương và hội thánh Chuồng Bò. Họ bắt bớ, hành hung, đánh đập các MS, có trường hợp phải nhập viện cấp cứu như MS Nguyễn Hồng Quang. Ngài Đại sứ rất quan tâm tới các trường hợp này và hỏi có bằng chứng gì chứng tỏ có sự hiện diện của công an không? Sau khi MS Hùng phân tích các chứng cứ và CTS Hứa Phi đưa ra hình ảnh chứng minh thì ngài Đại sứ chấp nhận và tỏ ra rất quan tâm. MS Hùng cũng trình bày về trường hợp MS Nguyễn Công Chính và MS Dương Kim Khải còn đang bị cầm tù và đặc biệt MS Chính bị phân biệt đối xử, bị hành hạ dã man trong tù cũng như đã bị kết án mấy năm rồi mà đến nay vẫn chưa được nhận bản án để kêu oan.

CTS Hứa Phi trình bày về việc nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam dùng các văn bản pháp luật như Pháplệnh Tín ngưỡng, Nghị định số 92 để áp đặt nhằm hạn chế quyền tự do tôn giáo. Nhà cầm quyền Cộng sảnVN đã thường xuyên trấn áp hội thánh Cao Đài từ năm 1979 đến nay. Ở An Khê, mỗi khi đồng đạo cúng lễ theo nghi thức tôn giáo chân truyền thì nhà cầm quyền cho công an đến canh giữ, hành hung. Tại huyện Nghĩa Hành, Quảng Ngãi mỗi khi đồng đạo làm lễ thượng tượng thờ Đức Chí tôn tại tư gia và sinh hoạt đạo sự thì công an đến giải tán. Ngày 07/5/2015, Hội đồng Liên tôn họp tại Đức Trọng, Lâm Đồng  cũng bị công an đến cấm cản thô bạo. Đặc biệt mới đây, chính quyền tỉnh Phú Yên kết hợp với Cao Đài “quốc doanh” lấy cớ giải tỏa mở rộng quốc lộ 1A để san bằng và cưỡng chiếm thánh thất Tuy An, tỉnh Phú Yên của các tín đồ chân truyền mà không đền bù, tái bố trí định cư.

Ông Lê Văn Sóc đại diện PGHHTT trình bày về việc công an, an ninh thường xuyên gây khó khăn, ngăn cản trong những ngày cúng giỗ của các tín đồ thuần túy. Đặc biệt là trong những dịp kỷ niệm ngày mất tích của Đức Huỳnh Giáo chủ thì tại nơi thờ phượng cũng như nhà riêng của các tín đồ đều bị công an, an ninh canh giữ cấm không cho ai ra vào trong nhiều ngày.

Ngài David Saperstein thay mặt phái đoàn cám ơn các chức sắc HĐLTVN đã dành thời gian cung cấp cho đoàn những thông tin rất quý giá. Ngài Saperstein cho biết các thông tin này sẽ được đưa vào  nội dung cuộc đàm phán thương uớc xuyên Thái Bình Dương (TPP) với Việt Nam. Hoa Kỳ mong muốn Việt Nam sẽ trả tự do cho một số tù nhân luơng tâm trong nay mai. TPP có thể đem lại cơ hội phát triển kinh tế cho Việt Nam trong khi Hoa Kỳ muốn thúc đẩy Hà nội cũng phải cải tiến các điều kiện nhân quyền trong nước. Sau đó ngài khẳng định: “Nếu Việt Nam được chấp thuận vào TPP thì sẽ có một hiệp định, với những cam kết cụ thể về cải thiện nhân quyền, đặc biệt về vấn đề quyền lao động và quyền lập hội. Tôi có thể khẳng định là chúng tôi sẽ giám sát việc Việt Nam thực thi các cam kết sau khi vào TPP, nếu hiệp định kia được ký kết. Nếu Việt Nam không thực hiện thì chính phủ Hoa Kỳ sẽ có biện pháp trừng phạt”.

Trước khi chia tay, ngài Saperstein Đề nghị các chức sắc HĐLTVN cùng ra phía trước Văn phòng Công lý và Hòa bình chụp hình lưu niệm. 

MS. N.M.H.

Tác giả gửi BVN

Advertisements
Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

Phật giáo Hoà Hảo trong và ngoài nước thống nhất phụng sự đạo pháp

Phật giáo Hoà Hảo trong và ngoài nước thống nhất phụng sự đạo pháp

Phật giáo Hoà Hảo trong và ngoài nước thống nhất phụng sự đạo pháp

Lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo Thuần Tuý ở Việt Nam và Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo ở Hoa Kỳ vừa thống nhất hợp thành một tổ chức để tương trợ nhau hành đạo.

Lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo Thuần Tuý ở Việt Nam và Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo ở Hoa Kỳ vừa thống nhất hợp thành một tổ chức để tương trợ nhau hành đạo.Lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo Thuần Tuý ở Việt Nam và Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo ở Hoa Kỳ vừa thống nhất hợp thành một tổ chức để tương trợ nhau hành đạo.

“Chúng tôi là Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội PGHH tại Hoa Kỳ và Giáo hội PGHH Thuần Túy tại Việt Nam đã thống nhất liên hiệp lại với danh xưng là Phật giáo Hoà Hảo Liên Hiệp Quốc Nội Và Hải Ngoại”, hai bên nói trong một tuyên cáo phát hành ngày 2-11.

Tuyên cáo do Cụ Hội trưởng Nguyễn Văn Điền của Giáo hội Trung ương PGHH Thuần Túy và cụ Hội trưởng Lê Phước Sang của Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo đồng ký tên.

Hai vị nói rằng tổ chức mới có mục đích “phát khai rực rỡ nền đại đạo PGHH, tương trợ lẫn nhau về công tác giáo sự giữa hai giáo hội”.

Hai nhà lãnh đạo cũng nói rằng việc hợp nhất hai giáo hội cũng nhằm chung tay đẩy mạnh công tác từ thiện, và bảo vệ đạo pháp, giải trừ pháp nạn.

“Xưa nay PGHH trong và ngoài nước chưa có một tổ chức chung để lên tiếng cho công cuộc đòi quyền tự do tôn giáo. Sự ra đời cùa tổ chức mới này là bước ngoặt lịch sử cho sự đoàn kết PGHH trong và ngoài nước”, ông Nguyễn Ngọc Tân, Tổng trưởng Vụ Truyền thông và Liên lạc của PGHH TT, nói với tintongiao.net.

Cụ Nguyễn Văn Điền chỉ ra những pháp nạn mà PGHH hiện đang đối mặt.

“Chính quyền dùng đường lối dưỡng nhi diệt nhi, tức dùng tôn giáo để diệt tôn giáo. Họ thành lập Giáo hội quốc doanh do đảng viên cán bộ về hưu lãnh đạo Giáo hội, dùng người không đạo lãnh đạo người có đạo, và chỉ định nhân sự khi bầu cử.

Tổ chức quốc doanh được phép mở các lớp giáo lý để nhồi sọ giới trẻ PGHH theo đường hướng của họ. Giáo lý PGHH không được in ấn đầy đủ, bị cắt xén những nội dung mà chính quyền cho là không có lợi cho họ”.

Trong khi đó, theo cụ, các tổ chức tôn giáo và tín đồ độc lập thường xuyên bị sách nhiễu đàn áp, bị ngăn cản thực hiện các nghi thức tôn giáo khi có tập trung nhiều người. Thậm chí còn bị hành hung bởi an ninh giả dạng côn đồ.

Cụ hội trưởng nói các cơ sở vật chất bị nhà nước tước đoạt từ năm 1975 đến nay vẫn chưa trả lại cho Giáo hội gồm 213 chùa chiền và tự viện, 452 hội quán, 2800 văn phòng, một trường đại học, một bệnh viện, và nhiều trường học phổ thông.

Cụ Nguyễn Văn Điền cho biết PGHH sắp tới sẽ đẩy mạnh truyền thông tình hình tôn giáo cho cộng đồng quốc tế biết, và vận động quốc tế gây sức ép chính phủ Việt Nam tôn trọng quyền tự do tôn giáo và nhân quyền trong nước.

Thực hiện: Minh Trí

1 bình luận

Tin khác

Bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố. Những trường yêu cầu được đánh dấu bởi *

Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

T À I   L I Ệ U PGHH

T À I   L I Ệ U

PHẬT GIÁO HOÀ HẢO THUẦN TUÝ
Kêu Gọi Cứu Trợ

Giáo Hội Trung Ương
Số 295/KG/
PHẬT GIÁO HOÀ HẢO
TƯ THUẦN TUÝ

LỜI KÊU GỌI CỨU TRỢ

Xuyên suốt hơn nữa thế kỷ (1945-2006) Phật Giáo Hoà Hảo (PGHH) luôn luôn là nạn nhân hàng đầu dưới búa rìu sắt máu của Cộng Sản Việt Nam (CSVN).

Năm 1947, Đức Huỳnh Phú Sổ, Giáo Chủ PGHH bị Việt Minh (VM) tức là CSVN ngày nay , ám hại một cách vô cùng hèn hạ tại làng Tân Phú (rạch Đốc Vàng hạ) nay thuộc tỉnh Đồng Tháp . . . và từ đó đến giờ, CSVN tiếp tục “tàn sát” PGHH trong mọi tình huống, trong mọi cơ hội có thể được, và trên một trăm ngàn cán bộ, nhân sĩ PGHH đã ngã gục dưới bàn tay sắt máu của CSVN.

Trong lịch sử bạo ác của CSVN đối với PGHH suốt 60 năm đó, tôi là một chứng nhân, đồng thời là một nạn nhân dưới búa rìu của CSVN. Năm 1945, tôi bị VM bắt lên án tử hình chờ ngày lên đoạn đầu đài vào ngày mồng 3 Tết năm Bính Tuất (1946) nhưng sáng sớm ngày 23 tháng chạp năm Ất Dậu (1945) quân xâm lược Pháp đổ bộ đánh chiếm Vàm Cống , Lấp Vò (nơi giam giữ tôi), VM bỏ chạy, anh em tín đồ PGHH phá khám cứu tôi.

Sau ngày 30-4-75, chiếm được Miền Nam, CSVN áp dụng một chính sách “tận diệt” PGHH một cách trắng trợn và dã man nhất trong lịch sử loài người.

Cho nên, dù trong chế độ VNCH, tôi đảm nhận nhiều chức vụ cao cấp , thừa điều kiện sang định cư ở Hoa Kỳ, nhưng tôi phải ở lại VN với 5 triệu tín hữu PGHH để cùng cộng đồng sinh tử, gian lao trước hiểm hoạ CS, vượt mọi cam go, dầu sôi lửa bỏng vào sống ra chết gìn giữ mối đạo PGHH.

Đậm nét nhất là từ 1995, tôi và Khối Tín đồ PGHH thuần tuý công khai tranh đấu đòi hỏi Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo thì CSVN thẳng tay trấn áp, khủng bố “tận diệt” PGHH bằng mọi thủ đoạn, âm mưu bất chấp công lý, lẻ phải, không còn gì là nhân tính.

Từ năm 2000 đến nay, đã có trên 30 cán bộ cốt cán của PGHH thuần tuý bị tù đày , khổ sai, có người phải bỏ mạng trong thời gian bị giam cầm và trên 50 gia đình PGHH thuần tuý bị nhà cầm quyền CSVN bao vây kinh tế một cách nghiệt ngã nhất, không làm ăn được gì cả, phải dần dần rơi vào cảnh khốn khổ nhất, nghèo đói nhất, sống vất vả qua ngày , nhất là những gia đình của những cán bộ đang bị cầm tù, những gia đình liệt sĩ đã hy sinh vì Đạo, ngày càng thêm.

Hoàn cảnh bi thảm này, không còn thể kéo dài hơn nữa, trong lúc Giáo Hội Trung Ương PGHH thuần tuý cũng không còn khả năng tiếp tục bảo trợ như từ trước đến giờ dù là trong giới hạn khiêm tốn.

Bởi các lẽ trên, nhân danh Giáo Hội Trung Ương PGHH thuần tuý, tôi thành khẩn tha thiết kêu gọi toàn thể đồng đạo PGHH, đồng hương cũng như chư vị Mạnh Thường Quân ở hải ngoại nhũ lòng từ tâm cứu giúp chúng tôi vượt qua hoàn cảnh khốn khó hiện thời.

Trong tinh thần lá lành đùm lá rách, miếng khi đói bằng gói khi no, Khối Tín đồ PGHH thuần tuý hoàn toàn tin tưởng vào những tấm lòng nhân ái, nghĩa đồng bào ruột thịt sẽ nhiệt tình cứu giúp chúng tôi trong cảnh khốn cùng.

Mọi sự giúp đỡ xin liên lạc theo địa chỉ :

1) Ông Nguyễn Văn Cội, Giáo Hội PGHH hải ngoại tại 1710, Overhill Road, Derwood, MD 20855 USA, ĐT: (408) 221-9564 hoặc (301) 520-9265.

2) Lê Thị Ngọc Lan, 13584, Freeport Road, San Diego CA 92129, ĐT: (858) 538-0704.

Nhơn danh Hội Trưởng Trung Ương Giáo Hội PGHH thuần tuý tại VN, tôi xin kính gởi đến toàn thể đồng đạo, đồng hương và chư vị Mạnh Thường Quân ở hải ngoại lời tri ân chân thành, sâu sắc nhất và lời chúc lành khang an và thịnh vượng của 5 triệu tín đồ PGHH chúng tôi.

Sàigòn, ngày 05 tháng 6 năm 2006. 
TM. Giáo Hội Trung Ương PGHH
Hội Trưởng
LÊ QUANG LIÊM

Giáo Hội Trung Ương
Số 325/KG/
PHẬT GIÁO HOÀ HẢO
TƯ THUẦN TUÝ

LỜI KÊU GỌI TỐI HẬU 

Cuộc tuyệt thực của 16 cư sĩ PGHH đã hết ngày thứ 9 đang lâm vào một tình huống nguy ngập.
 

Đã có đến 5 người ngất xỉu, riêng anh Nguyễn Văn Thì hiện đang hấp hối đã khẳng định
là sẽ tự thiêu.

Ông Nguyễn Văn Thơ đã nhiều lần yêu cầu với toán CA bao vây để cho Ông đem Nguyễn Văn Thì đến bệnh viện cấp cứu, nhưng bị từ chối.

Cụ Lê Quang Liêm đang ở Sàigòn, cách địa điểm tuyệt thực khoảng 200 cây số có yêu cầu với nhà cầm quyền CSVN để Cụ đến địa điểm tuyệt thực hầu khuyên ngăn những nạn nhân chấm dứt cuộc tuyệt thực và không được tự thiêu nhưng vẫn không được nhà cầm quyền chấp nhận. Hiện tượng trên biểu hiện chủ trương của nhà cầm quyền CSVN cố ý để toán tuyệt thực phải chết.

Bởi các lý lẽ trên, nhân danh Hội Trưởng Trung Ương Giáo Hội PGHH, tôi xin:

a)- Tố cáo trước dư luận quốc tế cái ác tàn của CSVN luôn chủ trương “tận diệt ” PGHH.

b)- Gởi lời kêu gọi tối hậu đến nhà cầm quyền CSVN phải tức khắc giải tỏa vòng vây để toán người tuyệt thực được tự do đưa những người đang nguy kịch tánh mạng đến bệnh viện để cấp cứu.

Trường hợp nhà cầm quyền CSVN vẫn siết vòng vây đối với 16 cư sĩ PGHH tuyệt thực để họ phải chết hay tự thiêu, thì nhà cầm quyền CSVN phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Sài Gòn, ngày 7 tháng 6 năm 2006 (18 giờ)
TM. Giáo Hội Trung Ương PGHH
Hội Trưởng
LÊ QUANG LIÊM

Giáo Hội Trung Ương
Số 329/KG/
PHẬT GIÁO HOÀ HẢO
TƯ THUẦN TUÝ

THÔNG BÁO KHẨN CẤP SỐ 6

Cuộc tuyệt thực của 16 cư sĩ PGHH đã bước vào ngày thứ 10 với những diễn biến trong một không gian hết sức phức tạp và thê thảm từng giờ từng phút.

Số người ngất xỉu càng giờ càng tăng với những điều uất hận dập dồn, với những bóng tử thần lãng vãng, với những cơn bức xúc ngập tràn, với những ngọn lữa hồng sắp bừng cháy. Bên ngoài CA vẫn dày đặc, sát khí đằng đằng với một vòng vây: “Nội bất xuất, ngoại bất nhập”.

Hai mươi bốn giờ trước đây, Thông Báo Khẩn Cấp số 5, Lời kêu Gọi Tối Hậu của cụ Lê Quang Liêm như những tiếng vang bi thảm, tha thiết kêu gọi cứu sống 16 người vô tội mà dư âm mãi mãi chưa tan theo bóng thời gian.

Nhưng . . . nhà cầm quyền CSVN vẫn khăng khăng không cho cụ Liêm được đến địa điểm tuyệt thực để khuyên ngăn những cuộc tự thiêu, chận đứng những hành động liều lĩnh vì quá bức xúc của những người tuyệt thực . . . và toán CA bao vây vẫn một mực từ chối hàng chục lần yêu cầu của Ông Nguyễn Văn Thơ xin được đem những nạn nhân ngất xỉu đến bệnh viện cấp cứu.

Trong lúc đó, cả vùng nhà Ông Thơ bị “phá sóng” không có cuộc liên lạc nào bằng điện thoại thực hiện được. Theo tin tức được biết, 8 giờ sáng ngày 08-06-2006 sẽ có cuộc tự thiêu. Cụ Lê Quang Liêm hết sức lo lắng bồn chồn cố gắng hết sức để liên lạc với toán tuyệt thực , mãi đến 3 giờ sáng ngày 08-06-2006, Cụ mới liên lạc được với toán tuyệt thực, Cụ Liêm tha thiết và nghiêm nghị yêu cầu không có một cuộc tự thiêu nào được xảy ra. Mọi người hãy bình tĩnh chờ sự can thiệp của bạn bè ở Hải Ngoại.

Đến 12 giờ (VN) ngày 08-06-2006, khi phổ biến bản thông báo này thì tình hình ở địa điểm tuyệt thực vẫn còn được yên tĩnh, chỉ có phía CA là luôn luôn rộn rịp.

Giáo Hội Trung Ương PGHH Thuần Túy tại VN tha thiết kêu gọi các chánh phủ, các Quốc Hội thế giới tự do, nhất là Chính Phủ và Quốc Hội Hoa Kỳ, đặc biệt là Tòa Đại Sứ Mỹ ở VN, tổ chức Ân Xá Quốc Tế, các Tổ Chức Nhân Quyền trên thế giới, các cơ quan truyền thông báo chí hải ngoại, các đoàn thể tôn giáo trong nước xin ban ơn, dùng mọi biện pháp có thể được KHẨN CẤP can thiệp với nhà cầm quyền CSVN để cứu sống 16 sinh mạng vô tội.

Sàigòn, ngày 08-06-2006 (12 giờ)
TM. Giáo Hội Trung Ương PGHH
Hội Trưởng
LÊ QUANG LIÊM

http://www.TDNgonLuan.com hoan nghênh ý kiến đóng góp của qúy vị độc giả. Xin email về: tdngonluan@yahoo.com hay type vào hộp Ý Kiến/Comment Box ở dưới đây và nhấn vào nút “Submit” để gởi đi. Trân trọng:

Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

PGHH chất vấn lãnh đạo VN về quyền tôn giáo, việc ám hại Đức Giáo Chủ và tài sản Giáo hội Bạn nghĩ gì về bài viết này?Posted by vu

PGHH chất vấn lãnh đạo VN về quyền tôn giáo, việc ám hại Đức Giáo Chủ và tài sản Giáo hội

PGHH chất vấn lãnh đạo VN về quyền tôn giáo, việc ám hại Đức Giáo Chủ và tài sản Giáo hội

VRNs (18.12.2013) – Sài Gòn – Hôm nay, ngày 18.12, tại Sài Gòn, Cụ Lê Quang Liêm, Hội trưởng Trung ương Phật giáo Hòa Hảo Thuần Túy (PGHH) đã gởi đến các vị lãnh đạo VN để chất vấn về những vấn đề sống còn của tôn giáo và những hành vi tiêu diệt PGHH xảy ra từ năm 1947, nhất là từ 1999 đến nay.
Kính gởi: -Ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam.
                -Ông Trương Tấn Sang, Chủ Tịch Nước CHXHCNVN.
                -Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng Chánh Phủ.
                -Ông Nguyễn Sinh Hùng, Chủ Tịch Quốc Hội CHXHCNVN.
Thưa Quý Ông,
13121804Tôi là Lê Quang Liêm, Hội Trưởng Giáo Hội Trung Ương Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy (PGHH TT) xin trân trọng trình báo với Quý Ông rõ: Ngày 27-12-2013 nhằm ngày 25 tháng 11 năm Quý Tỵ là Ngày Đản Sanh của Đức Huỳnh Phú Sổ, Giáo Chủ tôn giáo PGHH.

Nhắc đến Đức Huỳnh Phú Sổ chắc quý ông chưa quên rằng Ngài là vị Giáo Chủ của PGHH đã bị Việt Minh Cộng Sản các ông ám hại một cách đê hèn và tàn nhẫn tại Rạch Đốc Vàng  (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp) vào đêm 16-4-1947 (tức là 24 tháng 2 nhuần năm Đinh Hợi) .
Và . . .
Sau khi cưỡng chiếm được Miền Nam, từ 30-4-75 đến năm 1999 . . . Suốt 24 năm dài đằng đặc đó , đảng Cộng Sản các ông triệt để cấm tất cả sinh hoạt của PGHH từ giáo sự lớn như là lễ lộc, phổ thông giáo lý, nhóm họp, v.v. . . cho đến giáo sự nhỏ như là cúng bái thường nhật . . . Tín đồ PGHH không được tụ họp với nhau quá 3 người. Tất cả tài sản của Giáo Hội PGHH bị giới cầm quyền các ông cưỡng đoạt sạch sành sanh, không chừa một miếng ngói một viên gạch , toàn bộ có đến hàng ngàn tỷ bạc
Trong thời Pháp thuộc, dưới sự cai trị của ngoại bang dị chủng , PGHH cũng không bị khủng bố đàn áp, chà đạp trắng trợn tàn nhẫn như thời này của đảng Cộng Sản (CS)các ông, dù rằng thời đó Đức Huỳnh Giáo Chủ vẫn tích cực chủ trương chống Pháp
Mãi cho đến khi ông Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí Thư đảng CSVN nhận thấy quá thất nhân tâm trước chính sách cai trị của đảng CS, vừa bạo tàn, vừa tham nhủng với một bè cán bộ thối nát, nên phải tuyên bố “Đổi Mới”.
Nhân cơ hội này, sau khi bị ngồi tù 5 năm gọi là học tập cải tạo được trả tự do, với tư cách Hội Trưởng Giáo Hội PGHH Trung Ương, tôi chánh thức lên tiếng đòi hỏi tái phục hoạt Giáo Hội PGHH và được thế giới tự do quan tâm làm cho nhà cầm quyền CS các ông lo ngại nên từ năm 1999 phải cố dàn dựng một hệ thống PGHH tay sai để trám vào sự đòi hỏi chính đáng của chúng tôi trong phạm trù tự do tôn giáo thế giới .
Trước sự nguy tạo lập lờ gian manh này đã cho thấy rõ là đảng CSVN quyết tâm tiêu diệt PGHH..
 Vì sao ? ? ?
Phải chăng vì PGHH là một tôn giáo dân tộc, sinh ra từ lòng dân tộc và lớn lên trong khi thiêng sông núi của Tổ Quốc nên phải sống cùng dân tộc và Tổ Quốc và phải chết vì Tổ Quốc và Dân Tộc . . . sẽ là một chướng ngại to tát đối với đảng CSVN là một tập thể người trung thành với chủ thuyết tam vô: vô gia đình, vô Tổ Quốc và vô tôn giáo . . . đang quyết tâm xích hóa trọn vẹn đất nước VN ? ? ?
Thế là từ năm 1999 về sau, PGHH có 2 hệ thống Giáo hội: một là Giáo Hội PGHH Chính Thống do tôi (Lê Quang Liêm) lãnh đạo, tạm gọi là Giáo Hội PGHH Thuần Túy. . . hai là Ban Trị Sự Trung Ương do đảng CSVN dàn dựng được gọi là PGHH quốc doanh gồm đại đa số đảng viên CS cầm đầu.
Dù rằng cơ cấu tay sai đã được xuất hiện, nhưng sinh hoạt của PGHH, nói chung, vẫn bị kềm tỏa khá khắc nghiệt như là không được sử dụng Đạo kỳ , không được tổ chức những ngày lễ chánh, v.v. . .
Trước chính sách oái ăm này, PGHH Thuần Túy phải tiếp tục tranh đấu trong một thời gian ngắn nữa PGHH mới được:
-Sử dụng Đạo kỳ.
-Cử hành 2 ngày lễ chánh là Lễ Khai Đạo (18/5 âl) và ngày Lễ Đản Sanh Đức Huỳnh Giáo Chủ (25/11 âl) còn ngày lễ 25/2 âl là ngày lễ kỷ niệm Đức Huỳnh Giáo Chủ bị Việt Minh Cộng Sản ám hại vẫn bị triệt để CẤM, . . trong lúc ngày lễ 25/2 âl là ngày lễ vô cùng trọng hệ đối với 7 triệu tín đồ PGHH.
-Riêng về tài sản của Giáo Hội PGHH thì vẫn không được trả lại một viên gạch, một miếng ngói.
Thế là từ trước đến nay suốt 12 năm qua (1999-2012) Giáo Hội PGHH Thuần Túy chúng tôi, năm nào cũng như năm nào đều tổ chức kỷ niệm ngày lễ 25/11 âl này là ngày lễ được cho phép nhưng cũng đều bị nhà cầm quyền các ông dùng đủ mọi biện pháp có thể gọi là BẠO NGƯỢC, PHI CÔNG LÝ, PHI LUẬT PHÁP, VÔ NHÂN ĐẠO để ngăn trở.
Trong những cuộc khủng bố ngày lễ này, các ông đã sử dụng hàng ngàn công an, có cả bộ đội cơ giới, dùi cui, roi điện . . . có cả một toán xã hội đen (được mướn) trà trộn trong đám công an để khi nào cần sẽ thẳng tay đánh đập những tín đồ PGHH nào dám trực diện phản đối. . . Toán người “côn đồ” này sát khí đằng đằng ngăn chận các nẽo đường vào địa điểm hành lễ không cho một tín đồ nào vào dự lễ.
Tóm lại, không bút mực nào kể hết những chủ trương hành vi nghiệt ngã và tàn nhẫn của chế độ CHXHCNVN của quý ông đối với PGHH.
Nay nhân ngày Lễ Đản Sanh của Đức Huỳnh Giáo Chủ sắp đến (ngày 25/11 năm Quý Tỵ 2013) chúng tôi, những người tín đồ PGHH đang se thắt con tim nghĩ rằng: Ngày lễ 25/11 âl này , năm nay, nước CHXHCNVN đã là thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc có còn chủ trương trấn áp PGHH như những năm đã qua ? ? ?
Vì vậy,  với tư cách lãnh đạo Giáo Hội PGHH Thuần Túy, tôi yêu cầu quý ông:
-Nguyễn Phú Trọng.
-Trương Tấn Sang.
-Nguyễn Tấn Dũng.
-Nguyễn Sinh Hùng.
Là những nhân vật đang lãnh đạo đất nước VN giải đáp 3 điều chúng tôi nêu dưới đây để làm sáng tỏ trang sử đầy máu và nước mắt của 7 triệu công dân tín đồ PGHH đã trải dài qua nhiều năm tháng …
Thứ nhất: Giáo Hội PGHH Thuần Túy có quyền tổ chức mừng lễ Đản Sanh hay những ngày lễ chánh của tôn giáo PGHH hay không ? Trường hợp không có quyền . . . Tại sao? Còn trường hợp được quyền, . . thì tại sao suốt 12 năm qua (1999-2012) nhà cầm quyền VN luôn luôn ngăn trở với những biện pháp bạo tàn, phi công lý và vô nhân đạo ? ? ?
Thứ hai: Tại sao Việt Minh Cộng Sản quý ông quyết tâm ám hại đức Huỳnh Giáo Chủ cho bằng được? Điển hình qua 2 lần đẫm máu và nước mắt: Lần thứ nhất tại Sài Gòn đêm 9-9-45 do Trần Văn Giàu chủ mưu . . . lần thứ 2 tại ngọn rạch Đốc Vàng Hạ 9nay thuộc tỉnh Đồng Tháp) đêm 24-2 nhuần năm Đinh Hợi (1947) do Trần Văn Nguyên và Bửu Vinh chủ mưu . . .
Như vậy  Đức Huỳnh Giáo Chủ có tội gì ? ? ?
Phải chăng?
Vì tội không đành phụ nước non,
Phô bày tiết tháo tấm lòng son.
Ngăn phường sâu mọt lừa dân chúng,
Chẳng nại thân danh nỗi mất còn.
(Lời tự thán của Đức Huỳnh Giáo Chủ)
Thứ ba: Giáo Hội PGHH có tội gì mà đảng Cộng Sản quý ông cướp đoạt hết tài sản rồi bán lấy tiền , số tiền ấy đã làm gì? Bỏ túi ư? Nhất là ngôi nhà tại 114 Bùi Thị Xuân (Sài Gòn) là văn phòng Đại Diện của Giáo Hội Trung Ương PGHH, một nơi thanh tịnh trang nghiêm của tôn giáo, bổng nhiên công an của quý ông ào đến đứng gát cửa không cho một ai được vào, cả tôi là chủ ngôi nhà này vẫn không được vào . . . và nói rằng ngôi nhà này đã bị nhà nước quản lý , trong lúc tôi là sở hữu chủ không được thông báo gì hết.
Thế rồi . . . Nhà cầm quyền của quý ông trắng trợn cho tổ chức làm chổ chơi bida, bán đồ tạp nhạp, thậm chí tổ chức những ổ mãi dâm trá hình . . . ĐỂ LẤY TIỀN.
Thủ đoạn tham ô và tàn ác này sđã rõ ràng là đảng CSVN vừa tiêu diệt PGHH tận gốc, vừa để lấy tiền. . . rồi bây giờ nhà cầm quyền CS địa phương ngang nhiên cấp sổ hồng, sổ đỏ gì đó cho những người chiếm dụng bất hợp pháp.
Tất cả hành vi như vậy có đúng với câu: LÀM VIỆC THEO HIẾN PHÁP VÀ LUẬT PHÁP như đảng cộng sản quý ông từng rêu rao quảng cáo ? ? ?
Vả lại hiện nay, PGHH là một trong 4 tôn giáo lớn tại VN được quý ông thừa nhận có tư cách pháp nhân, tại sao lại bị tịch thu tài sản ? ? ?
Là người lãnh đạo đất nước, chắc quý ông cũng nhớ rằng mình có bổn phận phải giải đáp những thắc mắc hay phẫn uất của nhân dân, chứ không thể “NGỒI MÁT ĂN BÁT VÀNG” mắt lấp tai ngơ trước mọi lầm than khốn khổ của nhân dân mà tiếng kêu ca rên than đã thấu tận trời xanh.
Cầm bút viết mấy trang này cho quý ông , bổng nhiên tôi cảm thấy bàng hoàng chua xót khi viết tới mấy chữ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc.
Dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam với chế độ CHXHCN, nước VN đã độc lập ư? Độc lập sao mà mất biển, mất đảo, mất đất 6 tỉnh phía Bắc và bị khai thác beauxite Tây Nguyên?
Tự Do ư? Tự Do mà hằng triệu triệu người mất đất, mất nhà . . . hằng triệu triệu người bị tù tội oan ức không đủ khám để nhốt . . . Ai nói gì hay đòi gì dù thật chính đáng đến đâu mà trái với đường lối của đảng CSVN, nghịch ý với các ông lớn của đảng thì ngày nay không vào tù thì ngày mai cũng ở tù . . . v.v . . và v.v. . . Tất cả đó là HẠNH PHÚC ư ? ? ?
Tôi nghĩ dù sao các cấp lãnh đạo của đảng CSVN, các cấp chỉ huy Quân Đội Nhân Dân cũng còn ít nhiều dòng máu con Hồng cháu Lạc, quý ông ắt không quên những truyền thống vẻ vang của Tổ tiên : Hội Nghị Diên Hồng, những chiến công oanh liệt Bạch Đằng Giang, Đống Đa . . . mà tỉnh giấc Nam Kha . . . “QUAY LẠI ẮT THẤY BỜ”.
Kết luận: Chúng tôi trân trọng thông báo với quý ông:
Giáo Hội PGHH Thuần Túy cương quyết tổ chức mừng Đản Sanh của Đức Huỳnh Giáo Chủ vào ngày 25 tháng 11 năm Quý Tỵ nhằm ngày 27-12-2013 dù giới cầm quyền của quý ông không đồng ý và thẳng tay đàn áp như những năm đã qua, chúng tôi sẵn sàng đón chịu vì chúng tôi đã bị đẩy vào tận chân tường không còn đường để bước lui.
Chúng tôi xin nhắc cho quý ông nhớ đây là chúng tôi hành sử QUYỀN LÀM NGƯỜI  (chiếu Điều 18 của Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền) và hiện nay nước CHXHCNVN là thành viên Hội Đồn Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc. Mong quý ông thông cảm.
Trong trường hợp giới cầm quyền của quý ông vẫn theo thói cũ là khủng bố, đàn áp . . . chúng tôi trong ngày lễ 25-11 âl này thì chúng tôi sẽ làm tất cả những gì có thể làm được kể cả sự hy sinh mạng sống để cho QUYỀN LÀM NGƯỜI phải được tôn trọng trên đất nước VN thân yêu … và chính đảng CS và chế độ CHXHCNVN của quý ông tự phơi bày cái mặt thật là luôn luôn CHÀ ĐẠP NHÂN QUYỀN , phi nhân bất nghĩa . . . trước nhãn quan của thế giới văn minh.
Những trang giấy thô thiển này đến với quý ông là những giọt nước mắt cuối cùng của khối tín đồ PGHH.
Trân trọng,

Ngày 18 tháng 12 năm 2013
TM Giáo Hội PGHH Thuần Túy
Hội Trưởng Trung Ương

LÊ QUANG LIÊM

(Huyền Phong Cư Sĩ)
nguồn: http://chuacuuthenews.wordpress.com

Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

Bửu Sơn Kỳ Hương: “Hương thơm núi báu còn phong kín”

VĂN HÓA ONLINE – CỘNG ĐỒNG – THỨ TƯ 04 JULY 2017

 

Bửu Sơn Kỳ Hương: “Hương thơm núi báu còn phong kín”

 

image008

 

Lý Kiến Trúc

(bổ túc)

 

NAM CALIFORNIA 04/7/2017

 

Những vấn đề tìm hiểu về một giai đoạn lịch sử còn bao trùm bí ẩn:

 

1- Lai lịch thật và cũng là nghi án về ngài Đoàn Minh Hương (1807),  tên thật là Nguyễn Quang Mục con của Vua Quang Trung và Bà Ngọc Hân Công Chúa? Ngài là người khai sáng ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hương (1849) và viên tịch năm 1856 tại núi Sam. Châu Đốc. Dân gian xưng ngài là Đức Phật Thầy Tây An.

 

2- Trải qua bốn triều Vua: Vua Gia Long (lên ngôi năm 1802 – 1820), Vua Minh Mạng (1820-1841), Vua Thiệu Trị (1841-1847) và Vua Tự Đức (1847-1883); hai thời Tổng Đốc Trương Minh Giảng và Tổng Đốc Doãn Uẩn.

 

3- Bối cảnh miền Tây khi Vua Gia Long lên ngôi và các triều Vua kế tiếp, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương trải qua các giai đoạn này như thế nào?

 

4- Bối cảnh khai sáng giáo lý Tứ Ân – Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương trong giai đoạn bốn triều Vua và 2 thời Tổng đốc.

 

5- Lịch sử ra đời am cốc Tây An, chùa Tây An núi Sam và Tây An cổ tự Chợ Mới Long Xuyên.

 

6- Đức Phật Thầy Tây An viên tịch trong hoàn cảnh nào và những người nào đã chôn cất Đức Thầy ở sau am cốc? Khi chôn cất ngôi mộ không đắp cao không bia đá, có bị áp lực bời quan quân triều đình hay vì muốn có sự che dấu tông tích Đức Thầy?

 

7- Đức Thầy có để lại “di ngôn” không?

 

8- Vì sao mộ Đức Thầy không ở trong khuôn viên chùa Tây An mới? Mà trong khuôn viên chùa toàn bảo tháp của các nhà Sư “Phật giáo triều đình”?

 

9- Dưới thời Tổng đốc Trương Minh Giảng và Tổng đốc Doãn Uẩn, thời nào đạo BSKH hoạt động thong dong hơn?

 

10- Các lần trùng tu chùa Tây An núi Sam và chính quyền hiện nay có ý định phục hồi lại đạo Bửu Sơn Kỳ Hương bằng cách mở một đại hội Long Hoa vinh danh Đức Thầy tại chùa Tây An núi Sam hay không? Có nên đổi tên chùa Tây An thành chùa Bửu Sơn Kỳ Hương?

 

11- Nên mở ra các hội nghị khoa học hay một công án nghiên cứu về Đức Phật Thầy Tây An và đạo Bửu Sơn Kỳ Hương.

 

12- Mối liên quan mật thiết giữa đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và đạo Phật giáo Hòa Hảo xuyên qua giáo lý Tứ Ân?

 

13- Sự khác biệt giữa đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và đạo PGHH về ban thờ và nghi lễ thờ cúng?

 

14- Khai mở Hội đồng Trị sự Bửu Sơn Kỳ Hương trong nước và hải ngoại.

 

15- Có nên dựng tượng Đức Phật Thầy Bửu Sơn Kỳ Hương ở chùa Tây An núi Sam hoặc trong chánh điện Tây An cổ tự ở Chợ mới.

 

16- Có nên mở đại hội Long Hoa đạo Bửu Sơn Kỳ Hương trong nước và hải ngoại.

 

17 – Vì sao có sự phụng thờ Hoàng đế Quang Trung và Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân của tín đồ BSKH?

 

18 – Sự “tái sinh” của Hoàng tử Nguyễn Quang Đức (con của Vua Quang Trung và Ngọc Hân) vào Nguyễn Quang Mục là tên họ thật của Đức Phật Thầy Tây An?

 

19- Sự “tái sinh” của Đức Phật Thầy Tây An vào Huỳnh Phú Sổ tức Đức Huỳnh Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo 113 năm sau?

 

20 – Oan oan tương báo – Sự trả thù siêu nhiên của linh hồn Vua Quang Trung và Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân đối với triều đình hoàng tộc Nguyễn Ánh? (Xúi bẩy đào xới lăng mộ hiện nay).

 

Dưới đây là các bài mở đầu vài nét về “Những vấn đề tìm hiểu về một giai đoạn lịch sử còn bao trùm bí ẩn”; người viết xin mong mỏi nhận được sự đóng góp của các vị cao nhân tiền bối, các đạo sĩ, sơn nhân, để có đủ thuận duyên tiếp tục đề cập ở các bài viết sau. (LKT) 

 

image009

 

I. Vài nét về danh xưng Bửu Sơn Kỳ Hương

 

image010

Đức Phật Thầy Tây An 1(5/10 âm lịch,1807 – 12/8 âm lịch,1856). Ngài giáng sanh và hành đạo trải qua bốn đời Vua Gia Long (lên ngôi năm 1802 – 1820), Vua Minh Mạng (1820-1841), Vua Thiệu Trị (1841-1847) và Vua Tự Đức (1847-1883).

 

Nguyên ủy của danh xưng bốn chữ Bửu, Sơn, Kỳ, Hương có lẽ đã phát sanh từ thời ngài Đoàn Minh Hương giáng sanh đi rao giảng đạo Tứ Ân ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ.

 

Sau nhiều năm Ngài đi chữa bệnh cho dân chúng và hành đạo, dân gian với lòng tôn kính, giáo lý Tứ Ân đã trở thành đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Tông phái đạo Bửu Sơn Kỳ Hương gắn liền với vị Bồ Tát: Đức Phật Thầy Tây An.

 

Theo một tín đồ gần gũi với đạo BSKH trong nước, Ngài Đức Phật Thầy Tây An tên thật là Nguyễn Quang Mục, vì thời Vua Gia Long loạn lạc, thân mẫu Ngài đã đổi tên Ngài là Đoàn Minh Huyên và đổi cả tuổi thật Ngài tuổi con Kê thành Đinh Mão.

 

Nhưng trước hết, Bửu Sơn Kỳ Hương là tên gọi một vùng núi lớn mênh mông đột khởi ở miền đồng bằng châu thổ sông Cửu Long tây nam nước Việt, vùng núi kéo dài thuộc hai huyện Tri TônTịnh Biên, tỉnh An Giang. Tỉnh An giang giáp ranh Vương quốc Chân Lạp (tên xưa), nay ta gọi là xứ Cao Miên hay xứ Kampuchia hay Cambodia.

 

Theo truyền thuyết nơi địa danh linh kiệt tích tụ nhiều linh huyệt, vùng đất-núi miền Tây Nam này đã xuất hiện Đức Phật Thầy Tây An khai sáng đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, ngài đi chữa bệnh và ban phước lành cho người dân Nam Bộ (ngài sanh năm 1807 – 6 năm sau Vua Gia Long lên ngôi Hoàng Đế 1802, năm sanh này vẫn là một nghi vấn); 113 năm sau, lại giáng sanh Đức Huỳnh Giáo chủ đi chữa bệnh cho đồng bào (1920).

 

Chữ Bửu Sơn Kỳ Hương (BSKH) ý tả về ngọn núi hay vùng núi quý báu có hình dáng đẹp kỳ ảo sáng đêm, có mùi hương lạ lùng tỏa ra ngào ngạt. Ngày xưa, tương truyền ai cất công rảo bước lên vùng núi này đều ngửi thấy mùi hương phảng phất, quấn quít vào người như đưa hồn người vào cõi thiên tiên. Hình như con người sinh ra ở miền đất-núi này thấm dặm hương thơm vào máu huyết nên sinh ra đẹp đẽ, sáng láng, đôn hậu, giọng nói tựa như chim hót líu lo  trên núi.

 

Bốn chữ Bửu, Sơn, Kỳ, Hương, đẹp như một câu thơ: “Núi quý có mùi hương lạ lẫm, kết tinh từ thần thức Rồng Tiên”, nhưng Bửu Sơn Kỳ Hương là một sự kiện lịch sử của miến Tây Nam nước VIệt mà cho đến nay kho sử liệu và giới sử học vẫn còn chưa khám phá hết được “Hương thơm núi báu còn phong kín”.

 

Sinh mệnh con người thường sinh sôi này nở với địa linh, thiên nhiên hùng vĩ trác tuyệt.

 

Tả về vùng núi địa linh này, Cụ Hồ Biểu Chánh và Cụ Nguyễn Văn Hầu gọi vùng núi này Thất Sơn huyền bíhay là Thất Sơn mầu nhiệm.

 

Nói về con người, Nhà văn Sơn Nam viết: Có thể nói Phật Thầy Tây An là người thứ nhất báo hiệu và đánh thức người đời rằng thời kỳ Hạ ngươn sắp mãn để bước sang thời Thượng ngươn, tức là thời kỳ Đức Di-lặchạ sanh lập nên hội Long Hoa.

 

Nhưng khi ta đi tìm hiểu, Bửu Sơn Kỳ Hương có phải là tên của một ngọn núi trong vùng Bẩy núi (Thất Sơn) hay là danh gọi toàn vùng núi Thất Sơn thuộc tỉnh An Giang?

 

Trước tiên, Thất Sơn có các tên: Núi Két (Anh Vũ Sơn), Núi Dài Năm Giếng (Ngũ Hồ Sơn), Núi Tô (Phụng Hoàng Sơn), Núi Cấm (Thiên Cấm Sơn), Núi Dài (Ngọa Long Sơn), Núi Tượng (Liên Hoa Sơn) và Núi Nước (Thủy Đài Sơn). (* theo Vĩnh Thông – tạp chí Xưa Nay Hội khoa Học Lịch Sử VN). Trong Bẩy núi này, núi Cấm là ngọn cao nhất và tương truyền rằng núi rất linh thiêng.

 

Thất Sơn lại còn có tên khác như: núi Cô Tô, núi Dài Năm Giếng, núi Két, núi Samnúi Sậpnúi Trà Sưnúi Tượng ..

 

image011

Tượng Phật Di Lặc trên núi Cấm Thất Sơn.

 

Theo Gia Định Thành thông chí” (GĐTTC) của Trịnh Hoài Đức viết vào đời Vua Minh Mạng, khi đó đơn vị “trấn” chưa đổi thành “tỉnh”, An Giang bấy giờ còn gọi là trấn Vĩnh Thanh. Trịnh Hoài Đức kể tên ở trấn Vĩnh Thanh có 19 ngọn núi gồm núi Thoại Sơn, Bảo Sơn, Ba Thê, Tà Chiếu, Trà Nghinh, Tượng, Ca Âm, Nam Sư, Khê Lạp, Chút, Tà Biệt, Ba Xùi, Ất Giùm, Nam Vi, Đài Tốn, Chơn Giùm, Sâm Đăng, Đại Bà Đê, Tiểu Bà Đê.

 

Ngót trăm năm sau, trong “Đại Nam nhứt thống chí” (ĐNNTC) đời Tự Đức, kể ra được thêm một số núi mới mà trước kia chưa thống kê hết, tất cả được 23 núi. Trong ĐNNTC, tên gọi một số núi được “dân gian hóa” hơn và khái niệm Thất Sơn cũng bắt đầu xuất hiện từ đây. ĐNNTC kể gồm: Thoại Sơn, Ba Thê, Trà Chiếu, Trà Nghinh, Tượng, Tô, Cấm, Tụy, Ốc Nhẫm, Nam Vi, Tà Biệt, Nhân Hòa, Đài Tốn, Thị Vi, Ba Xôi, Ca Âm, Nam Sư, Khê Lạp, Ngất Sum, Chân Sum, Thâm Đăng, Đại Ba Đê, Tiểu Ba Đê. (*)

 

Thất Sơn là Bẩy ngọn núi cao nhất trong vùng núi của “trấn” Vĩnh Thanh tức là tỉnh An Giang. Cao nhất trong 7 ngọn núi đó là núi Cấm, dưới chân núi có hồ Thủy Liêm nước mát lạnh xanh trong vắt. (Người viết bài này có dịp đến tận nơi chiêm ngưỡng núi Cấm).

 

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu sau này thấy rằng trong Bẩy núi có ngọn không cao bằng các ngọn ở nơi khác, nhưng vẫn được liệt vào danh sách Thất Sơn màu nhiệm, phải chăng như Nhà văn Sơn Nam viết vì Thất Sơn có bẩy đại linh huyệt.

 

Như vậy, Bửu Sơn Kỳ Hương không hoàn toàn tả hay nói về một ngọn núi là nơi mà các thần nhân lập am lập cốc ở đó trước khi hạ giái cứu nhân độ thế? Hay BSKH là danh xưng chung gọi về vùng núi Thất Sơn?

 

Bửu Sơn Kỳ Hương là danh xưng truyền khẩu trong dân gian gọi chung về vùng núi Thất Sơn, bắt nguồn từ thời “Đạo” xuất hiện, là nơi xuất phát của Đức Phật Thầy Tây An và Đức Huỳnh Giáo Chủ khi hai Ngài đi rao giảng giáo lý và chữa bệnh cho dân chúng. Trong cuộc đời hành đạo, núi Sam và Thất Sơn là nơi hai Ngài thường đặt chân lui tới.

 

Bửu Sơn Kỳ Hương hay Thất Sơn là nơi thu hút những tín đồ đầu tiên của ngài Đoàn Minh Huyên mở thuyết Tận thế và hội Long Hoa để gom tín đồ ở các vùng xa xôi hẻo lánh về, là nơi họ có nơi tu tập yên tịnh nhằm xây dựng đời sống an lạc, vừa khai phá đất hoang để canh tác – một kiểu “doanh điền” của thời đại mới, hết sức tinh tế và khoa học. (*)

 

Theo nhà văn Sơn Nam thì thuyết Tận thế tức là “lật đổ vua quan nhà Nguyễn, sau này là lật đổ thực dân Pháp, bất chiến tự nhiên thành, với niềm lạc quan để chờ đợi, người dân hăng hái lo việc ruộng nương, đoàn kết để xây dựng xóm làng”. (*)

 

II. Vài nét về Đức Phật Thầy Tây An, Chùa Tây An núi Sam, Tây An cổ tự ở Chợ Mới

 

Theo chính sử, Ngài Đoàn Minh Huyên sinh ngày 15/10 âm lịch năm 1807 tại làng Tòng Sơn, (huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp). Ngài là người khai sáng đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, một vị chân tu đức cao, đạo trọng, một lòng yêu nước, thương dân, một thiền sư, một nhà cải cách xã hội dân sinh, một nhà chánh trị. Ngài viên tịch vào ngày 12/8 âm lịch năm 1856.

 

Một tài liệu không chắc chắn cho rằng vào năm 1849, Đức Thầy Đoàn Minh Hương lúc gần 40 tuổi đi giảng thuyết Tứ Ân, đó là: Ân tổ tiên cha mẹÂn đất nướcÂn Tam bảo và Ân đồng bào nhân loại. Tính ra cuộc đời sáng đạo, hành đạo của Ngài trải qua các đời Vua Gia Long (lên ngôi năm 1802 – 1820), Vua Minh Mạng (1820-1841), Vua Thiệu Trị (1841-1847) và Vua Tự Đức (1847-1883). Đây là một giai đọan lịch sử rất quan trọng trong quá trình hình thành đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và lai lịch của Đức Thầy.

 

image012

 

Chùa Tây An là một di tích lịch sử nhưng khi nghiên cứu về sự hình thành ngôi chùa này gặp phải nhiều yếu tố chính trị, tôn giáo xen vào trong bối cảnh thời bấy giờ.

 

Trước hết chùa Tây An và Tây An cổ tự là hai ngôi chùa tọa lạc ở hai vùng địa lý khác nhau. Chùa Tây An hiện nay là một ngôi chùa to lớn, lộng lẫy ở dưới chân núi Sam, nhưng nhân vật khởi nguồn tạo dựng ra hai ngôi chùa này là Đức Thầy Đoàn Minh Huyên.

 

Ảnh hưởng giáo lý Tứ Ân và tín đồ ngày càng đông đảo theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương đã tôn vinh Ngài Đoàn Minh Hương trở thành Giáo chủ tông phái đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, sau này ngài được xưng tụng thành Đức Phật Thầy Tây An do sự linh hiển của ngài.

 

Đức Phật Thầy Tây An được coi là Đệ nhất tổ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, nhị tổ là Phật Trùm, tam tổ là Phật Bửu Sơn, tứ tổ là Phật Sứ giả bán khoai và ngũ tổ là Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ.

 

Ít thấy tài liệu nói chính xác và đầy đủ về năm tháng ngày mà Đức Thầy chánh thức khai sáng ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, có lẽ khi Đức Thầy đi rao giảng một thời gian dài nên giáo lý Tứ Ân dần dần thấm sạu và lòng người dân Nam bộ nên riết trong quần chúng xã hội gọi là đạo Bửu Sơn Kỳ Hương; nhưng hiện nay, ngôi Tây An cổ tự ở huyện Chợ Mới được cho là di tích nơi Ngài Đoàn Minh Hương rao giảng đạo Bửu Sơn Kỳ Hương vào những năm tháng đầu tiên.

 

Chùa Tây An ở dước chân núi Sam và Tây An cổ tự ở Chợ Mới là hai địa chỉ khác nhau nhưng có sự liên hệ mật thiết trong cuộc đời hành đạo của Ngài Đoàn Minh Hương.

 

image013

Tây An cổ tự ở Chợ mới Long Xuyên.

 

Chùa Tây An tọa lạc dưới chân núi Sam và mộ phần của Ngài ở phía sau chùa. Hàng năm, hàng vạn tín đồ về hành hương, tế lế, chiêm bái mộ phần Đức Thầy. Chùa Tây An dưới chân núi Sam trở thành di tích tôn giáo quan trọng đối với tín đồ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và Phật tử do chùa được các nhà sư Phật giáo trụ trì.

 

Theo hai tác giả Vương Kim – Đào Hưng, “núi Sam được chọn để xây dựng chùa Tây An vì đây là một cao điểm chiến lược”. Nhưng hai tác giả không nói rõ ai là người chọn địa điểm này để khai hoang khởi công xây am, xây chùa.

 

Với độ cao 284 mét so với mặt nước biển, núi Sam không cao lắm cũng không thấp lắm. Ngày này người ta có thể lái xe gắn máy hoặc đi bộ vài tiếng lên đỉnh núi. (Người viết bài này có dịp lên chiêm bái núi Sam hai lần).

 

image014

Kênh Vĩnh Tế dưới chân núi Sam. Ảnh VH

 

Tây Bắc có tuyến kênh Vĩnh Tế chạy dọc biên giới Campuchia và Xã Vĩnh Tế. Phía Tây Nam giáp xã Vĩnh Châu. Phía Đông Bắc và Đông Nam giáp phường Châu Phú A, Châu Phú B của thành phố Châu Đốc.

 

Ở đỉnh núi có thể quan sát, kiểm soát cả một vùng biên giới rộng lớn từ thành phố Châu Đốc đến tận Tịnh Biên, từ cánh đồng Bảy Núi qua huyện Châu Phú. Trước năm 1975, trên đỉnh núi có một đồn lính, có một pháo đài có lẽ là nơi đặt trọng pháo.

 

Vua Minh Mạng cho đặt tên núi Sam là Vĩnh Tế Sơn, để ghi công của danh sĩ Thoại Ngọc Hầu đã hoàn thành việc đào kênh Vĩnh Tế (18191824).

 

Trên đỉnh núi Sam Châu Đốc, có thể quan sát ranh giới hai nước dưới chân núi được phân chia rất rõ bởi dòng kênh Vĩnh Tế.

 

image015

Ảnh tác giả trên đỉnh núi Sam, phía hông là kênh Vĩnh Tế, bên kia kênh biên giới Kampuchia. ảnh VH

 

Núi Sam có nhiều cây phượng vĩ và huỳnh mai mọc từ các hốc núi. Vào mùa trổ bông, cảnh núi toàn một màu đỏ thắm rất tươi đẹp rực rỡ.

 

image016

Đường lên núi Sam khi xưa chỉ là con đường mòn, nay trải đá xe hơi có thể lên được. Gần tới đỉnh cóa một ngôi chùa nhỏ thờ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Ảnh VH

 

image017

Cây và hoa Phượng Vĩ nở đỏ ối trên đỉnh núi Sam. Ảnh VH

 

Trên đỉnh, còn dấu tích một bệ đá, nơi tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam ngự, trước khi được đem về miếu. Bệ đá có chiều ngang 1,60 m; dài 0,3 m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34 m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn. Gần tháp cao của Pháo Đài, cũng là nơi Trương Gia Mô (18661929), một nho sĩ của phong trào Duy Tân, đã gieo mình xuống vực sâu, tự kết liễu một cuộc đời bế tắc vào một đêm cuối năm 1929. (theo Vương Kim – Đào Hưng)

 

image018

Chỗ bệ đá nơi Bà Chúa Xứ ngự thiền nay được quây lại có mái che. Ảnh VH

 

image019

image020

Bệ đá nơi Bà Chúa Xứ ngự có truyền thuyết lịch sử. Tượng của bà này dời về chùa Bà Chúa Xứ ở dưới chân núi cho dận chúng dễ chiêm bái. Ảnh VH

 

image021

Tượng Bà Chúa Xứ ngự trên đỉnh núi Sam được cung thỉnh về ngự tại chùa lớn dưới chân núi Sam giữa lòng thị xã Châu Đốc.Ảnh VH

 

image022

Chùa Bà Chúa Xứ về đêm. Ảnh VN

 

Chùa Tây An núi Sam trong quá khứ cách đây khoảng 200 năm là nơi diễn ra cuộc tranh chấp giữa hai thế lực “Phật giáo triều đình” bổ nhiệm các sư Phật giáo về cai quản và đạo Bửu Sơn Kỳ Hương dưới sự lãnh đạo của Đức Thầy Đoàn Minh Hương.

 

Những ngôi tháp tổ trong khuôn viên chùa là mộ của các vị Hòa thượng tiên khởi trụ trì chùa, trong khi đó ngôi mộ của Đức Phật Thầy Tây An lại nằm khiêm tốn và hơi khuất trên triền núi Sam sau lưng chùa không xa mấy.

 

Vì sao mộ của Đức Thầy không nằm ở Chợ Mới nơi có Tây An cổ tự, là nơi Đức Thầy khai sáng đạo Bửu Sơn Kỳ Hương mà lại chôn cất ờ sau chùa Tây An núi Sam. Sự việc này trở nên một công án sau khi Đức Thầy viên tịch mà chúng tôi sẽ tham khảo sau.

 

Theo một bài viết của hai ông Vương Kim – Đào Hưng:

 

“Từ ngày Đức Phật Thầy tịch, chùa Tây An (núi Sam) hoàn toàn thuộc vào phái Lâm tế, do sư cụ Nguyễn Nhứt Thừa trụ trì. Về sau sư cụ được thăng lên chức hòa thượng và tịch năm Giáp thân, tức năm 1884, thọ 50 tuổi. Tháp của ông rất lớn, nằm kế bên chùa.

 

Người thứ nhì thừa kế sư cụ Nguyễn Nhứt Thừa là sư cụ Nguyễn văn Khiêm, pháp danh Hoàng Ân, cũng là một nhà sư của chùa Giác Lâm phái lên. Sư Hoàng Ân tịch năm Giáp dần (1914), nghĩa là trụ trì được 30 năm.

 

Khi sư cụ Nguyễn văn Khiêm tịch thì trưởng tử là Nguyễn Trang Nghiêm, pháp danh là Huệ Quang lên thay thế. Rồi tiếp đó là ông Nguyễn Thuần Hậu ở Hà tiên được mời về trụ trì. Sau ông Hậu thì có ông Ngô văn Hòa là người ở tại chùa từ nhỏ được đưa lên kế vị. Lúc thiếu niên, ông được đưa lên Sài gòn học tập.

 

Người thứ sáu cũng là người chót, hiện nay còn sống, là ông Nguyễn văn Mật, pháp danh Bữu Thọ đệ tử sư cụ Nguyễn văn Khiêm từ nhỏ đến lớn. Năm nay ông được sáu mươi ngoài tuổi.

 

Cứ xem đó cũng đủ thấy chùa Tây An, từ hồi Đức Phật Thầy tịch cho đến nay, các nhà sư của phái Lâm tế liên tiếp nối nhau trụ trì.

 

Nhiều bài viết của giới nghiên cứu về BSKH nói rằng mặc dầu Đức Phật Thầy đứng ra xây dựng (chú thích của người viết: chưa thấy tài liệu chính thức nào viết Đức Thầy là người đầu tiên xây dựng chùa ban đầu chưa có tên là Tây An vì chỉ sơ sài như như một cái am, cái cốc lợp mây tre lá, nhưng cũng có thể chính tay Ngài xây dựng từ từ cái am nhỏ lên ngôi chùa nhỏ có tường gạch, nền cuốn đá xanh, mái lợp ngói; sau đó quan Tổng đốc Doãn Uẩn thấy địa điểm, vị trí của am chùa quá quan trọng, đó là chưa nói đến yếu tố tôn giáo chính trị của hệ thống quan lại triều đình nên quan Tổng đốc tâu lên Vua, triều đình bèn cho khởi công xây lên chùa lớn nhưng sung làm chùa công vào năm 1847).

 

Từ khi chùa lớn sau này dưới sự cai quản của các hòa thượng Phật Giáo trụ trì, chùa mang phải cái danh hiệu là chùa công được triều đình nhìn nhận, nên ngài Đoàn Minh Hương không được tự do tổ chức việc thờ phượng theo pháp môn hành đạo tông phái BSKH, có phải vì thế mà Ngài vào láng Thới Sơn dựng lên một cảnh chùa theo ý muốn mà Ngài gọi danh là “trại ruộng” vừa để tránh sự can thiệp của quan quân triều đình vừa lập căn cứ thu dụng tín đồ. (người viết dựa theo ý của Vương Kim – Đào Hưng).

 

Đây là thời gian mà chỉ dấu chính quyền Phật giáo – Nho giáo đi vào Đạo giáo khá quan trọng trong việc đi tìm chủ nhân thực sự lịch sử xây dựng nền móng ngôi chùa Tây An ở chân núi Sam, cũng như đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời hành đạo của Đức Thầy Đoàn Minh Hương.

 

Dấu hỏi lớn đưa ra là biến cố nào đã khiến chùa lẽ ra phải thuộc về Đức Thầy – người khởi công khai hoang lập ra cái am đầu tiên mà lại thuộc về các hòa thượng Phật giáo phái Lâm Tế do triều đình phái tới cai quản, sau đó tiếp tục bồi bổ kiến tạo?

 

Tạm cho là chính sách “Triều đình Phật giáo – Nho giáp áp chế Đạo giáo” của triều đình vừa mang tính hài hòa tổng hợp giữa văn hóa Phật giáo triều đình, Nho giáo trị nước và ảnh hưởng dân gian của đạo BSKH lúc bấy giờ triều đình không thể “đàn áp” hay tìm các tiêu diệt, một phần vì Vua Gia Long mới lên ngôi, nước nhà còn nhiều nhiễu loạn, một phần vì Tổng đốc Trương MInh Giảng còn lo chinh phạt thu phục nước Chân Lạp nên ngó lơ cho đạo BSKH.

 

image023

Dấu ấn triện Trấn Tây tướng quân chi ấn (鎭西將軍之印) kích cỡ 90×90, đóng vào tấu chương của hội đồng tướng quân Trấn Tây ngày 7 tháng 9 năm Mậu Tuất niên hiệu Minh Mệnh 19 (1838).

 

Tuy nhiên, đều đó cũng hé lộ chính sách “trấn áp mềm” của triều đình một mặt phải chấp nhận luồng văn hóa đạo giáo hiện hữu trong đời sống và tâm linh quần chúng, một mặt vẫn tìm cách áp chế bớt ảnh hưởng của Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương lan tràn, một mặt “cướp” (nói theo ngôn ngữ ngày nay) ngôi am nhỏ của Thầy Đoàn Minh Hương. Giai đoạn này có lẽ diễn ra ở thời Tổng đốc Doãn Uẩn.

 

Quan sát phong cách nghệ thuật và kiến trúc ngôi chùa không dựa theo kiểu mẫu kiến trúc chùa Phật giáo ở miền Bắc và miền Trung. Tính chất pha trộn phong cách Ấn Độ giáo, Hồi giáo và kiến trúc cổ dân tộc. Chùa trở nên có một dáng vẻ khá độc đáo, kiến trúc toàn cảnh ngôi chùa do các sư Phật giáo thiết kế hay do các kiến trúc sư, họa sư thời đó vẽ?

 

image024

Cảnh chùa Tây An núi Sam hiện nay.

 

Theo tác giả Ngọc Minh: “Trong thời gian ban đầu (ghi chú của người viết: tác giả không viết rõ thời gian ban đầu là ngày tháng năm nào), ngôi chùa chưa có một quy mô và diện mạo kiến trúc như hiện nay, mà chỉ được xây dựng bằng tường gạch, nền cuốn đá xanh, mái lợp ngói nhưng không lớn lắm. (Ai xây?)

 

Trong bài bia Vĩnh Tế Sơn được dựng lên vào tháng tư năm 1828 của Thoại Ngọc Hầu đã tả lại khung cảnh tươi đẹp ngôi chùa TâyAn mà không ghi rõ ai là chủ nhân đầu tiên ngôi chùa.

 

image025

Tác giả đứng trước lăng Thoại Ngọc Hầu tay đang cầm cuốn sách mỏng viết về Thoại Ngọc Hầu do địa phương ấn hành . Ảnh VH 2014.

 

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí trình bày ngôi chùa này như sau: Ở địa phận của thôn Vĩnh Tế, huyện Tây Xuyên, nguyên quan Tổng Đốc Mưu Lược Tướng Tu Tĩnh Doãn Uẩn đã kiến trúc nên ngôi chùa vào năm Thiệu Trị thứ 7 (chú thích: năm 1847, tức là 40 năm sau năm Đức Thầy giáng sanh 1807). Khi ngôi chùa xây dựng xong, Tổng đốc Doãn Uẩn cho mời Hòa thượng Tiên Giác – Hải Tịnh thuộc đời thứ 37, Lâm Tế chánh tông chi phái Thiên khai về trụ trì. (chú thích của người viết: đấy là giai đoạn 2).

 

Về việc xây dựng chùa tháp miền Nam trong thời gian đó, những nhà nghiên cứu kiến trúc Phật Giáo Việt Nam đã viết như sau: Trong Nam Bộ, vùng đất này (Châu Đốc) nổi tiếng sùng tín đạo Phật, chùa tháp mọc lên hàng loạt, chùa Tây An nằm trong trường hợp đó.

 

Đầu tiên phải nói đến địa điểm tọa lạc của ngôi chùa. Chùa nằm trên ngã ba từ thị xã Châu Đốc đi vào núi Sam, cách núi Sam khoảng 5 cây số, mặt hướng về phía sông, tựa lưng vào núi.

 

Chùa Tây An đã hai lần được trùng tu đại quy mô: lần thứ nhất vào năm 1861, do Hoà thượng Nhất Thừa chủ trì trùng tu chánh điện và nhà Tổ rộng rãi thêm và có nhiều công trình điêu khắc trang nhã hơn; qua lần thứ nhì vào năm 1958, do công trình của thiền sư Bửu Thọ; những công trình chính trong giai đoạn sau gồm có: xây ba ngôi lầu cổ, xây tiền đường của chùa, xây dựng và trang trí lại ngôi chánh điện.

 

(Ghi chú: Năm 1861 thuộc triều Vua Tự Đức nổi tiếng chuộng về Nho học, rất nặng về chính sách đàn áp đạo Gia Tô, đạo BSKH tất cũng không tránh khỏi)

 

Theo đề nghị của quan Tổng Đốc An Giang (ghi chú của người viết: có lẽ Tổng đốc An Giang lúc bấy giờ là Doãn Uẩn), Đức Phật Thầy được triều đình chính thức công nhận, để Ngài tự do hành đạo, nhưng buộc Ngài phải xuống tóc. Sau khi đức Phật Thầy bị chánh quyền bắt tra hỏi về đạo BSKH, rồi được tha, để tránh sự hoài nghi của triều đình, Ngài vào núi Sam ở chung một ngôi chùa sẵn có do Thiền Phái Lâm Tế lập ra và đã được triều đình chứng nhận.

 

(Ghi chú của người viết: Đức Thầy trở về tạm trú ở chùa Tây An nếu đó là cái am cái cốc gốc của Đức Thầy, mặc dù am cốc đã biến thành chùa do sư Phật giáo canh cải và làm trụ trì; Chính vì như vậy cho nên dân gian và tín đồ BSKH truyền tụng từ đời này đến đời sau quả quyết rằng chính ngài Đoàn Minh Hương mới là người khai hoang khai hóa mảnh đất dưới chân núi Sam lập ra cái am cái cốc làm nên nền móng cho chùa Tây An to lớn sau này, cũng chính vì vậy cho nên dân gian và tín đồ BSKH mới xưng tụng ngài là Đức Phật Thầy Tây An).

 

Lịch sử xây dựng từ cái am nhỏ đến chùa Tây An núi Sam hiện nay trở thành một công án liên quan đến cuộc đời hoạt động của Đức Thầy Đoàn Minh Hương.

 

Vấn đề đặt ra là có nên trả lại chùa Tây An núi Sam cho Đức Thầy Đoàn Minh Hương, cho đạo Bửu Sơn Kỳ Hương hay giữ chùa nguyên trạng hiện do các Sư thuộc phái Lâm Tế cai quản? Thật ra, đối với Phật giáo và tông phái BSKH điều này không quan trọng, nhưng đứng về mặt nghiên cứu khoa học, các học giả cần đòi hỏi sự nghiêm túc.

 

Có một thời gian: “Để thực hiện giáo pháp vô vi chân truyền của mình, đức Phật Thầy bắt đầu tìm những nơi hẻo lánh xa xôi để lập ra những cơ cấu tôn giáo ở những “trại ruộng”. Những trại ruộng, trại gỗ từ đó được lên lên quanh vùng Thất Sơn như ở Thới Sơn, Láng Linh”. Lúc nầy, tuy tiếng là ở núi Sam, nhưng Ngài thường vân du khắp nơi, tùy cơ phổ độ chúng sanh, khắp vùng Thất Sơn không đâu là Ngài không bước đến”.

 

Hiện nay, theo thống kê, Bửu Sơn Kỳ Hương có khoảng 15.000 tín đồ sinh sống tập trung ở các tỉnh: An GiangĐồng ThápBà Rịa-Vũng TàuLong AnSóc TrăngVĩnh LongTiền Giang và Bến Tre. (theo wikipedia).

 

(Ghi chú cùa người viết: Con số tín đồ đạo BSKH chưa chắc chắn lắm).

 

Riêng Tây An cổ tự ở Chợ Mới Long Xuyên Lịch sử về ngôi cổ tự này rất sơ sài. Người ta chỉ biết ngôi cổ tự này là nơi Đức Thầy Đoàn Minh Hương chọn làm chỗ rao giảng đạo Bửu Sơn Kỳ Hương ở những ngày thàng năm đầu tiên. Lý do vì vùng Chợ Mới là vùng có dân cư đông nhất./

 

III. Vài nét về lịch sử sát nhập đất Chân Lạp thành Trấn Tây thành vào nước Đại Nam và sự “trấn áp” các đạo giáo của triều đình

 

(Văn Hóa sưu tập thứ tự từng năm dựa theo wikipedia)

 

– Outey II (1739 – 1777), là vua Chân Lạp, hiệu là Outey Reachea II hoặc Udayaraja II. Tên húy là Ang Ton (Nak Ong Ton). Tiếng Việt gọi là Nặc Tôn, Nặc Ông Tôn, chữ Hán 匿螉尊.

 

Ang Ton là con của hoàng tử Ang Sor (17071753). Ang Sor lại là con của vua Ang Tong (mất năm 1757) và công chúa Peou, con gái của vua Ang Em.

 

– Năm 1757 Nặc Nguyên mất, chú họ là Nặc Nhuận làm giám quốc. Nặc Nhuận (Neac Ang Nhuan) xin hiến đất Trà Vang (Trà Vinh, Bến Tre) và Ba Thắc (Sóc Trăng, Bạc Liêu) để cầu được chúa Võ Vương phong làm vua Chân Lạp. Song không lâu, Nhuận bị rể là Nặc Hinh nổi loạn giết chết cướp ngôi.

 

Con của Nhuận là Nặc Ton chạy qua Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tứ che chở và cầu cứu với chúa Nguyễn.

 

Nhận lời, Chúa Vũ sai thống suất Trương Phúc Du tiến đánh, Nặc Hinh chạy đến Tầm Phong Xoài rồi bị phiên liêu là Ốc nha Uông giết chết.

 

Nặc Tôn dâng đất Tầm-phong-long để tạ ơn chúa Nguyễn. Chúa bèn sai ông Trương phúc Du và Nguyễn cư Trinh đem dinh Long-hồ về xứ Tầm-bào, tức là chỗ tỉnh-lỵ tỉnh Vĩnh-long bây giờ, và lại đặt ra ba đạo là Đông-khẩu đạo ở Sa-đéc, Tân-châu đạo ở Tiền-giang (nay thuộc Chợ Mới, An Giang) và Châu đốc đạo ở Hậu-giang.

 

Theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán nhà Nguyễn thì đất An Giang (Khmer: ខេត្តមាត់ជ្រូក[6] xưa là đất Tầm Phong Long nước Chân Lạp (vùng đất nằm giữa sông Tiền và sông Hậu).

 

Nặc Tôn lại dâng 5 phủ là Hương-úc, Cần-bột, Trực-sâm, Sài-mạt và Linh-quỳnh để tạ ơn Mạc thiên Tứ. Mạc thiên Tứ đem những đất ấy dâng chúa Nguyễn, chúa cho thuộc về trấn Hà-tiên cai-quản.

 

– Năm 1757 (Đinh Sửu):  Quốc vương Chân Lạp là Nặc Tôn (Outey II) dâng đất này cho chúa Nguyễn. Từ thời thuộc Chân Lạp cho đến tận đầu nhà Nguyễn, vùng đất này còn hoang hóa, rất ít dân cư.

 

– Năm 1807: Giáng sanh Đức Phật Thầy Tây An ngày 15 tháng 10 âm lịch năm Đinh Mão (1807 (?) 6 năm sau khi Vua Gia Long lên ngôi năm 1802. Ngài quê tại làng Tòng Sơn, tổng An Thạnh Thượng, tỉnh Sadéc.

 

– Năm 1807: Sáu năm sau khi vua Gia Long lên ngôi, vua Chân Lạp là Ang Chan II (Nak Ong Chan, Nặc Chăn) xin thần phục triều đình Huế thay vì thần phục Xiêm triều(tức Thái Lan) như trước kia.

 

– Năm 1819: Thoại Ngọc Hầu khởi công đào kênh Vĩnh Tế  1819 và hoàn thành năm 1824.

 

– Năm 1832: An Giang là một trong sáu tỉnh đầu tiên ở Nam Kỳ (Nam Kỳ lục tỉnh) vào thời nhà Nguyễn độc lập, thành lập năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng.

 

– Tháng 12, 1833: Quân Xiêm (Thái Lan) đánh vào An Giang, đánh đuổi được quân Xiêm, Trương Minh Giảng và Lê Đại Cương lập đồn An Nam ở gần Nam Vang để bảo hộ Chân Lạp. Việc cai trị trong nước Chân Lạp đều do quan Việt sắp đặt, còn triều thần Chân Lạp chỉ kiêm nhiệm việc nhỏ.

 

Triều đình Huế hủy bỏ tước hiệu quan chức bản xứ của Chân Lạp và áp dụng quan chế nhà NguyễnLê Đại Cương (sau được thay bằng Dương Văn Phong) được cử làm Tham tán đại thần, đặt một tướng quân, 4 chánh phó lãnh binh, cắt đặt các chức hiệp tán, đề đốc, lang trung, viên ngoại lang, giáo thụ, huấn đạo. Ở các chỗ yếu hiểm, lại đặt chức tuyên phủ, an phủ để phòng ngự..

 

– Năm 1834: Vua Minh Mạng đặt tên địa danh Nam Kỳ Lục Tỉnh.

 

– Cuối năm 1834: Vua nước Chân Lạp là Ang Chan II mất lại không có con trai, quyền cai trị trong nước về cả mấy người phiên liêu là Trà Long (Chakrey Long) và La Kiên, vốn là người Chân Lạp nhưng nhận quan tước của triều đình Huế.

 

– Năm 1835:  Vua Chân Lập Ang Chan II mất mà không có con trai nối dõi, theo lời khuyên của Trương Minh Giảng, vua Minh Mạng cho đổi đất Chân Lạp thành Trấn Tây thành, sáp nhập vào Đại Nam.

 

– Cùng năm 1835, Vua Minh Mạng phong hàm Hiệp biện đại học sĩ Trương Minh Giảng lãnh chức Tổng đốcAn Giang là Tổng Đốc đầu tiên của An Giang (Trương Minh Giảng (chữ Hán: 張明講[1]; ?-1841) bao hàm cả vùng đất xứ Chân Lạp (ngay nay ta gọi là xứ Miên, xưa Kampuchia hay xứa Cambodia ). Từ đó, quyền uy của Trương Minh Giảng rất lớn.

 

– Cùng năm 1835Trương Minh Giảng tâu chương vua xin lập người con gái của Nặc Ông Chân là Ang Mey(Ngọc Vân) lên làm quận chúa, gọi là Chân Lạp quận chúa. Quận chúa Ngọc Vân làm vua xứ Chân Lạp chứ không có thực quyền.

 

(Nghi vấn của người viết: Quận chúa Ngọc Vân là Vua của Vương quốc Chân Lạp (bà là người có nước da ngăm nâu). Có thời gian nào bà đi tu hoặc ngự thiền trên núi Sam và mất ở trên núi Sam?  Ai lập ra tượng thờ bà ở trên núi Sam, sau này được cung thỉnh xuống núi đưa tượng bà về thờ ở chùa dưới chân núi, chùa ngày nay gọi là chùa Bà Chúa Xứ ở thị xã Châu Đốc cách chân núi Sam khoảng 5 cây số).

 

– Năm 1836: vua Minh Mạng cho đổi đất Chân Lạp, Nam Vang thành Trấn Tây thành, chính thức sáp nhập vào Đại Nam. Ranh giới phía Tây Bắc của Trấn trong đó có biển hồ Tonlé Sap. Tấn Tây thành là một Trấn(tức là một tỉnh) của nước Đại Nam nhà Nguyễn giai đoạn 1835 đến 1841. Trấn Tây Thành được chia ra làm 33 phủ và 2 huyện. (theo wikipedia)

 

– Năm 1840: Vua Minh Mạng sai Lê Văn Đức làm khâm sai đại thần, Doãn Uẩn làm phó và cùng với Trương Minh Giảng để kinh lý mọi việc ở Trấn Tây Thành, khám xét việc buôn bán, đo đạc ruộng đất, định lại thuế đinh, thuế thuyền bè buôn bán dưới sông.

 

Vua Minh Mạng đã cho lệnh tổng kê dân đinh nước Chân Lạp, vừa bị sáp nhập vào lãnh thổ Đại Nam thì có 970.516 người, đang khi đó thì ruộng đất lên đến 4.036.892 mẫu.

 

image026

Vùng đất Cao Miên do Đại Nam bảo hộ (tô màu hồng). Phần gạch chéo là phần đất lập trấn Tây Thành. Biển hồ Tonle Sáp và Nam Vang nằm giữa Tấn Tây thành.

 

Đặc điểm của thời Vua Gia Long là “hiệp thương” với quân Xiêm và mượn các giáo sĩ Gia Tô để văn minh hóa quân đội giành chiến thắng trước quân Tây Sơn, đến đời Vua Minh Mạng thì “hiệp thương” với các lãnh chúa Ai Lao và Chân Lạp để mở rộng biên thùy.

 

Có thể nói Vua Minh Mạng là vị vua vĩ đại sau Vua Gia Long do ngài có tham vọng về một “Đế chế Đại Nam” chủ trương mở rộng cương thổ về phía tây. Biên thùy nước Đại Nam lấn sang hai lân bang là Chân Lạp và Ai Lao. Có thể nói bản đồ nước Đại Nam giai đoạn này rộng lớn nhất và an toàn nhất.

 

Rất tiếc quan lại Việt Nam cử sang làm bảo hộ đã không thực hiện được hoài bão to lớn của Vua Minh Mạng mà lại còn nhũng lạm dân tình nên hoàng thân quốc thích nội quốc nổi dậy, một phần quan quân Đại Nam vì đi trấn thủ xa quê hương, xa gia đình, thổ ngơi khác lạ nên sinh ra lười biếng chán nản. Đại học sĩ Trương Minh Giảng là quan tổng quản bảo hộ vùng đất Chân Lạp xin kéo quân về An Giang sau bị dèm pha uất ức mà mất, Phó quan là Doãn Uẩn lên thay làm Tổng đốc An Giang.

 

Chích sách mở rộng và bảo hộ đất đai của vua Minh Mạng thi hành bằng cách thu phục và phong vương cho lãnh chúa, vẽ lại bản đồ đất đai sát nhập vào Đại Nam, các tỉnh lân bang sát biên giới nước ta trở thành “trái độn” an toàn. Vua Minh Mạng là người nhìn xa trông rộng về an ninh lãnh thổ, nhưng về nội trị thì Vua bắt đầu ra tay tàn sát tín đồ đạo Gia Tô và tiêu diệt các cuộc nổi dậy, ngoài Bắc có Phan Bá Vành, trong Nam có Lê Văn Duyệt, Lê Văn Khôi. Sau này Lăng quan Đại thần Lê Văn Duyệt trở nên một nơi cầu xin linh thiêng đối với người dân Gia Định thành. Các tín đồ Gia Tô bị hại sau này được Giáo hội Công giáo VN phong lên hàng Thánh tử đạo.

 

Triều đình nhà Nguyễn mới thống nhất đất nước và dân tộc ba miền sau 25 năm chinh chiến với nhà Tây Sơn. Dưới con mắt của triều đình, các đạo giáo khác với đạo Phật truyền thống nổi lên trong nước hay du nhập từ nước ngoài vào đều bị coi là “ngoại đạo”, “tà giáo” hay “dị giáo”.

 

Đạo Gia Tô manh nha từ thời Vua Gia Long do ngài phải nhờ cậy vào các giáo sĩ Pháp canh tân quân đội, hiện đại vũ khí. Các giáo sĩ có điều kiện rao giảng đạo Chúa, thu hút tín đồ Cơ Đốc. Thật ra, dưới triều Vua Minh Mạng các cuộc đàn áp tín đồ vẫn có phần nhẹ tay so với thời các triều vua sau là Vua Thiệu Trị và Tự Đức. Chính sách tàn sát tín đồ Cơ Đốc đi đôi với chủ trương “bế môn tỏa cảng” vô tình đưa đất nước trở thành “quốc nạn” và đó cũn là cái cớ pháo hạm của Pháp tấn công Đà Nẵng mở đường cho cuộc xâm chiếm Việt Nam.

 

Trong chính sử và ngoại sử dân gian, dường như không có cuộc đàn áp nào đối với tín đồ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Chỉ có một lần Đức Thầy Đoàn Minh Hương bị quan quân bắt tra hỏi, sau đó thả nhưng điều đó không có nghĩa là triều đình bỏ lơ việc rao giảng truyền bá đạo BSKH của đức Thầy.

 

Một điểm cũng cần lưu ý là tín đồ đạo BSKH không bị triều đình tận diệt có thể do bản chất của đạo này gần gũi với đạo Phật, và phương cách hành đạo của Đức Thầy Tây An đi vào lòng dân chúng bằng cách chữa bệnh tật hiểm nghèo và giáo lý Tứ Ân khuyên răn dân chúng sống đời hạnh đạo không có ý đồ nổi loạn chống phá triều đình.

 

Dưới triều các Vua Minh Mạng (1820-1841), Vua Thiệu Trị (1841-1847), Vua Tự Đức (1847-1883), Đức Phật Thầy (1807-1856) khi khai sáng đạo BSKH, người viết cho rằng Đức Thầy phải chịu áp lực “tôn giáo và chánh trị” của triều đình  rất lớn. khó có thể phủ nhận tham vọng phát triển đạo của Đức Thầy trở thành một giáo phái, một tông phái, một Vương quốc đạo ở miền tây Nam Bộ. Đứng dưới lăng kính cai trị của một nhà nước phong kiến Vua là thiên tử, Dân là bề tôi, triều đình không thể cho phép một thế lực nào dù là thế lực đạo giáo có cơ hội vươn lên, có tầm ảnh hưởng lớn trong quần chúng tạo ra sự “đối đầu” với  chánh quyền.

 

(Xin nói thêm ngoài bài viết: 113 năm sau nhân tố hành đạo thời Đức Thầy Tây An, giáo lý Tứ Ân tái hiện cao độ dưới thời Ngũ tổ Đức Huỳnh Phú Sổ. Từ giáo lý Tứ Ân, Đức Huỳnh Phú Sổ khai sáng đạo Phật giáo Hòa Hảo. Theo bước chân của Đức Phật Thầy Tây An, ngài đi vào lòng dân chúng bằng cách chữa bệnh và quan trọng hơn cả nhận là người con trung thành của Đức Thích Ca Mâu Ni. Đức Huỳnh Phú Sổ gắn liền đạo PGHH với đạo Phật truyền thống ở Việt Nam thực ra chỉ là một, ngài biến cải kinh Phật thành những câu Sấm giảng để phù hợp và dễ thâm nhập vào đời sống tâm linh cũng như bản sắc đặc thù người dân miền sông nước Nam bộ. Đó là bước tiến quan trọng của Đức Huỳnh Phú Sổ, một nhà cách mạng, nhà chính trị, nhà Phật giáo cao siêu.

 

Chỉ một thời gian rất ngắn (1939-1947), người dân miền tây Nam bộ theo đạo PGHH đến hàng  trăm vạn. Tuy nhiên, khi Đức Huỳnh Giáo chủ thành lập đảng Dân Xã (21/9/1946) nhằm đối đầu với lực lượng Việt Minh thì mặt trận đồng bằng Nam bộ và đạo PGHH đã bước qua một giai đoạn mới tàn bạo hơn.

 

Các trận “đảng chiến” đẫm máu giữa Dân Xã và Việt Minh gây ra cảnh tanh thương không bút nào tả xiết kéo theo hàng vạn sinh linh Nam Bộ đầu rơi máu đổ. Đức Huỳnh Giáo chủ mau thấy cảnh huynh đệ tương tàn nên đã tình nguyện làm cố vấn đặc biệt cho Ủy ban Hành Kháng Nam bộ để tạo ra sự “hòa giải dân tộc”, nhưng không cưỡng lại tham vọng của Xứ ủy Nam kỳ do Trần Văn Giàu lãnh đạo và cuối cùng ngài đơn thân độc mã trở về Đốc Vàng chịu thọ nạn.

 

Có lẽ giai đoạn từ năm 1945 đến 1947 là giai đoạn oan oan tương báo ghê rợn nhất ở thời kỳ Hạ ngươn của đạo BSKH tới đạo PGHH như Nhà văn Sơn Nam đã tiên đoán.

 

Theo như các tài liệu của GHPGHH cho rằng tín đồ PGHH thời Đức Huỳnh Giáo chủ đã lên tới triệu người; ước tính hiện nay con số tín đồ PGHH có thể đã lên tới 7, 8 triệu. PGHH là một thành phần dân tộc Phật giáo miền Nam đặc thù Việt Phật chất phác, hiền lành và khẳng khái ở Nam Bộ không thể xem thường được. Không một người Việt Nam nào không mong đất nước và dân tộc  bước vào thời kỳ Thượng ngươn Di Lặc.

 

image027

Năm 1835, theo lời khuyên của Tổng đốc Trương Minh Giảng, vua Minh Mạng cho đổi đất Chân Lạp thành Trấn Tây thành, sáp nhập vào nước Đại Nam. Hồ Tonlé Sáp(màu trắng) nằm giữa Trấn Tây thành. Tên các phủ huyện Trấn Tây phỏng theo bản đồ cổ Carte de la province de Saigon 1860: Lư An, Quảng Biên, Cần Chế, Nam Ninh, Lô Việt, Long Tôn, Ngọc Bài, Hải Tây, Tầm Vu, Hải Đông, Kỳ Tô, Phước Lai, Bình Xiêm, Khai Biên, Ý Dĩ, Nam Vang.

 

– Năm 1841: Tổng đốc An Giang Trương Minh Giảng kiêm chức Bảo hộ Cao Miên có cùng tham vọng mở rộng đất đai cùng với Vua Minh Mạng, nhưng đến đời Vua Thiệu Trị vùng đất Nam Vang Trấn Tây thành nổi lên nhiều biến loạn, Vua và triều đình cho rút toàn bộ quân đội về An Giang. Tổng đốc Trương Minh Giảng sinh bệnh uất ức mà thác vào tháng 9 năm 1941. Từ đó, công cuộc mở rộng đất biên thùy bảo hộ tàn lụn. Tiếc thay.

 

– Năm 1847: Tổng đốc Doãn Uẩn ra lệnh xây chùa Tây An bề thế trên nền đất am cổ của Đức Thầy và Doãn Uẩn mời sư Phật giáo về làm trụ trì.

 

– Ngày 12 tháng 8 âm lịch năm 1856: Đức Thầy Đoàn Minh Hương viên tịch. Sự tôn sùng Giáo lý Tứ Ân và nền đạo Bửu Sơn Kỳ Hương trong lòng người dân Nam bộ sâu xa đến nỗi dân chúng miền tây Nam bộ tôn vinh ngài là Đức Phật Thầy Tây An./

 

III. Vài nét về Bửu Sơn Kỳ Hương tự ở Quận Cam, nam California

 

Vào ngày Chủ nhật 18 tháng 6 năm 2017, tại một cơ sở nhỏ thuộc dòng Bửu Sơn Kỳ Hương ở thành phố Garden Grove, Quận Cam nam California cử hành một buổi lễ vía ngày mất của Công Chúa Ngọc Hân tức Bắc Cung Hoàng Hậu vợ Vua Quang Trung Nguyễn Huệ.

 

Cơ sở này mang tên Bửu Sơn Kỳ Hương tự được hai người bỏ công và của để xây dựng nên và giao cho Thầy Phi Bửu làm trụ trì. BSKH tự có một ban quản Tự thường xuyên trông nom tu sửa, trưởng ban là đạo hữu Tâm Trí và phó ban quản Tự là cô Nhứt Kim, bên cạnh có ban Cố vấn Bảo Dòng. Do mới quy tụ được một số tín đồ BSKH cư ngụ rải rác ở nam California nên tự viện còn đang thuê mướn nên việc duy trì còn đang vận động với bà con tín hữu.

 

image028

Quang cảnh buổi lễ Vía Bắc Cung Hoàng Hậu ở Bửu Sơn Kỳ Hương tự thuộc thành phố Garden Grove thuộc Quận Cam nam California hôm Chủ nhật 18/6/2017. Buổi lễ bắt đầu từ nghi lễ tụng niệm Phật Bồ Tát Quan Thế Âm ngoài trời.

 

Buổi lễ vía ngày mất Bắc Cung Hoàng Hậu khởi đầu diễn ra ngoài vườn thật trang nghiêm. Vườn có linh tượng Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, dưới nắng trưa gay gắt, gần 30 người thành kính tụng niệm.

 

Theo dòng lịch sử truyền khẩu của tông phái BSKH, sự ra đi của Bắc Cung Hoàng Hậu sau khi vua Quang Trung mất vẫn còn là một bí ẩn. Đối với tín đồ BSKH, hình ảnh Bắc Cung Hoàng Hậu là hình ảnh của một vị quốc mẫu linh hiển. Trong tiềm thức dân gian gọi bà là bà Chúa Tiên. (Xem thêm phần phụ lục 1)

 

image029

Thầy trụ trì Phi Bửu nói về ý nghĩa buổi lễ trước Ts Lê Phước Sang và các đạo hữu.

 

Tham dự buổi lễ có Ts Lê Phước Sang, đạo hữu Quyền Tâm và cô Ngọc Sĩ bên Ban Trị sự Trung ương Giáo hội PGHH hải ngoại.

 

Ts Lê Phước Sang phát biểu trong buổi lễ nói rằng đạo Bửu Sơn Kỳ Hương do Đức Phật Thầy Tây An khai sáng, giáo lý Tứ Ân có mối liên quan gắn bó với giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo mà đệ ngũ tổ là Đức Huỳnh Giáo Chủ khai mở. Ts Sang mong ước sự kết hợp đồng nhứt của nhóm BSKH với ban trị sự trung ương GHPGHH làm một.

 

image030

Ảnh từ trái: cô Kathy Phạm, Hoa Hậu Kim Bông, đạo hữu Quyền Tâm, đạo hữu Tâm Trí (Trưởng ban quản Tự), cô Nhứt Kim (Phó ban quản Tự), Tiến Sĩ Lê Phước Sang (GHPGHH), Thầy Phi Bửu (trụ trì BSKH Tự), Nhứt Thiện, Minh Long, Cư Sĩ Ngọc Sĩ, Á Hậu Tâm Nguyễn và đạo hữu Hoa Chánh.

 

Trả lời phỏng vấn của báo Văn Hóa, cô Nhứt Kim cho biết, hiện tại vì BSKH tự mới thành lập nên sự liên lạc với các nơi do bà con tín đồ BSKH tự liên lạc với nhau, nhưng Nhứt Kim rất vui vì trong nước khi bà con nghe tin ở nước Mỹ mới có ngôi tự tuy nhỏ nhưng là mối liên lạc rất ấm cúng biểu lộ tình đồng đạo trong ngoài luôn gắn bó với nhau.

 

image031

Đạo hữu Nhứt Kim, Phó Quản tự Bửu Sơn Kỳ Hương tự ở thành phố Garden Grove ngâm đọc bài thơ “Ai Tư Vãn” của Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân. Ảnh VH

 

Đáp lời, ban tổ chức mời cô Ngọc Sĩ phái đoàn bên PGHH lên ngâm đọc bài thơ do Ngọc Sĩ viết tựa đề: Lê Ngọc Hân Công Chúa, Bắc Cung Hoàng Hậu nhà Tây Sơn. Cô Ngọc Sĩ ngỏ lời vinh danh Thầy Phi Bửu và phó ban Quản tự BSKH Nhứt Kim qua một bài thơ ngắn. Cô Ngọc Sĩ là người tạo mối liên lạc mật thiết giữa ban trị sự PGHH hải ngoại với Giáo hội thuần túy trong nước.

 

image032

Ảnh từ trái: Đạo hữu Nhứt Kim BSKH, Ts Lê Phước Sang và đạo hữu Ngọc Sĩ PGHH.

 

Cũng theo lời cô Nhứt Kim, buổi lễ vía Bắc Cung Hoàng Hậu của các tín đồ BSKH tự ở Quận Cam là để bày tỏ lòng ngưỡng mộ vị Bắc Phương Hoàng Hậu trung trinh tài sắc vẹn toàn đối với nhà Tây Sơn và Hoàng Đế Quang Trung vị anh hùng áo vải đất Tây Sơn đã đánh thắng vang dội 20 vạn quân nhà Thanh đi xâm lược nước Nam ta.

 

Bài thơ Ai Tư Văn của Bắc Cung Hoàng Hậu khóc Quang Trung Hoàng Đế đã để lại áng thơ văn bất tử cho văn học sử nước nhà.

 

Cô Nhứt Kim Phó Quản tự BSKH tự được bà con tín đồ đạo BSKH ở Mỹ rất tin cậy vì tấm lòng sẵn sàng hy sinh cho việc xây dựng nền đạo BSKH ở Mỹ càng ngày càng phát triển. Cô cho biết nhà cô có lập bàn thờ thờ Đức Phật Thầy Tây An và thờ Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân.

 

Trả lời phỏng vấn của báo Văn Hóa về sự khác biệt và sự giống nhau giữa đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và đạo Phật Giáo Hòa Hảo như thế nào, cô Ngọc Sĩ bên phái đoàn PGHH cho biết: “Sự khác biệt trong sự thờ cúng là đạo BSKH thờ miếng trần điều màu điều, có cúng hoa và trái cây, còn đạo PGHH thờ miếng trần điều màu đà và chỉ chưng hoa.

 

Còn về lai lịch của Đức Phật Thầy Tây An, cô Ngọc Sĩ cho biết: Đức Phật Thầy Tây An tên thật là Nguyễn Quang Mục, vì thời Vua Gia Long loạn lạc, thân mẫu Ngài đã đổi tên Ngài là Đoàn Minh Huyên và đổi cả tuổi thật Ngài tuổi con Kê thành Đinh Mão.

 

Đức Phật Thầy Tây An viên tịch, Thầy biết trước ngày Thầy viên tịch. Sáng ngày 12 tháng 8, Thầy kêu 12 vị hiền thủ đến và cho đệ tử biết hôm nay Thầy viên tịch, nhưng đệ tử không nghĩ rằng Thầy sẽ viên tịch ngày hôm đó, vì Thầy rất mạnh khỏe. Sau buổi ăn ngọ Thầy nói với đệ tử Thầy muốn vào nghĩ , nhưng sau 1 giờ đệ tử vào thăm Thầy, Thầy đã tịch đúng ngày .

 

Ngày mất của Quang Trung Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân ẩn hiện trong tâm thức tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương? hay là một nghi án chưa sáng tỏ?

image037

Bức họa sơn dầu về Ngọc Hân Công Chúa tại Dinh Độc Lập.

 

Theo một số tài liệu phổ biến hiện nay:

 

– Theo Quốc sử di biên, vào năm 1843, nhân một vụ kiện giữa viên chánh tổng tên là Phụng với dân làng Phù Ninh, vua Thiệu Trị đã ra lệnh khai quật mộ mẹ con Ngọc Hân, rồi ném hài cốt xuống sông Nhị Hà (sông Hồng), đồng thời cho đem nhà thờ, ruộng thờ ra bán hết (dẫn theo TS. Trương Đức Quả, tr. 332).

 

– Năm 1786, anh hùng “áo vải cờ đào” Nguyễn Huệ ra Bắc với chiêu bài “phù Lê diệt Trịnh”. Ngọc Hân vâng mệnh vua cha kết duyên cùng Nguyễn Huệ và theo ông về Thuận Hóa.

 

– Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế trước khi ra Bắc lần thứ ba để diệt quân Thanh, lấy niên hiệu Quang Trung, phong Ngọc Hân làm Hữu Cung Hoàng Hậu.

 

– Năm 1789: Sau khi đại thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ lại phong bà làm “Bắc Cung Hoàng Hậu”. Bà chính là vị hoàng hậu ở ngôi Bắc Phương Hoàng Hậu đầu tiên và cuối cùng.

 

– Năm 1792, Quang Trung Hoàng Đế đột ngột băng hà. Bà viết Tế Vua Quang Trung và Ai Tư Văn để bày tỏ nỗi đau khổ cùng cực cũng như nỗi tiếc thương vô hạn cho người chồng anh hùng vắn số. Năm ấy bà đang ở tuổi 22.

 

– Năm …….? : Bắc Cung Hoàng Hậu đưa con ra khỏi cung điện Phú Xuân, sống trong chùa Kim Tiền (Dương Xuân phố Huế) cạnh điện Đan Dương để thờ chồng nuôi con.

 

Bà gượng sống đến ngày mồng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (4-12-1799) thì mất, lúc ấy mới 29 tuổi.

 

(Có nhiều giả thuyết về cái chết của Ngọc Hân Hoàng Hậu, song thuyết đáng tin cậy nhất là bà mất vào năm 1799 từ bài văn tế bà do Phan Huy Ích viết, có chép trong Dụ Am Văn Tập).

 

– Ngày 18 tháng 11 năm Tân Dậu (23-12-1801) Hoàng tử Văn Đức mất khi mới 10 tuổi.

 

– Ngày 17 tháng 4 năm Nhâm Tuất (18-5-1802) Công chúa Ngọc Bảo cũng mất khi mới 12 tuổi.

 

– Năm 1802: Nguyễn Ánh lên ngôi Vua hiệu là Gia Long.

 

Phần “Biệt lục” của tộc phả Nguyễn Đính ghi thêm:

 

– Năm 1804: Mẫu hậu Nguyễn Thị Huyền (vợ Vua Lê Hiển Tông) thương con gái và các cháu ngoại đều chết yểu nơi xa, thuê người vào Phú Xuân lấy hài cốt ba mẹ con Ngọc Hân,

 

– Ngày 24 tháng 3 năm Giáp Tư (3-5-1804) xuồng thuyền vượt biển, ngày 20 tháng 5 (28-6) về đến bến ái Mộ (Gia lâm, Hà Nội),

 

– Ngày mồng 4 tháng sau (11-7-1804) đưa về bản dinh (tức dinh Thiết lâm của bà Nguyễn Thị Huyền 100 gian gần chùa Pháp Vân).

 

– Ngày mồng 9 (16-7-1804) đưa về làng, giờ Ngọ an táng hài cốt bà Ngọc Hân, phụ chôn hoàng tử ở bên trái và công chúa ở bên phải. Nơi đó nay là Băi Cây Đại hay Băi Đầu Voi ở đầu làng Nành. (ảnh: Tượng chân dung của Bà Nguyễn Thị Huyền vợ Vua Lê Hiển Tông, mẹ Công chúa Lê Ngọc Hân và Công Chúa Lê Ngọc Bảo.)

 

– Năm 1823: Bà Huyền mất, thọ 70 tuổi, dinh Thiết Lâm thờ bà và mẹ con Ngọc Hân. vẫn theo tộc phả họ Nguyễn Đình và kết hợp truyền thuyết địa phương, thì vào khoảng thời gian đời Minh Mạng sang đời Thiệu Trị, có người trong làng tố giác việc thờ cúng này, vua Thiệu Trị đă cho phá hủy đền thờ ở dinh Thiết Lâm, quật mộ ba mẹ con Ngọc Hân, đổ hài cốt xuống sông – nơi này sau dân lập đền Ghềnh thờ bà; chánh tổng bị lột da nhồi trấu, tri phủ bị cách chức. Bộ sử Đại nam thực lục năm 1842 cũng xác nhận: “Tới đây, việc ấy phát giác, vua sai hủy đền thờ, đào bỏ hài cốt kẻ ngụy”.

 

– Từ năm 1842: Dinh Thiết Lâm bị phá, nền dinh bỏ hoang thành đất công của làng, nhưng dân vẫn gọi là “Vườn Dinh” và dựng lên đây Một “Miếu cô hồn” kín đáo thờ Ngọc Hân.

 

– Sự việc này, bộ Đại Nam thực lục ghi tiếp ở năm 1842: “Khoảng năm đầu Gia Long, ngụy đô đốc tên là Hài ngầm đem hài cốt mẹ con Ngọc Hân từ Phú Xuân về táng trộm ở địa phận xă Phù Ninh. Thị Huyền ngầm xây mộ, dựng đền, khắc bia giả, đổi lại họ tên để làm mất dấu tích”.

 

Thế nhưng, theo sách Thân thế Phật Thấy Tây An vàNgọc Hân Công Chúa của tác giả Cư sĩ Sripolieucẩn bút năm Bính Tý (08 tháng 11, 1996) trang 90:

 

–  Bà Ngọc Hân mất năm nào? Đỉnh tập Quốc sử Di biên chép: “Giáp Tý, năm thứ ba (năm Gia Long thứ ba 1804” ………………………………….. Tháng 5 ngày 21 ……………………………………..”Bà Công Chúa nhà Lê tên là Ngọc Hân chết.”

 

Như vậy theo lối biên niên trong việc chép sử thì bà Ngọc Hân mất ngày 21 tháng 5 hoặc sau đó ít ngày. (Chú thích của người viết: cũng không thấy sách ghi năm nào?)

 

Đỉnh tập Quốc sử Di biên (bản dịch) chép:

 

– Ngày 28 tháng 4 năm Quý Mão (năm Thiệu Trị thứ ba 1843) cho đào mả bà Ngọc Hân Công Chúa đổ xuống sông và bán ruộng bán nhà hờ Bà ấy”.

 

– Thi văn Bình chú của Ngô Tất Tố viết: “Khi nhà Tây Sơn mất nước, Bà và các con đổi tên họ lẩn vào ở ẩn ở một làng trong tỉng Quảng Nam. Nhưng không bao lâu có kẻ phát giác, Bà phải uống thuốc độc tự tử, hai con đều phải thắt cổ chết.” (tr. 91)

 

–  Để kết luận, như vậy ta có thể nhận ra và tin rằng Bắc Cung Hoàng Hậu có hai con với Vua Quang Trung, và Bà có bị bắt với hai con ở Huế hoặc ở nơi khác. Vua Gia Long ngầm sai giết hai con bà một cách kín đáo và đã cho bà về ở quê mẹ năm Giáp Tý (1804). Bà mất có lẽ vì đau thương vì biết rằng con mình đã bị giết, hoặc Bà lặng lẽ tự vận.”

 

Theo nhà biên khảo Thụy Khuê viết: Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long, Chương 20: Barisy thuật lại các trận đánh và vua Gia Long vào Huế):

 

Vua Gia Long vào kinh đô Huế:

 

– “8 giờ sáng ngày 15/6/1801, (tháng thứ 5, Cảnh Hưng thứ 62; năm thứ 27, ngụy triều Wandoé [(Nguyễn) Văn Huệ], còn được mệnh danh là Tais Shon hay Teschon [Tây Sơn], có nghiã là gia đình ở trên núi [Tây]),cháu của vị chúa sau cùng [tức Định Vương Nguyễn Phước Thuần], con người em của chúa [Nguyễn Ánh là con anh của chúa], đặt chân đến kinh đô Nam Hà.

 

Nhà vua không vào cung điện mà ngồi ở một phòng tiếp kiến bên ngoài, nơi dân chúng có thói quen tụ họp để hy vọng được thấy vua những ngày thiết triều.

 

Chính ở trong phòng này, 8 giờ sáng, tôi nhìn thấy vua. Vô số quần chúng đủ mọi hạng người, mọi tuổi, quây quần bên ông. Quân canh gác sơ sài, không mang khí giới, đứng cách quân vương khá xa. Thấy tôi, vua gọi lại, hỏi thăm tin tức Chaigneau… (Chaigneau bị đau từ mấy ngày nay), tôi kể chuyện này để thấy tấm lòng của nhà vua.

 

Sau đó, Hoàng thượng hỏi xem tôi đã thấy các tướng địch chưa. Tôi trả lời chưa. Người ra lệnh dẫn đến cho tôi [có lẽ là dẫn tôi đến]; sau đó người bảo tôi lại thăm các em của vua Ngụy.

 

Tôi đi ngay. Họ ở trong một phòng nhỏ khá tăm tối, không có gì là lịch lãm, điều này càng làm tăng sự tương phản như đập vào mắt giữa quá khứ và hiện tại của họ. Con số những công nương là 5. Một cô trạc tuổi 16 tôi thấy rất xinh đẹp. Một cô nhỏ độ 12 tuổi, con gái công chúa Bắc Hà [Ngọc Hân công chúa], cũng thường thôi; ba cô khác từ khoảng 16 đến 18, da ngăm ngăm nhưng diện mạo dễ coi; ba cậu con trai, một cậu 15 tuổi, da cũng ngăm ngăm, nét mặt tầm thường; hai cậu khác cũng trạc 12 tuổi, con công chúa Bắc Hà, diện mạo khôi ngô, điệu bộ dễ thương.

 

Sau cuộc đi thăm ngắn ngủi này, tôi được dẫn đến một nhà tù khác, ở đó tôi thấy Mad Theẽu Do’an [Bà Tư Đồ], vợ tướng thủy binh của địch mà nhà vua đã đốt [thuyền, tàu] ở Quy Nhơn [tức Bà Võ Văn Dũng]. Bà này đẹp, vẻ hiền hậu và lịch sự. Mẹ của ông tướng này tuổi khoảng từ 45 đến 50. Bà nói chuyện rất lâu với tôi và kêu than số phận rủi ro của bà.

 

Trong một nhà tù khác, gần đấy, giam, mẹ của tướng Thieuu Phoo [Thiếu Phó Trần Quang Diệu] thống lãnh quân đội hãm thành Quy Nhơn. [Cadière chú thích lầm là bà Trần Quang Diệu, thực ra bà Bùi Thị Xuân còn đánh trận Trấn Ninh tháng 2/1802, đến khi Trần Quang Diệu bị bắt, cũng không có bằng chứng gì là bà bị bắt cùng chồng]. Bà trạc độ 55 tuổi. Một khuôn mặt cao quý trong sự bất hạnh, bà tỏ ra cương nghị, chính trực mà không kiêu hãnh.

 

Sau đó đến vợ của ông tướng foo Maatthey [Phò Mã Nguyễn Văn Trị], bà là em gái của vua Ngụy, và cũng là một chiến sĩ. Bà Theuk hauv Dinh [Tư Khấu Định, chú thích Cadière, theo Cl. E. Maitre] vợ của tướng Pháo binh.

 

Bà Ton Lin Keen [?], vợ của Phó Thống Lĩnh thuỷ quân, vv và v.v. nhiều lắm, trong đầu phải có cuốn lịch sách mới nhớ lại được.

 

Lại theo sách của Cư sĩ Sripolieu, Bà Ngọc Hân Công Chúa sanh năm 1770 ( có sách ghi năm 1771), Nguyễn Ánh chiếm được Phú Xuân năm 1801 lúc đó Bà vừa tròn 30 tuổi. Bà đã hủy hoại nhan sắc kiều diễm của mình để qua mắt Nguyễn Ánh và quan quân của kẻ thù.

 

… Bà và con đã trà trộn với những người dân từ miền ngoài vào khai hoang vùng Cù Lao. Bà làm ruộng và tu hành tại giữa vùng Cái Tàu Thượng và phà An Hòa thị xã Long Xuyên. Sau đó Bà mất và mai táng ở rạch Cái Nai cách phà An Hòa 6km, cách chợ Cái Tàu Thượng cũng 6 km. (tr.169).

 

Tác giả Sripolieu kết luận: Bà Ngọc Hân thọ 50 tuổi mới mất (1770-1820).  Ngày tháng mất ta căn cứ vào lễ kỵ giỗ hàng năm của Bà là ngày 28 và 29 tháng 10 AL tại chùa Mộ bà Cái Nai. (tr. 174). Tác giả còn kết luận rằng chính Bà Ngọc Hân Công Chúa đã lập ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và (Hoàng tử Văn Đức kế thừa? )

 

Theo sử sách,Vua Quang Trung mất năm 1792 và Công Chúa Lê Ngọc Hân ở ngôi Bắc Phương Hoàng Hậu cho đến khi mất ngày 4 tháng 12 năm 1799, tại chùa Kim TiềnHuế, Đại Việt, năm ấy bà mới 29 tuổi.

 

Tạm kết:

 

Buổi trọng lễ của tín đồ BSKH tại Quận Cam mở đầu bẳng lễ vía bà Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc  Đây là một buổi lễ Vía lần đầu tiên ở Quận Cam về ngày mất của Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân ngày 15- 18 tháng 6, 2017 DL tức ngày 21-24 tháng 5 AL là dựa theo sách Đỉnh tập Quốc sử Di biên.

Cho đến nay, tìm hiểu ngày mất và nơi chôn cất của Bắc Cung Hoàng Hậu vẫn còn là bức màn huyền bí.

 

Nếu ai đó tin vào luật nhân quả và sự tái sinh thì thuyết Đức Phật Thầy Tây An là con của Vua Quang Trung và Công Chúa Ngọc Hân thoát nạn tru di của Nguyễn Ánh cũng là một công án đối với các nhà nghiên cứu, nhà sử học./

 

Lý Kiến Trúc

 

+++++++++++++++++++++++++++++

 

XEM THÊM:

 

Em gái Công chúa Lê Ngọc Hân là Công chúa Lê Ngọc Bình, là con gái nhỏ nhất (thứ 23) của vua Lê Hiển Tông, là vợ của vua Cảnh Thịnh (con trai của vua Nguyễn Huệ). Sau khi quyền thần Bùi Đắc Tuyên bị dẹp (1795), Lê Ngọc Hân làm mối Ngọc Bình cho vua Cảnh Thịnh.

 

Sau khi nhà Tây Sơn sụp đổ, Ngọc Bình trở thành vợ vua Gia Long (tức Nguyễn Ánh), sinh được hai hoàng tử nhà Nguyễn. Trong bộ sách Quốc sử di biên do Phan Thúc Trực soạn vào năm Tự Đức thứ 4 đến thứ 5 (18511852) đã chép như sau:

 

Năm Nhâm TuấtGia Long năm đầu (1802)…Ngày 21 Canh Thân, Thế tổ (Gia Long) đến kinh thành Thăng Long, hào mục bắt anh em Nguyễn Quang Toản dâng lên vua…Dâng nộp bà phi Lê Thị Ngọc Bình vào trong cung vua…[8]

 

Khi nhà Tây Sơn mất, trong dân gian truyền tụng câu nói về bà Ngọc Bình:

 

Số đâu có số lạ lùng,

 

Con vua lại lấy hai chồng làm vua.

 

Năm 1941, tác giả Phạm Thường Việt, một lần nữa lại cho rằng người lấy vua Gia Long là Lê Ngọc Hân.

 

Tuy nhiên, qua Quốc sử di biên và một số tư liệu khác, các nhà nghiên cứu khẳng định rằng người lấy vua Gia Long là Lê Ngọc Bình, em gái bà – người ít được biết đến hơn bà.

 

Do hai chị em Ngọc Hân và Ngọc Bình có nhiều điểm tương đồng: Hai bà đều là công chúa con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê, hai bà đều sinh trưởng ở ngoài Bắc, lớn lên đều lấy chồng là hoàng đế nhà Tây Sơn, nghĩa là cả hai bà đều là “Hoàng hậu Phú Xuân”. Do những điểm tương đồng căn bản đó mà những câu chuyện truyền tụng về cuộc đời hai bà, gây ra sự lầm lẫn giữa Ngọc Hân và Ngọc Bình. (theo wikipedia).

Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

Đại Lễ 18/5 lần thứ 76 ngày Đức H uỳnh Giáo ChủKhai Sáng Nền Đạo Phật Giáo Hòa Hảo

Đại Lễ 18/5 lần thứ 76 ngày Đức H

uỳnh Giáo ChủKhai Sáng Nền Đạo Phật Giáo Hòa Hảo

tổ chức ngày 28/6/2015

tại Thành phố Houston, Texas.

(Tạp Chí Xây Dựng – Năm Thứ 32 – số 815 – phát hành ngày 11-7-2015 tại Houston – Texas)

 

Vào lúc 11 giờ 30’ sáng Chủ Nhật ngày 28/06/2015, tại Hội Trường sang trọng của Phoenix Restaurant, số 15156 Bellair Blvd, Houston, TX. 77083, Ban Trị Sự Trung Ương Hải Ngoại GH/PGHH phối hợp với BTS.PGHH Houston (Texas) đã long trọng tổ chức Đại Lễ 18/5, kỷ niệm lần thứ 76 ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng nền Đạo Phật Giáo Hòa Hảo với sự tham dự của khoảng trên 650 người, gồm đại diện Quý Tôn Giáo bạn, Quý Cơ quan, Đoàn thể, Hội Đoàn địa phương, Quý Đại diện Dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ, Quý Cơ quan Truyền thông Báo chí và tín đồ PGHH từ các Tiểu bang Hoa Kỳ và Canada.

Trước giờ khai mạc Đại lễ, đồng đạo Trần Phú Hữu (P.HT. BTS/TƯHN) và đồng đạo Nguyễn Anh Dũng (HT. BTS/PGHH Houston) cùng trên 60 tín đồ PGHH đã cung nghinh chân dung Đức Huỳnh Giáo Chủ từ bên ngoài vào Hội Trường trước sự chứng kiến với lòng tôn kính của mọi người. Đặc biệt có đoàn Long Mã của Gia đình Phật tử chùa Pháp Luân mở đường và đóng góp vào chương trình Đại Lễ bằng những màn biểu diễn thật ngoạn mục, đẹp mắt cùng với tiếng trống trống chiêng, khiến không khí buổi Đại lễ thêm phần sống động.

Sau khi chân dung Đức Huỳnh Giáo Chủ được trân trọng an vị trên Lễ đài, chương trình Đại Lễ chính thức bắt đầu với Nghi thức chào Quốc Kỳ Việt và Mỹ, Đạo Kỳ PGHH và phút mặc niệm.

Điều khiển buổi lễ là hai MC: Nguyễn Thanh Giàu (Hội Trưởng BTS.PGHH miền Nam California) và Nguyễn Hoan (nữ xướng ngôn viên đài Apple TV 55.4 tại thành phố Houston). Thay mặt Ban Tổ chức, MC Nguyễn Thanh Giàu đọc thông qua Chương trình và giới thiệu các thành phần quan khách tham dự Đại Lễ.  Trong hàng quan khách, chúng tôi ghi nhận có sự hiện diện của:

– Hòa Thượng Thích Huyền Việt, Thượng Tọa Thích Giác Đẳng, Thượng Tọa Thích Nguyên Đạt, Thượng Tọa Thích Minh Ấn, Thượng Tọa Thích Nguyên Tánh, Thượng Tọa Thích Huyền Giác, Tỳ Kheo Thích Mật Hạnh, Thượng Tọa  Thích Nguyên Hồng, Thượng Tọa Thích Huệ Hoa, Tỳ Kheo Thích Quản Pháp, Ni Sư Thích Nữ Thanh Lương, Ni Sư Thoại Liên, cùng phái đoàn Phật tử từ các chùa Pháp Luân, chùa Liên Hoa, chùa Việt Nam, chùa A Di Đà, chùa Linh Sơn SW, chùa Đại Giác, Viên Thông Tự, Thiền viện Bảo Tích, Tịnh xá Pháp Giới, Tịnh xá Ngọc Tâm,…

– Linh mục Phạm Hữu Tâm, Chủ Tịch Ủy Ban Công Lý & Hòa Bình và Tiến sĩ Trịnh Tiến Tinh, Chủ Tịch Cộng Đồng Công Giáo Houston và Gaveston.

– Đầu tộc Đạo Trịnh Quốc Thế, Hiền tài Lê Tấn Tài, Hiền tài Nguyễn Hoàng Chung (Thánh Thất Cao Đài Houston), Lễ Sanh Ngọc Đức Thanh (Thánh thất Cao Đài North West Houston) và Chánh Trị Sự Nữ Phan Thị Sáu (Cao Đài Houston).

– Dân Biểu Quốc Hội Liên Bang Al Green (đơn vị 9), Dân Biểu Quốc Hội Tiểu Bang Hubert-Võ (đơn vị 149), Nghị Viên Richard Nguyễn (khu vực F), Joe Pennington (Uỷ viên Hội đồng quản trị Cảnh sát), Col. Fred Glazier (Tuyên úy), ADrian Garcia (cựu Cảnh sát Trưởng quận hạt Harriss), Patrick Reilly (UB xây dựng Tượng đài Việt Mỹ), Fred Hudgeon, Anne Hudgeon, Đại Úy Mark Morgan.

– Cựu Đại tá Trương Như Phùng (Tổng hội Cựu Chiến sĩ VNCH), cựu Đại tá Nguyễn Văn Nam (cựu Chủ Tịch Cộng Đồng NVQG Houston),

– Cựu Thiếu Tướng Văn Thành Cao, cựu Thiếu Tướng Cảnh Sát Trang Sĩ Tấn, cựu Đại Tá Hà Mai Việt, cựu Đại Tá Nguyễn Phước Trang, Bác Sĩ Mã Xái. . . .

– Quý Ông Lê Thiện Phúc, Nguyễn Thi, Xuân Nghĩa (đến từ Úc Châu).

Bên cạnh đông đảo tín đồ PGHH trong vùng Houston, còn có 14 phái đoàn của các Ban Trị Sự & Ban Đại Diện PGHH từ xa về tham dự, được ghi nhận như sau:

– Phái đoàn Arizona; – Phái đoàn Arlington (TX); – Phái đoàn Atlanta (GA); – Phái đoàn Bắc California; – Phái đoàn Biloxi (MS); – Phái đoàn Calgary (Canada); – Phái đoàn Dallas (TX); – Phái đoàn Florida; – Phái đoàn Houston (TX); – Phái đoàn Nam California; – Phái đoàn Sacramento (CA); – Phái đoàn San Antonio (TX); – Phái đoàn San Leon (TX); – Phái đoàn Washington D.C.

Bắt đầu chương trình, Đồng đạo Nguyễn Anh Dũng, Trưởng Ban Tổ Chức đọc Diễn văn Khai mạc. Đồng đạo Dũng ngỏ lời hân hoan chào mừng và cám ơn quý quan khách, quý đồng đạo PGHH từ khắp nơi về tham dự ngày Đại Lễ hôm nay. Nội dung bài Diễn văn nhắc lại nạn đói kinh hoàng tại Bắc Việt năm Ất Dậu (1945) cướp mất gần 2 triệu đồng bào ruột thịt. Chính Đức Huỳnh Giáo Chủ đã  mở cuộc Khuyến nông suốt 2 tháng qua 107 địa điểm khác nhau để kêu gọi nông dân Miền Tây Nam Việt (đa số là tín đồ PGHH) ra công cày cấy để cứu đói cho người dân miền Bắc và miền Trung lúc bấy giờ. Đồng thời, Đồng đạo Dũng còn nói rõ nguyên do vì sao người tín đồ PGHH phải tổ chức ngày Đại lễ 18/5 hàng năm và cuối cùng tuyên bố khai mạc buổi Đại Lễ 18/5 hôm nay.

Kế tiếp,  phần cử hành nghi lễ theo nghi thức PGHH do Đồng Đạo Hội Trưởng Ban Trị Sự Trung Ương Hải Ngoại cùng các vị Hội Trưởng BTS & BĐD các địa phương thực hiện vô cùng trang nghiêm và kính cẩn.

Như thường lệ, bài “Sứ Mạng của Đức Thầy” do chính tay Đức Huỳnh Giáo Chủ viết ngày 18/5 năm Nhâm Ngũ (1942) tại Bạc Liêu do Đồng Đạo Trần Phú Hữu (Phó HT. BTS/TƯHN) tuyên đọc bằng chất giọng rõ ràng, chân xác, khiến mọi người cùng lắng tâm theo dõi từng câu, từng lời vàng ngọc của Đức Thầy.

Tiếp theo, Đồng Đạo Nguyễn Hoàng Vũ (Hội Trưởng BTS/PGHH Georgia)  trình bày về “Ý nghĩa ngày Đại lễ 18/5”. Theo Đồng Đạo Vũ cho biết: “Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (1939) là ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ lâm phàm khai sáng nền Đạo Phật Giáo Hòa Hảo nhằm thi hành những Sứ Mạng cùng những Sắc lịnh do bề trên giao phó, để dìu dắt chúng sanh lánh nẻo trần ai, xa miền tục lụy. Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão là hồi chuông cảnh tỉnh nhân sanh, cùng việc báo trước những biến đổi trong vũ trụ, đất, Trời… Đồng thời, ngày 18/5 là một bước ngoặc lớn trong nền Phật giáo, hầu quy nguyên tính chân truyền của Đức Phật Thích Ca. Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão còn là ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ giáo truyền những giáo điều được: Rút trong các luật các kinh.”, hầu giúp mọi người nhận thức rõ về Phật pháp, về luân hồi sanh tử, về những điều khổ ở Cõi Ta Bà, những điều vui ở Cõi Cực Lạc…, cùng những phương thức tu học, nếu áp dụng triệt để vào những sinh hoạt hàng ngày, sẽ giúp hành giả trở nên chánh trực, hiền lương, toàn thiện, toàn mỹ, đạt đến sự đại bi, đại giác và dần đi đến sự giải thoát.

Đó chính là Ý nghĩa thiêng liêng của ngày 18/5, ngày mà hàng triệu tín đồ PGHH từ khắp mọi nơi trên thế giới đang hân hoan đón chào với niềm tin mãnh liệt nhất.”

Trong bài Diễn từ, Đồng Đạo Nguyễn Văn Tạo nhân danh Hội Trưởng BTS. TƯHN Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo, cung kính chào mừng tất cả quý vị quan khách đã không quản mất thời giờ và công khó, tới tham dự Đại lễ 18/5 âl, kỷ niệm 76 năm ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo, được Giáo Hội PGHH tổ chức ngày hôm nay tại Thành phố Houston, TX.

Đồng Đạo Nguyễn Văn Tạo phát biểu: “Quý vị chắc chắn đã ít nhiều biết rõ PGHH hình thành và phát triển như thế nào trong suốt 76 năm thăng trầm của Tổ quốc Việt Nam. Quý vị cũng đã biết ít nhiều về thân thế và sự nghiệp của Đức Huỳnh Giáo Chủ trong giai đoạn lịch sử đầy nguy biến 1939-1947.

 “Sau biến cố 30/4/1975, cùng dòng người bỏ nước ra đi lánh nạn CS, thì trong đó cũng có vài trăm ngàn người tín đồ PGHH chịu chung số phận.

 “40 năm trôi qua nơi đất khách quê người, một phần lớn con em chúng ta ký ức Việt Nam chỉ lờ mờ trong tâm khảm và một số không nhỏ chẳng biết Việt Nam là gì, ở đâu. Tình trạng đó đã khiến chúng ta phải quyết làm một cái gì để tránh họa mất gốc, bảo tồn văn hóa Việt, trong đó có tôn giáo của người Việt.

“Trải qua hơn hai thập niên kết nối hoạt động đầy thăng trầm. Bằng nỗ lực quyết tâm, người tín đồ PGHH đã vượt khó khăn, xóa bỏ dị biệt để kết hợp, đoàn kết lại; kết quả, năm 2003 một Ban Trị Sự Trung Ương Hải Ngoại (BTS.TƯHN) Giáo hội PGHH đã được thành lập cùng làm việc với 15 Ban Trị Sự, Ban Đại Diện PGHH địa phương, rải rác trên nhiều thành phố, tiểu bang ở Hoa Kỳ và Canada. Hệ thống Giáo Hội PGHH với sự lãnh đạo là BTS.TƯHN đã kết nối tuyệt đại đa số các tín đồ PGHH hoạt động nhằm phát huy đạo pháp và hỗ trợ cho các đồng đạo đang bị nhà cầm quyền CSVN bức hại, giam cầm tại quê nhà với lập trường dứt khoát không chấp nhận chủ nghĩa độc tài Cộng sản VN phi nhân quyền và phi tự do tôn giáo.

“Trong tương lai gần, chúng tôi đang dự trù mở các khóa Giáo lý Căn bản tại các địa phương, đặc biệt dành cho trẻ em qua các lớp học lưu động, hoặc online, hoặc trên diễn đàn Paltalk…

“Trong tinh thần nhập thế đạo Phật qua Giáo lý PGHH, để hoàn thành trách nhiệm trong hiện tại và nhìn về tương lai nhằm thực hiện các mơ ước chân chánh đạo-đời, chúng tôi thiết tha kêu gọi sự hỗ trợ của các đồng đạo khắp mọi nơi, sự giúp đỡ của quý thân hữu để nhiệm vụ của chúng tôi được hoàn thành tốt đẹp.”

Sau bài Diễn từ của Đồng Đạo Hội Trưởng BTS.TƯHN là phần phụng ngâm Sấm Giảng và Thi Văn Giáo Lý của Đức Thầy qua bài “Cho Ông Cò Tàu Hảo” do Đồng Đạo Võ Kim Thoa (Đại diện BĐD/PGHH San Antonio) đảm trách. Bằng giọng ngâm mượt mà, trong trẻo và truyền cảm, Đồng Đạo Thoa đã được người nghe tán thưởng nhiệt liệt.

Chương trình kế tiếp là phần cấp Giấy Chứng Nhận và phát thưởng cho các học viên vừa hoàn mãn khóa học Giáo lý Căn bản do Ban Phổ Thông Giáo Lý BTSTƯHN tổ chức tại Hội Quán PGHH Houston từ ngày 14/6 đến 25/6/2015 vừa qua. Ban Tổ chức đã kính mời một số quan khách lên Lễ đài trao tặng các phần quà cho 20 học viên, trong đó có 6 phần thuởng đặc biệt dành cho 6 học viên xuất sắc. Tiếp theo đó, Đồng Đạo Lê Trọng Đáo, Thủ khoa khóa học đọc bài phát biểu cảm tưởng rất ý nghĩa, nói lên sự lợi ích của khóa học và ngỏ lời cám ơn Ban Tổ chức đã đem Giáo lý Tổ Thầy phổ biến rộng rãi khắp nơi.

Sau đó, quý vị lãnh đạo tinh thần các Tôn giáo bạn là Thượng Tọa Thích Giác Đẳng, Linh Mục Phạm Hữu Tâm, Hiền tài Lê Tấn Tài được mời lên diễn đàn để phát biểu cảm tưởng về ngày Lễ Đạo. Hầu hết, Quý vị nầy đều tán thán công đức mở Đạo cứu Đời của Đức Huỳnh Giáo Chủ mà thời điểm đáng ghi nhớ là ngày 18/5 năm Kỷ Mão và Giáo Lý siêu mầu mà Đức Thầy đã dày công hoằng hóa khiến cho hàng triệu tín đồ PGHH trở nên những thiện nhân, luôn hữu dụng cho nhân quần xã hội, đặc biệt thể hiện qua những công tác từ thiện, xã hội… từ trong nước đến hải ngoại. Đặc biệt, các vị Dân cử địa phương trao tặng 3 BẰNG TƯỞNG LỤC cho Đồng Đạo Nguyễn Anh Dũng, HT.BTS/PGHH Houston về những công tác Thiện Nguyện trong thời gian qua.

Tiết mục ngoài chương trình nhưng được mọi người cổ võ, tán thưởng là những bài ca Vọng cổ nói lên Ý nghĩa ngày 18/5 và tình đời ý đạo do các thân hữu Nhân Dũng và Trần Thanh Tùng cống hiến.

Sau cùng, Đồng Đạo Trưởng Ban Tổ Chức Nguyễn Anh Dũng tuyên bố bế mạc buổi Đại Lễ (lúc 2 giờ trưa cùng ngày) và kính mời Quý vị Quan khách cùng quý đồng đạo dùng bữa cơm chay thân mật nhằm tỏ lòng biết ơn sâu xa đến tất cả mọi người đã dành thời giờ quý báu đến tham dự Đại Lễ hôm nay./.

Hình: Bạch Cúc, Sơn Nam

Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

Ông Nguyễn Văn Cội, cố vấn PGHH Thuần Túy Hải Ngoại, qua đời

Ông Nguyễn Văn Cội, cố vấn PGHH Thuần Túy Hải Ngoại, qua đời

Ông Nguyễn Văn Cội. (Hình: Gia đình cung cấp)

PITTSBURGH, Pennsylvania (NV) – Ông Nguyễn Văn Cội, một nhà hoạt động Phật Giáo Hòa Hảo, vừa qua đời lúc 12 giờ 25 phút trưa Thứ Ba, 18 Tháng Tư, tại Pittsburgh, Pennsylvania, hưởng thọ 71 tuổi, theo cáo phó của gia đình cho biết.

Theo cựu Dân Biểu Dương Thanh Tồn, một người bạn nối khố, từng ở tù chung, và từng hoạt động chung với người quá cố, cho nhật báo Người Việt biết, ông Cội là cố vấn Ban Trị Sự Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy Hải Ngoại.

Ông Cội sinh ngày 28 Tháng Mười Hai, 1946 tại Long Xuyên, An Giang, Việt Nam.

Linh cữu người quá cố được quàn tại John A. Freygovel Son Inc. Funeral Home, 4900 Centre Avenue, Pittsburgh, PA 15213, điện thoại 412-621-1665, theo cáo phó.

Theo chương trình tang lễ, Chủ Nhật, 23 Tháng Tư, sẽ là lễ cầu siêu và tưởng niệm (dành riêng cho gia đình), thăm viếng, lễ cầu siêu và tưởng niệm, và gia đình cảm tạ và tri ân.

Sang ngày Thứ Hai, 24 Tháng Tư, sẽ là lễ cầu siêu, di quan, và hỏa táng. (Đ.D.)

Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy tổ chức Lể Đản Sanh Đức Huỳnh Giáo chủ

Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy tổ chức Lể Đản Sanh Đức Huỳnh Giáo chủ

 

image023

Ảnh minh họa

 

TS. LêPhước Sang

 

Hội truởng HĐTSTƯ GH-PGHH

 

From: Tam Chanh <chanhtam.48@gmail.com>

 

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO HOÀ THUẦN TUÝ CHẤP NHẬN MỌI ĐÀN ÁP ĐỂ TỔ CHỨC NGÀY LỄ ĐẢN SANH ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ 25/11 âl.

 

Cuộc họp của Giáo Hội Trung Ương Phật Giáo Hoà Hảo Thuần Tuý với Giáo hội các tỉnh thành đã đồng thanh nhất quyết, phải tổ ngày đại lễ kỷ niệm lần thứ 98 năm đản sanh của Đức Huỳnh Giáo Chủ.

 

Cuộc họp diễn ra tại tư gia ông Phó Hội Trưởng Trung Ương Phan Tấn Hoà thuộc quận Ô Môn, tp Cần Thơ vào chiều ngày 02/12, dưới sự chủ toạ của cụ Nguyễn Văn Điền Hội Trưởng Trung Ương.

 

Ông Nguyễn Văn Cường Tổng Vụ Trưởng Vụ Tổ Chức thông báo rằng: “Cuộc họp đã thống nhất 100% ý kiến là quyết tâm tổ chức ngày Khánh đản Đức Huỳnh Giáo Chủ. Mặc dù nhà cầm quyền tỉnh An Giang đã làm việc với một số chức sắc GHPGHHTT ở huyện Chợ Mới nơi diễn ra cuộc lễ là cấm tổ chức.”

 

Thay mặt cho Ban tổ chức cuộc lễ tại điểm Lễ chính của GHPGHHTT, ông Hà Văn Duy Hồ Hội Trưởng tỉnh An Giang phát biểu trước cuộc họp: “ Chúng tôi sẵn sàng chấp nhận mọi khó khăn dù cho nhà cầm quyên có đối xử như thế nào đi nữa. Với bổn phận của người tín đồ trung với Đạo hiếu với Thầy phải vượt qua trở ngại để tổ chức ngày lễ này.”

 

Trong các ngày qua từ 29/11, công an huyện Mới đã mời làm việc với các thành viên ban tổ chức. Như ông Phan Văn Chúng, Hà Văn Duy Hồ, Phan Văn Bé Năm, ông Nguyễn Văn Vinh. Nhà chức trách cho rằng GHPGHHTT là tổ chức tôn giáo không được chính quyền công nhận nên cấm tổ chức.

 

Ông Phan Văn Chúng cho biết: Họ bảo với tôi là tổ chức các ông bất hợp pháp nên cấm các ông tổ chức lễ. Tôi giải thích với họ rằng GHPGHHTT có trước 1975, vả lại chúng tôi cũng chưa thấy văn bản nào của nhà nước cấm GHPGHHTT hoạt động.

 

Được biết ngày lễ đản sanh của Đức Huỳnh Giáo Chủ vào 25/11 âl, tương song 10/01/2018, là ngày kỷ niệm lần thứ 98 năm.

 

Ngày lễ này cũng như các ngày lễ khác của Đạo, nhà cầm quyền VN chỉ cho phép tổ chức GHPGHH quốc doanh mới có quyền tổ chức. Ngoài ra, các tín đồ và tổ chức tôn giáo độc lập đều bị nhà nước ngăn cản và trấn áp.

Nhóm TT PGHH TT

Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

Nhà cầm quyền CSVN sẽ đưa bốn tín đồ Phật giáo Hòa Hảo ra xét xử theo điều 88

Nhà cầm quyền CSVN sẽ đưa bốn tín đồ Phật giáo Hòa Hảo ra xét xử theo điều 88

CTV Danlambao – Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (có trụ sở tại số 4 đường Tôn Đức Thắng, phường Mỹ Bình, Tp Long Xuyên) sẽ đưa bốn tín đồ Phật giáo Hòa Hảo ra xét xử với cáo buộc “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” vào lúc 7g 30 phút ngày 23/1/2018.
Bốn người kể trên là các ông: Vương Văn Thả sinh 1969 và con trai Vương Thanh Thuận sinh năm 1990. Nguyễn Nhật Trường và người anh em song sinh Nguyễn Văn Thượng (sinh 1985).
Trong đó, Vương Thanh Thuận, trình độ văn hóa 7/12. Cha anh này, ông Thả, trình độ văn hóa: lớp 1/12. Hai anh em Nguyễn Nhật Trường và Nguyễn Văn Thượng đều không biết chữ. Cả 4 người trên đều bị truy tố khoản 2 điều 88 có mức hình phạt từ 10 đến 20 năm tù giam.
Ông Vương Văn Thả từng là một tù nhân lương tâm. Ông bị bắt lần đầu vào năm 2013 và bị kết án 3 năm tù giam với cáo buộc “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo Điều 258 Bộ luật hình sự.
Ông bị bắt lần hai vào ngày 18 tháng 5 năm 2017. Trước đó, nhà cầm quyền huy động lực lượng đông đảo gồm công an, côn đồ bao vây, khủng bố, cô lập gia đình ông. Thậm chí còn ném đá vào nhà, cắt điện, cắt nước và không cho người lạ đến gần khu vực nhà ông cũng như không cho các thành viên trong gia đình được tự do đi lại.
Giống như nhiều người khác, ông Thả cũng bị đánh đập trong khi bị bắt.
Luật sư Nguyễn Khả Thành, người đã đến tòa án An Giang để làm các thủ tục bào chữa cho ông Thả và ba người còn lại nhưng “vì một lý do khá đặc biệt không thể tham gia” đã bình luận trên trang facebook cá nhân như sau: “Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (mẹ Nấm) bị khởi tố cùng tội danh này nhưng chỉ ở khoản 01 và Quỳnh bị xử phạt 10 năm tù giam.
 
Bốn bị cáo nói trên cùng bị truy tố tội danh giống Quỳnh nhưng nặng hơn, (khoản 2 Điều 88) có mức hình phạt từ 10 đến 20 năm tù, mức án trong phiên tòa sắp tới chắc sẽ không thấp, nhất là với Vương Văn Thả.
 
Biết đọc, biết viết là một công cụ quyền lực của cá nhân, và là một nhân tố phát triển xã hội và con người. Các kỹ năng đọc và viết là điều kiện tiên quyết cho việc học tập rộng hơn các kiến thức, kỹ năng, thái độ và những giá trị cần thiết để tạo ra các xã hội bền vững. (Theo Việt Nam Net ngày 26/12/2017 số người mù chữ của Việt Nam hiện nay khoảng gần 2 triệu người).
 
Giờ là thế kỷ XXI bạn vui hay buồn khi có bị cáo bị truy tố tội: “Tuyên truyền chống Nhà nước….” lại không biết chữ”.
 
Lời bình của Luật sư Nguyễn Khả Thành đã nói lên bản chất của một phiên tòa cộng sản. Và không khó để hình dung ra diễn biến, kết quả phiên tòa trong ngày mai cũng như những gì mà các ông Thả, Thuận, Trường, Thượng phải gánh chịu.
22/1/2018
Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

Chút tâm tình của người hòa hảo

Chút tâm tình của người hòa hảo


CHÚT TÂM TÌNH CỦA NGƯỜI HÒA HẢO


K
ính,
Người Hòa Hảo đa phần là nông dân, việc tu học Phật pháp cũng may được Đức Thầy chỉ dẫn bằng những lời thi ca mộc mạc, chân tình, dễ hiểu, dễ thuộc, dễ làm. Nên ngoài cách trau tâm, sửa tánh, Đức Thầy dạy tín đồ phải hài hòa trong cách cư xử với đời, đặc biệt “Phải cung kính các Tăng sư tu hành chân chánh…”
Quý trọng “Tam Bảo” người Phật Giáo H òa Hảo biết mình là Phật nhi nên không dám bất kính với quý sư và đặc biệt không đụng chạm đến cách thức tu hành của tôn giáo khác.
Nhưng gần đây có những trường hợp các Đại đức giảng sư Phật giáo thường xuyên tạc, kỳ thị đến đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Điển hình Thích Trí Huệ với đề tài “Truyền thuyết thất sơn”, Thích Thiện Huệ với luận văn “Thực chất đạo Hòa Hảo”. Những luận đề được sản sinh từ tư tưởng không tốt đã được Học Viện PGVN ra công văn xin lỗi toàn thể tín đồ PGHH. Những thiết tưởng vết dầu loang ấy đến đó đã chấm dứt! nào ngờ gần đây trên video, youtube lại xuất hiện đoạn clip khoảng 6 phút nói về Đạo Hòa Hảo của Thích Phước Tiến (TPT), nội dung ông phân tích về giáo lý PGHH “chỉ là gôm lại những tín ngưỡng nhân gian và của Đức Phật một ít rồi gắn cho một tên mới. Nói mới chớ có mới gì đâu?”
Khi khẳng định điều này không biết TPT có vận dụng tâm hạnh, phúc trí của người học Phật không? hay chĩ vì tư thù, lợi kỷ để miệt thị tôn giáo khác, người khác vì không theo về với mình. Trước khi ngồi trên pháp tòa với chức sắc Phó Ban Văn Hóa Phật giáo Tp/HCM – Phó Tổng Thư ký Viện Nghiên cứu Phật học – Ủy viên Ban Hoằng phápTrung Ương GH/PGVN, ông có thông hiểu Điều 1, 8, Chương I của Pháp Lệnh Tín ngưỡng tôn giáo đã qui định rất rỏ: “Công dân có tín ngưỡng tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo, cũng như công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau, không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Không được phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng tôn giáo để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo, gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, đã được luật pháp Việt Nam ban hành không? Và khi giảng pháp ông cho ra những sản phẩm trí huệ “Nhìn lại chính mình” hay “xin lỗi chính mình” rất hay nhưng ông có thực nghiệm chưa?
Tôi thiết nghĩ với trình độ và phẩm hạnh của ông lời nói phải đi đôi với thực hành mới đúng! đằng này không hiểu sao, Đại đức quá vội vàng khi đưa ra nhận định về Tôn giáo bạn với những lời lẽ hùng hổ thiếu hiểu biét!
Đạo Phật Giáo Hòa Hảo được Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng ngày 18/5 năm Kỷ Mão (1939) tại làng Hòa Hảo. Là một tôn giáo nội sinh, giáo lý dạy người Việt bằng tiếng Việt, lấy tứ ân là phương châm hành đạo để giữ gìn và tôn vinh đạo lý truyền thống Dân tộc. Những yếu lý của pháp môn được Đức Giáo Chủ canh tân cho phù hợp với nếp sống bản địa theo thể loại thơ ca nhưng vẫn nguyên thỉ tính vô vi chân truyền của Đức Phật. Kỳ tích này được nhiều nhà thức giả trong và ngoài nước biết đến và bộ Tự điển Bách Khoa uy tín thế giới BỘ ENCYCLOPAEDIA BRITANNICA – ANH QUỐC ghi lại.
Nguyên văn bản tiếng Anh, nguồn Website: www. Britannica. com. Inc.
Huynh Phu So.
Vietnamese philosopher, Buddhist reformer, and founder (1939) of the religion Phat Giao Hoa Hao
.
He set about preaching Buddhish reform, advocating a return to Theravada (Way of the Elders) Buddhism, from the Mahayana (Greater – Vehicle) form prevalent in Vietnam, and stressing austerity, spartan living, simple worship, and personal salvation. Hoa Hao is an amalgam of Buddhism, ancestor worship, animistic rites, elements of Confucian doctrine, and indigenous Vietnamese practices.
In speaking, he exerted an almost hypnotic influence over his audiences and became known as Dao Khung (Mad Monk). He predicted with accuracy the fall of France in world war 2, the Japanese invasion of Indochina …
His success as a prophet led his followers to call him the Phat Song (Living Buddha).
Huỳnh Phú Sổ là một triết gia Việt Nam, là người chủ trương chấn hưng Phật giáo và là người sáng lập đạo Phật Giáo Hòa Hảo năm 1939.
Ông bắt đầu thuyết giảng về sự chấn hưng nền Phật giáo, chủ trương sự quay trở lại tinh thần Phật giáo nguyên thủy (Thượng tọa phái: Đạo của những người đã có thành quả tu tập) và nối kết với tư tưởng đại thừa thịnh hành khắp Việt Nam, Ông đề cập sâu đến cách sống mộc mạc, bền bỉ, cùng hình thức thờ cúng đơn giản và sự tự giải thoát. Đạo Phật Giáo Hòa Hảo là một sự kết hợp giữa đạo Phật và truyền thống thờ cúng Tổ tiên cùng với những nghi thức nuôi dưỡng đời sống tâm linh, cùng những tinh tuý của Khổng giáo và những sinh hoạt thực tiễn phù hợp bản xứ người Việt Nam.
Bằng lời nói của mình, Ông có khả năng cuốn hút thính gỉả một cách mãnh liệt và được biết đến dưới danh hiệu Ông “Đạo Khùng “. Ông đã tiên đoán chính xác sự thất bại của Pháp trong thế chiến thứ hai và sự xâm chiếm của người Nhật ở Đông Dương.
Sự thành công của Ông trong vai trò một vị Giáo chủ đã khiến cho những người tín đồ gọi Ông là Phật Sống.
Và chúng tôi còn nhớ, khi một lần tiếp xúc với Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo trong bữa cơm thân mật, ông Thích Giác Toàn, bậc Thầy của TPT còn đọc ngâm bài Thơ “Tình Yêu” của Đức Huỳnh Giáo Chủ rất chân thành trước khi dùng bữa và khen ngợi không ngớt lời.
– Về cách thức đọc tụng, đạo PGHH không phải dùng mỏ chuông làm nhịp, mà chỉ diễn ngâm theo tiết điệu đặc thù Sấm giảng (không phải điệu Nam Ai của Huế cũng không phải điệu hò ru con Nam Bộ), nhưng vẫn trầm bỗng, khoan nhặt dễ âm hưởng lòng người.
– Về yếu lý pháp tu Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng không sao y bản chánh theo nguyên bản kinh điển nguyên thỉ. Ngài chỉnh lý, sắp xếp lại không gian, thời gian cho khế lý, khế cơ với chúng sanh thời mạt pháp. Ví dụ như:
* Xưa Đức Phật nói pháp Tứ Đế (Tập, Diệt, Khổ, Đạo) trong thời A Hàm 12 năm tại Vườn Lộc Giả. Nay Đức Thầy chúng tôi rút gọn lại vỏn vẹn 18 câu thơ thất ngôn và đặt lại trình tự (Khổ, Tập, Đạo, Diệt).
* Phương pháp diệt ngủ uẩn (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) không cần phải dụng trí bát nhã để quán chiếu giai không, mà phải loại trừ (Tham, sân, si, nhân, ngã) để đạt đến “Vô pháp tướng mới là thật tướng”.
– Tôn chỉ hành đạo: chủ trương tín đồ là hạng “Tại Gia Cư Sĩ” thờ cúng tại nhà “Vừa lo làm ăn vừa lo tu hiền chơn chất”. Nghi thức hành đạo không chú trọng hình thức tượng cốt, chỉ thờ trần dà tượng trưng cho sự hòa hợp nhân loại và tinh thần cao thượng của nhà Phật.
– Tư tưởng hành đạo: Đức Huỳnh Giáo Chủ dạy tín đồ hòa quang đồng trần “Cái hành đạo đúng theo ý tưởng xác thực của nó là làm thế nào phát hiền được những đức tánh cao cả thực hành trên thiệt tế bằng mọi biện pháp để đem lại cái phước lợi cho toàn thể chúng sanh” thì đó là sự thỏa mãn trong đời hành đạo của mình.
Qua những đặc điểm trên Sư thúc gẫm kỹ lại xem câu nói của Đại đức có chính xác không?
Nhưng cho dù Đạo PGHH hay Đạo Cao Đài có những cách thức dạy tín đồ có na ná giống ai đi nữa thì “Đại đức” cũng am hiểu hạnh lành bình đẳng của một Tăng sĩ đang học theo tinh thần lục hòa Phật dạy sẽ không xen vào chuyện nội bộ của người. Vã lại một công dân bình thường còn biết tôn trọng pháp luật lẽ nào Đại đức lại vô cảm xem thường!
Chúng tôi cũng thường nghe những bậc Thầy dẫn dắt ông như: ông Thích Giác Toàn, Thích Trí Quảng, Thích Nhất Hạnh không ai nặng lời xem thường chúng sinh. Những người dân đã không nài gian lao vất vã để tạo ra của cải để trịnh trọng mang phẩm vật đến chùa chiền dâng cúng tam bảo và các tăng sư nuôi thân cho khỏe để an tâm tu học. Những con đường làng, những cây cầu nối liền muôn nẽo cho đại đức qua lại dễ dàng thi hành phận sự hoằng pháp độ sinh để thù đáp ân nợ cuộc đời trong đó cũng có người Cao Đài, Hòa Hảo mà!
Mong rằng TPT nên xem lại đĩa “Xin lỗi chính mình” để nhận ra được chỗ lỡ lầm đã làm cho lòng dân bức xúc. Ông thưà hiểu rằng mọi sự việc trên đời gặp nhau đều do nhân duyên. Người có đầy đủ đức tin thì cho dù đại đức có nói khô nước miếng cũng không bao giờ thay đổi được lập trường của họ đâu. Đại đức cố luận lý bao nhiêu khi trong khi tâm không bình tĩnh nó sẽ biểu lộ những cử chỉ của một người mang tư tưởng tranh đấu vì quyền lợi riêng tư, hiệu quả tốt đẹp không đến mà nó lại trở thành hệ quả đau thương khi đại đức đánh mất hạnh lành của một “Sứ giả Như Lai”. Đại đức hãy tâm niệm lời Phật dạy:
Thập phương nhứt lạp mễ
Như Đại Tu Di sơn
Thực liễu bất tu Đạo
Phi mao đái giác hườn.


Buinho Nguyen

Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

Blog at WordPress.com.