Tài Liệu Tham Khảo

Vượt Khỏi Giáo Điều ( Beyond Dogma)

Vượt Khỏi Giáo Điều
Beyond Dogma)
Nguyên tác: His Holiness Dalai Lama
Việt dịch Tâm Hà Lê Công Đa

—o0o—

Hy vọng rằng cuốn sách này sẽ đóng góp thêm vào mối thông cảm chung vượt ra ngoài biên giới của giáo điều học thuyết, và cho cả bình an của tâm hồn và hoà bình thế giới.

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma
France, 1993

Mục Lục

LỜI NGƯỜI DỊCH
Tâm Hà Lê Công Hà

LỜI NÓI ÐẦU
Steven D. Goodman

PHẦN THỨ NHẤT
Những Quán Tưởng Về Tân Thiên Niên Kỷ

PHẦN THỨ HAI
Tâm Linh và Chính Trị

PHẦN THỨ BA
Bất Bạo Ðộng: Một Tâm Gương Ðể Noi Theo

PHẦN THỨ TƯ
Vượt Khỏi Giáo Ðiều

PHẦN THỨ NĂM
Duyên Khởi và Tánh Không

 

Lời Người Dịch

Thế giới bước vào thiên niên kỷ mới mang theo cùng với nó những vấn nạn lớn của con người muôn thuở trên khắp các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, môi sinh, như là những hệ quả tiếp nối của một thế kỷ đầy biến cố sôi động. Bên cạnh đó, khoa học kỹ thuật với tốc độ phát triển nhanh chóng đã mang đến cho nhân loại những thành tựu vượt bực, nổi bật nhất là trong hai bộ môn Tin học và Sinh học. Tất cả đã góp phần làm thay đổi khuôn mặt thế giới cả trên hai bình diện nhận thức lẫn cơ cấu. Các quốc gia, các cấu trúc xã hội kể cả tôn giáo hiện đang rung chuyển, và tùy theo mức độ của mình đang cố gắng chuyển mình để bắt kịp tốc độ thay đổi nhanh chóng đó. Những đổi thay này cũng mang đến cho con người của thiên niên kỷ mới những khủng hoảng mang tính thời đại. Ðó là các cuộc khủng hoảng về tâm linh, về bản sắc và cơ cấu. Ðối diện với các cuộc khủng hoảng sâu sắc này, những người tự thấy có ý thức trách nhiệm góp phần mở ra những phóng lộ cho tương lai không thể không quay trở về với những giá trị tinh thần đã được thử thách với thời gian, trong đó có Phật giáo, và họ đã tìm đến một khuôn mặt có trọng lượng, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma.

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đời thứ mười bốn là một trong những nhà lãnh đạo tinh thần được thế giới tôn kính, không phải chỉ do những kiến thức uyên thâm của Ngài về giáo lý mà còn là những hiểu biết sâu sắc của Ngài về những khía cạnh của cuộc sống đời thường được nhìn qua lăng kính Phật giáo. Với kiến thức quảng bác và một tầm nhìn rộng mở, không biên kiến, Ngài được xem như là một vị cố vấn tinh thần của nhân loại trong thời đại ngày nay. Trong chuyến viếng thăm nước Pháp vừa qua, một xứ sở từ lâu vẫn được coi như là một trong những chiếc nôi của tư tưởng nhân loại, Ngài đã có dịp gặp gỡ, trao đổi quan điểm với giới trí thức Âu Châu, cụ thể là trí thức Pháp, liên quan đến tất cả các vấn đề đương đại. Tác  phẩm ”Vượt Khỏi Giáo điều” của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma được ra đời trong khung cảnh này. Ðó là một tập hợp những bài nói chuyện, thuyết giảng, và đặc biệt là những cuộc đối thoại phản ánh hầu hết những  suy nghĩ , những lý giải về các vấn nạn đang chi phối nhân loại trong thiên niên kỷ mới. Từ những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống cá nhân con người như tình dục, ngừa thai, phá thai, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã đề cập đến những vấn nạn ở tâm mức cao hơn liên quan đến những bất công trong xã hội, hố sâu ngăn cách giữa người giàu và người nghèo, giữa các quốc gia nhược tiểu và tiên tiến và đây chính là đầu mối của các cuộc xung đột chính trị, hoặc đôi khi được núp bóng dưới danh nghĩa tôn giáo, như đang xảy ra trên thế giới hiện nay.

Như một vị lương y nhìn rõ được bệnh thái, thấy được nguyên nhân sâu xa những khổ nạn của con người, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, với tư cách là một Phật tử có trách nhiệm, cũng đã cống hiến cho nhân loại những phương thức trị liệu mà Ngài nghĩ rằng Phật giáo có thể chia xẻ, góp phần để giải quyết những vấn nạn, khủng hoảng này. Giải pháp mà Ngài đưa ra được xây dựng trên tinh thần nhân bản và khai phóng của Phật giáo, lấy Ðại Từ Bi làm nền tảng, Trung Ðạo là hướng đi chủ yếu, và Bất Bạo Ðộng là phương châm hành động. Ðây là thông điệp chính mà Ðức Ðạt Lai Lạt Ma muốn rao truyền cho con người thời đại, là sợi chỉ vàng xuyên suốt tác phẩm ”Vượt Khỏi Giáo điều”. Từ Bi, Trung Ðạo và Bất Bạo Ðộng như thế phải được thể hiện ở mọi cấp độ của cuộc sống, trong nhận thức lẫn hành động ngõ hầu xây dựng được sự bình an nội tâm trong mỗi con người để tiến đến việc kiến tạo một thế giới an lạc. Tin tưởng một cách vững chắc vào bản chất thiện lương vốn có của con người, Ngài hy vọng tâm thức của nhân loại sẽ chuyển hoá theo hướng tốt lành. Ðó cũng là hy vọng của mỗi chúng ta, những người Phật tử đang thực hành Bồ Tát Ðạo trong tâm nguyện chuyển hoá nhân gian thành Tịnh Ðộ.

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma qua ”Vượt Khỏi Giáo điều”  cũng đã phân tích một cách rõ ràng tinh thần Bất Bạo Ðộng của Phật giáo và khẳng định rằng tìm kiếm hoà bình qua đường lối bất bạo động chính là sự kết hợp giữa trí tuệ và các phương tiện thiện xảo, đó là lý do giải thích tại sao Ngài đã áp dụng phương sách này trong cuộc đấu tranh chính nghĩa dành độc lập cho Tây Tạng hiện nay. Nhiều người có thể không đồng ý với Ngài về phương thức đấu tranh bất bạo động, nhưng một điều ta không thể không đồng ý với Ngài là dưới chính sách diệt chủng và hủy diệt văn hoá của Trung Cộng, quốc gia Tây Tạng hiện đang đứng bên bờ vực thẳm của nạn diệt vong. Dưới sự thống trị của Trung Cộng, Tây Tạng hiện đang xuống cấp trầm trọng trên các lãnh vực môi sinh, nhưng điều tệ hại nhất theo Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, là việc Trung Cộng đã sử dụng toàn bộ đất nước này trở thành kho chứa vũ khí nguyên tử, biến Tây Tạng thành  một bải rác chứa các chất thải nguyên tử của họ. Trước tình hình này, Ngài đã lên tiếng cảnh báo cùng dư luận thế giới về hiểm hoạ ô nhiễm các giòng sông lớn tại Á Châu do tình trạng nhiễm độc tại đầu nguồn, nói rõ ra là tại Tây Tạng do Trung Cộng gây ra cho toàn khu vực và các quốc gia sống dọc theo những dòng sông này, kể cả Ấn Ðộ, Bangladesh, Hồi Quốc, Thái Lan, Lào, và như một định mệnh lịch sử ,Việt Nam sẽ là một quốc gia nạn nhân nằm ở điểm cuối của một trong những dòng sông lớn này, Cửu long giang.

”Vượt Khỏi Giáo điều” không phải chỉ đề cập đến những vấn nạn đời thường, nó còn tiến xa hơn một bước nữa là vạch ra cho con người một hướng đi, một hành trình tu tập tâm linh hầu có thể đạt đến cứu cánh giác ngộ giải thoát ngay trong kiếp sống này. Bằng một ngôn ngữ trong sáng và giản dị, trong tác phẩm này Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã triển khai hai lý thuyết triết học căn bản của Phật giáo là Duyên Khởi và Tánh Không, đối chiếu và lý giải chúng dưới ánh sáng khoa học, làm nổi bật được yếu tính của Phật giáo như là một tôn giáo được xây dựng trên cơ sở thuần lý, không phải là một tôn giáo dựa trên những niềm tin mù quáng. Ngài cũng vạch rõ cho ta thấy những tác hành của nghiệp báo và luật nhân quả, những nguyên nhân đưa đến phiền não khổ đau, của vòng luân hồi sinh tử không bao giờ chấm dứt. Và cuối cùng, bằng hiểu biết và kinh nghiệm bản thân của một đời người hành trì, tu tập cả Hiển giáo lẫn Mật giáo, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã chỉ cho ta con đường vượt thoát vô minh để tự giải phóng mình. Với bồ đề tâm kiên cố, bằng quán chiếu và thiền định không mỏi mệt, con người cuối cùng sẽ tìm thấy được bản tánh chân thật của mình, đó là nguồn linh quang trong suốt, đó là sự thực rốt ráo, là thực chứng Niết Bàn, là đạt thành Phật quả.

Như đã trình bày, tác phẩm này đã ghi lại một cách trung thực những buổi nói chuyện, những cuộc đối thoại của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma. Do chủ đích của người ghi chép muốn cố gắng giữ đúng nguyên văn và tính cách sống động của cuộc đối thoại nên người đọc có thể bắt gặp những đoạn có ý tưởng trùng lặp, hoặc đôi khi có những chuyển ý đột ngột từ ý tưởng này qua ý tưởng khác mà người ta thường gặp phải trong khi nói chuyện. Ngoài ra, vì bối cảnh của cuộc nói chuyện diễn ra tại Pháp, thế nên khi Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đề cập đến các khái niệm Ðông – Tây ta nên hiểu đó là hai khối Ðông Âu và Tây Âu (tức cộng sản và tự do trước thời chiến tranh lạnh), và Nam – Bắc tức là các quố c gia Âu Châu phát triển so với các quốc gia chậm tiến Phi Châu.

Bản dịch này được ra đời trong khuôn khổ chương trình dịch thuật của Ðạo Phật Ngày Nay do ÐÐ. Thích Nhật Từ chủ trương. Dịch giả nhân đây xin được chân thành cảm tạ ÐÐ Nhật Từ cùng một số đạo hữu, đặc biệt ÐH Hoa Ngọc, đã tạo điều kiện và thuận duyên để dịch phẩm này sớm được hoàn tất. Nếu dịch bản này có những khiếm khuyết nào xin chư tôn đức, cùng qúy thiện hữu trí thức hoan hỷ góp ý kiến để sửa chữa cho lần xuất bản tới được hoàn chỉnh hơn. Ngoài ra nếu có được chút công đức nào trong việc dịch thuật này, dịch giả xin được hồi hướng đến muôn loài chúng sanh để không còn oan trái lẫn nhau, nguyện cầu cho đất nước và Phật giáo Tây Tạng sớm vượt qua khổ nạn, và riêng đối với cá nhân, xin được cầu nguyện đến cửu huyền thất tổ được siêu sinh tịnh độ.

Tâm Hà Lê Công Ða
20-02-2002
Email: lecongda@aol.com

—o0o—

 

LỜI NÓI ÐẦU  

Tenzin Gyatso tức Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, có thể được xem như là một Phật tử nổi tiếng nhất trên hành tinh của chúng ta. Người “tăng sĩ bình thường” này, Ngài thường tự gọi mình như thế, đã trở thành một nhân vật nổi bật trên trường quốc tế kể từ thập niên 1950, khi mà hàng ngàn dân Tây Tạng, trẻ già trai gái đã phải chạy trốn khỏi nơi chôn nhau cắt rốn để chấp nhận cuộc sống lưu vong trên đất Ấn cũng  như những nơi khác.  Ðoạt giải thưởng Nobel Hoà Bình năm 1989, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã được hàng chục ngàn người từ Á châu, đến tận vùng đất Sô Viết cũ cũng như cả phương Tây coi như là vị Phật sống của thời đại.

Vượt Khỏi Giáo Ðiều (Beyond Dogma) là một tuyển tập gồm những bài nói chuyện, trao đổi đối thoại của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma trong chuyến viếng thăm Pháp quốc năm 1993. Ðược hiệu đính lại để có thể giữ nguyên được tính chất sống động và bầu khí cởi mở của những buổi gặp gỡ giữa Ngài và các nhóm tiếp xúc, cuốn sách này đã đưa người đọc tiếp cận với tính cách đa dạng của những quán chiếu sâu sắc liên quan đến các vấn nạn mà nhân loại có thể sẽ phải đương đầu trước ngưỡng cửa của tân thiên niên kỷ.

Cuốn sách này được phân bố thành năm phần chính.  Trong bốn phần đầu của cuốn sách, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma phản ánh những suy nghĩ của Ngài về tất cả những vấn nạn xã hội, chính trị mà nhân loại hiện đang phải đối diện, và trong phần cuối của cuốn sách, Ngài trả lời những câu hỏi liên quan đến bản chất rốt ráo của thực tại cũng như vị trí của con người trong vũ trụ. Tuy nhận thức được những thách đố khó khăn mà mọi công dân cũng như các nhà lãnh đạo thế giới hiện phải đối đầu, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma cũng giúp cho ta nhìn về tương lai với niềm hy vọng, trên căn bản của một tâm hồn tỉnh thức biết tận dụng mọi cơ hội để chuyển hóa và bảo tồn các giá trị tốt đẹp, cao qúy nhất. Ngài cũng cho ta thấy bằng cách nào mà mọi chiều kích của hiện thể duyên sinh của chúng ta đã tham dự một cách hoà điệu vào khúc luân vũ của sự sống còn và phục hưng, sự hoà điệu của tinh thần con người được khúc xạ thông qua lăng kính của các thói tục: tâm lý, văn hoá và chính trị.

Trong Phần thứ nhất, “Những Quán tưởng về Tân Thiên niên kỷ”, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma là một nhà khoa học chính trị nắm bắt được các thách đố của thời hậu Chiến Tranh Lạnh. Bắt đầu với một nhận xét đơn giản: Giống như tất cả mọi con người đang sống trên trái đất này, thỉnh thoảng Ngài cũng bị vây bủa bởi những nỗi khó khăn, đối diện với những phiền muộn, lo lắng, hoang mang. Và bởi vì không có một giải pháp rốt ráo nào cho nỗi khổ đau, con người thường phải chấp nhận những vấn nạn này, thế nên Ngài có thói quen thường nhấn mạnh đến tầm quan trọng của hạnh phúc và sự thành đạt, mà Ngài xem đó như là “ cứu cánh của đời người”.

Trong Phần Thứ Hai, “Tâm Linh và Chính Trị”, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma khảo sát tỉ mỉ về vai trò của lòng từ ái và xem đó như là nền tảng cho một xã hội có đạo lý. Cùng với sự tu dưỡng hạnh nhẫn nhục, lòng từ  ái tạo ra một bối cảnh hài hoà cho nền giáo dục khoa học kỹ thuật đi đôi với đạo đức học. Áp dụng vào lãnh vực nhân quyền trên bình diện quốc tế, những phẩm chất tốt đẹp của từ bi và nhẫn nhục có thể  được kết hợp với việc thực hành tinh thần bất bạo động trên căn bãn của lòng nhân đức và vị tha. Những thái độ này là một cách thế giải trừ mầm móngï cạnh tranh độc hại hiện nay, hậu qủa của sự tích lũy những cái nhìn thiển cận.

Trong Phần Thứ Ba, “Bất Bạo Ðộng: Một Tâm Gương Ðể Noi Theo“, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thảo luận một cách thẳng thắn cùng chúng ta về những bài học được rút ra từ lịch sử đau thương của quốc gia Tây Tạng, tương lai của quốc gia này trong mối quan hệ với Trung quốc, cũng như những đổi thay trong vai trò của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma.  Là một nhà tư duy luôn luôn mang tinh thần độc lập, Ngài cũng đề cập đến khả năng có thể có một vị nữ Ðạt Lai Lạt Ma trong tương lai, và phát biểu về vấn đề này một cách giản đơn: “Không có trở ngại nào trên mặt lý thuyết”. Liên quan đến những khát vọng đấu tranh vũ trang dành độc lập mà giới trẻ Tây Tạng đang bày tỏ hiện nay, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã tỏ ra thông cảm những tình cảm bức xúc của họ nhưng đồng thời cũng lên tiếng cảnh giác chống lại thái độ bạo động. Phần này được kết thúc bàng bài thơ “Ngôn Ðế” do Ðức Ðạt Lai Lạt Ma sáng tác như một lời nguyện cầu chấm dứt những đau thương, thống khổ của đất nước Tây Tạng.

Trong Phần Thứ Tư, “Vượt Khỏi Giáo Ðiều,” Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã phác thảo một phương thức tiếp cận với cái mà chúng tôi tạm gọi là “Chủ thuyết tâm linh hoàn vũ”, đồng thời đề nghị một số phương thức giúp chúng ta cảnh giác chống lại sự cám dỗ của hình thức tôn giáo kinh viện mang tính xơ cứng, giáo điều, thường là mảnh đất ươm mầm tinh thần bất khoan dung trong tôn giáo. Trong khi nhấn mạnh đến tính cách quan quan trọng của sự hoà đồng tôn giáo, Ngài đồng thời cũng nêu rõ rằng mỗi tôn giáo đều có nét độc đáo riêng, những phẩm chất đặc biệt của nó. Như vậy tất cả mọi truyền thống tôn giáo đều có cùng chung một mục tiêu, đó là mang niềm hạnh phúc chân thật đến cho con người. Vấn đề là làm thế nào  để ta có thể sống một cuộc sống hạnh phúc vượt qua khỏi giáo điều ràng buộc? “Bạn phải luôn luôn giữ cho tâm hồn mình hạnh phúc và biết mĩm cười!“

Phần Thứ Năm, “Duyên Khởi và Tánh Không,” chứa đựng những quán chiếu tinh tế và khoa học mà các nhà khoa học và triết gia đã chất vấn Ngài trong các cuộc trao đổi, gặp gỡ. Trong phần này Ngài đã vận dụng nguồn mạch phong phú của triết học và luận lý học Phật giáo, cùng với những kiến thức đáng kể của Ngài về khoa học kỹ thuật Tây phương, để soi chiếu vào tận cùng các bí ẩn của kiếp nhân sinh và vũ trụ. Ði đến cốt lõi của vấn đề, các nhà vật lý lượng tử và Phật tử cùng đồng ý với nhau rằng, thực tại là nghịch lý. Nhưng làm thế nào để các nguyên lý của vật lý học cùng với những tuệ giác bí truyền của các nhà du già có thể bổ túc cho nhau và bằng cách nào thức giác trở thành phần cấu trúc cơ bản của vũ trụ?

Bằng những quán sát được rút ra một cách chọn lọc từ giáo lý căn bản của Phật giáo, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma cũng giải thích cho chúng ta làm thế nào mà những năng lực của trùng trùng duyên khởi chính là sự hiển lộ của trí tuệ sâu sắc không còn bị giới hạn, thành kiến trói buộc. Như thế, điểm cốt lõi nhất của bí mật giáo truyền, là pháp vượt ra ngoài mọi giáo điều, học thuyết, pháp không là thực thể để có thể được tàng trữ, cất giữ. Quả là tin mừng. Một tâm thức hoàn toàn rộng mở giúp chúng ta lý do để hy vọng, không cần biết bao nhiêu lần chúng ta bị tách rời khỏi nguồn linh quang trong suốt, tri kiến về nó vẫn luôn luôn hiện hữu. Nguồn linh quang này chính là nhịp đập tuôn chảy không ngừng như một biểu hiện của lòng từ ái. Nó hiện hữu trong tất cả mọi dạng của đời sống, trong mọi tâm hồn mà các triết gia, nhà khoa học, thánh nhân đều có thể nhận biết được.

Vượt Khỏi Giáo Ðiều chứa đựng một thông điệp phổ quát. Trong thời buổi đói khát tinh thần này, những cuộc đối thoại, những bài nói chuyện của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, một con người mà mối quan tâm chính là muốn rao truyền thông điệp của lòng hy vọng và từ ái, giúp cho ta cảm giác như được vỗ về, nuôi dưỡng. Là một người giàu óc khôi hài tế nhị, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã cống hiến trọn cả đời mình để mang lại an ủi, hiểu biết cho bất cứ ai muốn tìm kiếm một cuộc sống mãn nguyện và hạnh phúc.

Steven D. Goodman
Institute of  Buddhist Studies
Berkley, California
May, 1996

[MUCLUC] [CH1] [CH2] [CH3] [CH4] [CH5] [BUD411]

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Vì sao Việt Nam im lặng trước công hàm ngày 17/4 của Trung Quốc?

Vì sao Việt Nam im lặng trước công hàm ngày 17/4 của Trung Quốc?

Trương Nhân Tuấn

30-7-2020

Trở lại vụ “cuộc chiến công hàm” ở Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa thuộc Liên Hiệp quốc. Cùng ngày 29 tháng 7 hai quốc gia Mã lai và Trung Quốc gởi công hàm lên Tổng thư ký LHQ.

Nội dung công hàm của Mã lai một mặt phản biện các yêu sách về biển và thềm lục địa của TQ không phù hợp với pháp luật quốc tế. Mặt khác Mã lai yêu cầu Ủy ban Ranh giới Thềm Lục địa xem xét hồ sơ “thềm lục địa mở rộng” của quốc gia. Tình hình là công hàm của Mã lai có thể “bế mạc” cuộc chiến công hàm.

Vấn đề là Việt Nam vẫn “ngậm tăm” trước công hàm ngày 17 tháng 4 của Trung Quốc. Nội dung công hàm TQ cho rằng “VN đã phạm Estoppel vào thập niên 70”. Trung Quốc dẫn công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng cho thấy, Việt Nam đã nhìn nhận và ủng hộ các tuyên bố của TQ về chủ quyền lãnh thổ và hải phận của họ.

Sự “im lặng” của Việt Nam trước sự việc này (bị estopped) cho thấy VN đã không có lý lẽ phản biện lại.

Để ý thời gian trung bình để Trung Quốc phản biện lý lẽ các quốc gia khác là 1 tuần.

Điều ngạc nhiên là giàn học giả “thượng thặng” của VN lâu nay nói rằng “công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng” không có hiệu lực. Cả giàn đồng ca bài “tuyên bố đơn phương không có hiệu lực pháp lý”. Tất cả cùng dẫn phán lệnh của Tòa Công lý quốc tế về vụ Úc kiện Pháp (thử nghiệm nguyên tử trong khí quyển) để chứng minh.

Tôi cam đoan rằng không có ai trong giàn học giả thượng thặng này đọc phán quyết của Tòa. Tất cả chỉ sao chép lẫn nhau. Người đầu tiên sai bét thì cả đám sai bét.

Nay mai tôi sẽ trở lại vụ “góp ý” với các học giả Vũ Thanh Ca, Hoàng Việt… về các vấn đề Biển Đông mà tôi bỏ dở từ tháng năm. Lý do chờ đợi Việt Nam lên tiếng thế nào để phản biện Trung Quốc (vụ estoppel).

Sự im lặng của Việt Nam kỳ này đồng nghĩa với việc nhìn nhận VN đã bị mất tố quyền về Hoàng Sa và Trường Sa. Trong khi VN vẫn có thể lên tiếng phản biện TQ với lý do “kế thừa VNCH”. Điều này tôi đã nói từ 20 năm nay.

Hôm kia Mỹ “bật đèn xanh” nhắc lại Cộng hòa XHCN Việt Nam đã “kế thừa” VNCH qua việc trả nợ cho Mỹ.

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

 PHÁP BẢO ĐÀN KINH

 PHÁP BẢO ĐÀN KINH

LỤC TỔ HUỆ NĂNG

 

 

MỤC LỤC

 

— *** —

 

I.-   CẢM ĐỀ                 —                  2

 

II.-  TỰA                               —                  4

 

III.-  LỜI KHEN                   —                 6

 

IV.-  LỜI NGƯỜI DỊCH    —                     13

 

V.- KINH

 

 

1.-   HÀNH DO                                          15

2.-   BÁT NHà                    —                     26

3.-   NGHI VẤN                    —                     37

4.-   ĐỊNH HUỆ                      —                     42

5.-   NGỒI THIỀN                 —                     45

6.-   SÁM HỐI                       —                     47

7.-   CƠ DUYÊN                   —                     55

8.-   ĐỐN TIỆM                   —                     74

9.-   TUYÊN CHIẾU                —                     82

10.- PHÓ CHÚC                                        85

 

VI.- PHỤ LỤC 

 

DUYÊN KHỞI NGOẠI KÝ              —                98

LỜI BẠT                            —                    101

TÀI LIỆU THAM KHẢO        —               102  

 

 

 

                                        CẢM ĐỀ

 

Bến Giác từ xưa vốn sẵn đò,

Rừng Thiền vi diệu khó tìm dò.

Hành nhân chưa có người đưa lối,

Pháp Bảo Đàn Kinh hướng dẫn cho

 

 

— *** —

 

Đức Phật Tổ thương đời tứ khổ,

Pháp vô vi đắc độ hằng sa.

Giác thuyền vào cõi ta bà,

Thiền tông Bát Nhã Ma Ha giáo truyền..

Tâm trần thế đảo điên nhân ngã,

Nẻo vô thường nghiệp quả triền miên.

Chất chồng vay trả tiền khiên,

Tháng năm tích lũy nào yên thân phàm.

Vô minh khởi muôn ngàn tội ác,

Sắc tướng sanh tánh giác lu mờ.

Trầm luân nào rõ bến bờ,

Thuyền Từ Bát Nhã nương nhờ thoát ra.

Ngộ Chánh Pháp lướt qua bỉ ngạn,

Huệ tâm khai chơn tánh hiện ra.

Gội nhuần nguồn nước Ma Ha,

Sáu căn bất nhiễm ngự tòa bảo liên.

 

Gắng tu học tông Thiền đốn ngộ,

Nơi Tào Khê Lục Tổ giáo truyền.

Đạt Ma chỉ rõ cơ huyền,

Sớm mau tỉnh thức, đoạn duyên ái hà.

Đang thời buổi tinh hoa Phật giáo,

Diễn dịch sai, hành đạo lạc lầm.

Không tin Phật tại nơi tâm,

Mãi lo vọng ngoại kiếm tầm đâu đâu!

Đuốc vô vi năm châu rực tỏa,

Pháp Ma Ha Bát Nhã tông thiền.

Dứt ác nghiệp, hết ưu phiền,

Giữ lòng thanh tịnh, chơn truyền bửu kinh.

Bát chánh đạo liễu minh vô thượng,

Thoát mê đồ nghiệp chướng tiêu vong.

Tu chánh pháp, học Nam tông,

Soi đèn trí huệ suốt thông đạo mầu.

Ánh thiền đăng từ lâu sáng tỏ,

Pháp Bửu Đàn Lục Tổ độ nhân.

Sớm mau rời dứt duyên trần,

Không sanh, chẳng diệt là chân Niết Bàn.

 

Xuân Ất Dậu – 03/2005

 

Dịch Giả:

 

Tu sĩ Thái Hoà và  Cư sĩ Hồ Minh Châu

Kính Cẩn.

 

 

 

 

     LỤC TỔ ĐẠI SƯ KINH PHÁP BẢO ĐÀN

 

                                               TỰA

 

 

Đạo pháp rất vi diệu, không thể bàn giải tận tường, có quên lời mới mong đạt lý và hiểu được ý nghĩa cao siêu, mầu nhiệm. Nên khi Đức Thế Tôn thuyết pháp tại hội Linh Sơn, trước tháp Đa Tử, Ngài phân đôi tọa cụ ¹ bảo Tôn giả Ca Diếp ngồi bên, tay Ngài cầm cành hoa đưa trước đại chúng, như ngầm chỉ mối diệu Đạo sẽ được truyền, như dùng lửa chuyền lửa, dùng tâm ấn tâm.

 

Đạo ở Tây Vực truyền đến đức Bồ Đề Đạt Ma là Tổ thứ 28, Ngài từ Ấn Độ mang theo qua phương Đông “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật” hoằng khai giáo pháp tại xứ này. Đại sư Huệ Khả là vị thứ nhứt nghe giảng liền hiểu ngay, lạy Tổ sư Bồ Đề ba lạy thọ Y. Tổ khen Đại Sư hiểu tường tận như thấm nhập vào xương tủy và khiến tiếp nối ngôi Tổ, khai xiển chánh tông. Truyền đến Đại sư Hoằng Nhẫn, tức đức Huỳnh Mai, là đời thứ tư.²

 

Trong số hơn 700 cao tăng, môn đồ của Ngũ Tổ Huỳnh Mai, duy có Huệ Năng, tức cư sĩ Phụ Thung ³ chỉ làm một bài kệ mà được truyền Y, nối ngôi Tổ, đời thứ 6 – kể từ Tổ Đạt Ma – nhưng Tổ Huệ Năng phải ẩn lánh hơn 15 năm ở phương Nam trước khi chánh thức hoằng dương đạo pháp.

 

Ngày nọ, nhân dịp hai vị tăng ở chùa Pháp Tánh, Quảng Châu, biện luận về “lá phướn động hay gió động“, Huệ Năng khai thị Chánh Pháp nhãn tạng,⁴ Niết Bàn diệu tâm cho Ấn Tông. Từ đó cư sĩ mới thế phát và đăng đàn thuyết pháp môn Đông Sơn, ứng đúng theo sám ký của đức Bạt Đà La.

 

Thứ sử Vi Cừ, nhờ thiền sư Pháp Hải chép lời thuyết pháp của Tổ Huệ Năng, lập thành Kinh Pháp Bảo Đàn. Tổ ban đầu ở Ngũ Dương, sau đến Tào Khê, thuyết pháp 37 năm, rưới cam lộ pháp vị khắp nơi.⁵ Các vị nhập thánh, siêu phàm nhiều không kể xiết.

 

——-

1.– Chiếc nệm để trải ngồi. 

2.- Kể theo hệ thống Trung Hoa

3.– Cư sĩ giã gạo

4.- Phép truyền tâm ấn đăc biệt của Thiền tông.

5.- Cam lộ là nước có chất ngọt. Được xem như phép báu của Phật – Pháp vị.

 

 

Về hạng người thấu triệt tâm tông của Phật, thành bực đại tri thức, có lưu danh trong quyển Truyền Đăng Lục. Riêng hai vị thiền sư Nam Nhạc và Thanh Nguyên, nhờ theo phụng sự Tổ Huệ Năng lâu năm, nên được truyền diệu pháp. Mã Tổ và Thạch Đầu, hai vị sư này trí huệ sáng suốt, được diệu huyền thông đạt, đều nhờ hai vị thiền sư Nam Nhạc và Thanh Nguyên truyền dạy.

 

Còn thêm các phái: Lâm Tế, Vi Ngưỡng, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn, lộng nhiên xuất hiện, đạo đức siêu quần, pháp môn quảng đại. Các vị này đều phấn chí hoằng dương giáo pháp, dày công dìu dắt chúng sanh. Giáo pháp mà 5 phái kể trên truyền bá, đều phát xuất từ Đàn Kinh.

 

Đàn Kinh lời giản dị, nghĩa phong phú, lý rõ ràng trong sáng, gồm đầy đủ vô lượng pháp môn của chư Phật, mỗi mỗi pháp môn, đầy đủ vô lượng diệu nghĩa, mỗi mỗi diệu nghĩa, phát huy vô lượng diệu lý của chư Phật, tức là diệu pháp Chơn không của đức Di Lặc và thần thông biến hóa của đức Phổ Hiền. Nếu ai đạt được diệu pháp này, tức đồng bực với Thiện Tài đồng tử ¹. Nếu trong một niệm tưởng mà công đức viên mãn, thì được chứng quả như đức Phổ Hiền Bồ Tát, đồng hàng với chư Phật.

 

Tiếc vì Đàn Kinh bị người đời sau tóm lược quá nhiều, nên chẳng thấy được tông chỉ đại toàn của Lục Tổ.

 

Đức Dị tôi lúc ấu niên thường xem bản xưa, sau này trải hơn 30 năm đi khắp nơi tìm kiếm, mãi lúc gần đây, nhờ một vị thượng nhơn, nên nhận được toàn văn, đem khắc bản giữ nơi thiền am của tôi, ở nước Ngô, để cùng các bậc thắng sĩ ² xử dụng.

 

Nguyện cầu khi chư vị khai mở quyển kinh này ra xem, liền được trực nhập đại viên giác hải,³ nối huệ mạng của Phật Tổ Như Lai muôn đời không dứt, được vậy mới thỏa mãn chí nguyện của tôi.

 

Đời Nguyên, năm thứ 27 Canh Dần, (1294) ngày Trung Xuân đề tựa.

 

Cổ Duân Tỳ Kheo Đức Dị soạn.

——

1.– Một vị đồng tử  theo học đạo với các Thánh. Xin đọc kinh Hoa Nghiêm.

2.- Bực tu học cao thâm

3.- Giác ngộ hoàn toàn – Biển Giác.

 

 

      LỤC TỔ ĐẠI SƯ PHÁP BẢO ĐÀN KINH TÁN

           Bài Khen Ngợi Kinh Pháp Bảo Đàn Lục Tổ Đại Sư

 

— *** —

 

Tán thán là lời ca tụng, tóm tắt phần mở đầu kinh. Nội dung Kinh Pháp Bảo Đàn là nơi mà Lục Tổ Huệ Năng, một bực chí nhơn, tuyên dương cái tâm. Vậy thì tâm là gì? Chính là tâm vi diệu do Phật truyền lại. Lớn lao thay tâm ấy, từ khởi thủy vẫn luôn thanh tịnh. Dù bực Thánh hay phàm, u hay hiển, ai ai cũng có tâm nầy.

 

Ở cương vị Thánh tất sáng, ở địa vị phàm thì tối. Tối do biến đổi, được trở lại liền sáng. Biến đổi hay trở lại tuy khác nhau, nhưng tâm vi diệu vẫn một.

 

Ban sơ Đức Phật Thích Ca đem tâm này truyền cho họ Đại Quy, từ họ Đại Quy truyền lần tới đời thứ 33, là Đại Giám, tức thụy hiệu của đức Lục Tổ. Thế rồi, Đại Giám tiếp tục giáo truyền, ngày càng thêm thạnh hành. Nếu bàn đến cái tâm thì thật nhiêu khê. Cho nên, tên gọi tuy giống, nhưng thực chất lại khác. Vì vậy, dầu có nhiều nghĩa, tâm vẫn một. Nào là tâm (tim) máu thịt, tâm duyên lự, tâm tập khởi, tâm kiên thật …

 

Còn luận về tâm sở của tâm thì nhiều vô số. Chẳng hạn tâm chơn như, tâm sinh diệt, tâm phiền não, tâm bồ đề… như các kinh đã phân loại, không thể kể xiết. Vì vậy, mới bảo nghĩa tuy nhiều, nhưng tâm chỉ một. Về nghĩa, có giác ngộ, có bất giác. Còn tâm, có tâm chơn thật, tâm hư vọng. Đó là do phân tích tâm chơn như mà ra. Ở đây, kinh Pháp Bảo Đàn, đức Lục Tổ giảng cái tâm về phương diện dụng, tức giác ngộ; về phương diện thể, là chơn thật.

 

Ngày xưa, khi Thánh nhơn sắp ẩn mình, dạy Quy Thị yếu lý truyền pháp ở ngoài giáo điển, bởi vì người đời vướng mắc vào văn tự mà quên trở về nguồn gốc. Do đó, muốn người đời sau dựa vào gốc để làm thẳng ngọn, nên kinh Niết Bàn chép: “Ta có chánh pháp vô thượng đã phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp“.

 

Đạo trời nhằm dung dị, đạo của đất lấy đơn giản, đạo của Thánh nhơn ở cốt yếu. Cốt yếu nghĩa là cực kỳ vi diệu. Vì đạo của Thánh nhơn quý chỗ cốt yếu, nên có thể làm khuôn mẫu cho cả pháp giới, chỗ tụ hội cho vô lượng nghĩa lý, bánh xe kiên cố cho Đại thừa.

 

Kinh Pháp Hoa há chẳng dạy: “Nên biết diệu pháp này là bí yếu của chư Phật“. Kinh Hoa Nghiêm há chẳng chép: “Dùng phương tiện nhỏ nhưng được giác ngộ nhanh chóng“. Vì dựa vào chỗ cốt yếu nên đạo của Thánh nhơn thành tựu lớn lao. Bởi vậy, cương lĩnh của kinh Pháp Bảo Đàn tôn vinh tâm yếu. Tâm hoặc sáng, hoặc tối, hoặc không, hoặc linh, hoặc tịch, hoặc tỉnh. Thế thì, tâm có hình tướng, hay không hình tướng?

 

Gọi là một vật cho nên nó biến hóa thành muôn vật. Gọi muôn vật, nên nó thống nhứt thành một vật. Nhưng một vật biến ra muôn vật, muôn vật gồm lại một vật. Đó gọi là điều có thể nghĩ bàn, còn điều không thể nghĩ, cũng không thể nào bàn.

 

Thiên hạ gọi huyền giải (âm thầm hiểu) gọi thần hội (tự nhiên khế hợp), gọi tuyệt đãi (dứt bặt so sánh), gọi mặc thể (lặng lẽ thấu triệt), gọi minh thông (mặc nhiên thông suốt)... Cứ một mặt bỏ hết, loại trừ, loại trừ rồi loại trừ, thì cũng có thể đạt đến chỗ tinh vi. Đến được chỗ đó, hiển nhiên phù hợp với bực chí nhơn. Cho nên khó ai lường được. Suy rộng ra, nếu không dấn thân, thì không thể nào đạt được.

 

Tìm hiểu rồi suy nghiệm không có gì mà không thỏa đáng. Giá như kiến tánh, sự thấy rất gần gũi với chơn tâm; giá như tu tâm, chỗ đạt được rất chơn chánh; giá như sùng thượng đức hạnh, biện biệt sai lầm tất chơn vọng dễ hiển hiện; giá như xuất thế,  Phật đạo chóng thành; giá như cứu đời, trần lao dễ dứt. Đó chính tôn chỉ của đức Lục Tổ, nên kinh Pháp Bảo Đàn lưu hành được thiên hạ khắp nơi vui mừng tiếp nhận.

 

Trong kinh dạy “tức tâm tức Phật” (tâm đó chính là Phật). Hạng người thiển cận không biết tự lượng sức mình, dùng cái len gảy đào đất, cho rằng đất cạn, nhìn trời qua chỗ mái nhà dột tưởng rằng trời nhỏ. Sự thật trời đất há như vậy sao? Hầu như trăm nhà (chúng sanh) ai cũng nghĩ mình đạt được chơn tâm, kỳ thật đâu có đúng. Còn bực chí nhơn đã thông suốt, quán triệt, phù hợp với tinh thần của kinh điển, nên điều này thấy rõ.

 

Chí nhơn biến mà thông, nhưng nếu không dùng văn tự khó diễn đạt được chơn tâm. Cho nên giải rõ ràng, có cơ sở, có nghĩa lý; nói một cách bí mật thì không đầu, không đuôi. Những bực căn cơ bén nhạy mới đạt đến chỗ sâu xa, hàng căn cơ chậm lụt chỉ hiểu đến chỗ thấp cạn. Như vậy há có thể nghĩ được ư! Có thể bàn được ư! Khó được rốt ráo vì đó là giáo lý viên đốn, giáo lý tối thượng thừa, thiền định thanh tịnh của đức Như Lai, chánh tông của Bồ tát tạng. Đó là điều các luận sư gọi huyền học, chẳng rõ ràng lắm sao! Thiên hạ gọi là tông môn, há chẳng đúng lắm sao!

 

Kinh Pháp Bảo Đàn chép: “Định, Tuệ là gốc, tức đầu mối để đi đến đạo. Định, có nghĩa tịnh, Tuệ là sáng. Sáng dùng để quán, tịnh dùng để an. An được tâm mới có thể lãnh hội được bổn thể của tâm. Quán rõ đạo mới có thể giảng về đạo“.

 

Nhứt hạnh tam muội là tướng viên dung của pháp giới. Muôn điều thiện tuy sai khác, nhưng chỉ bao hàm trong một hạnh mà thôi. Lấy vô tướng làm thể là trân trọng tịnh giới; lấy vô niệm làm tông, là tôn vinh thiền định lấy vô trụ làm gốc, là sùng thượng trí tuệ. Giới, định, huệ là con đường trọng yếu đi đến Tam thừa. Diệu tâm là cơ sở vững chắc cho giới, định, huệ. Dùng một diệu tâm này mà dung thông cả ba pháp, nên gọi là Đại (lớn). Dùng giới vô tướng tu hành mới mau đạt đến chánh giác.

 

Còn 4 thệ nguyện lớn là: nguyện độ: độ khổ đau; nguyện đoạn: đoạn tập khí; nguyện học: học đạo lý; nguyện thành: thành tịch diệt. Diệt mà không diệt gì cả, nên không có gì không đoạn trừ. Đạo mà không có chi là lý đạo, thì không có gì không cứu độ.

 

Vô tướng sám là sám hối cái không thể sám. Tam quy giới tức quy về một. Vì là một, nên Tam Bảo xuất hiện. Giảng Ma Ha Bát Nhã là giải đến chỗ chí trung của tâm. Bát Nhã là phương tiện của Thánh nhơn, là đại trí của Thánh nhơn. Cho nên gọi là tịch, là minh, là quyền, là thật. Thiên hạ dùng tịch để dứt các điều ác. Thiên hạ dùng minh có thể kết tụ mọi điều thiện. Thiên hạ dùng quyền biến để khuếch trương thế hữu vi. Thiên hạ dùng chơn thật, để mở rộng pháp vô vi. Ôi! cùng cực thay Bát Nhã!

 

Đạo của Thánh nhơn nếu không có Bát Nhã không thể làm sáng tỏ, không thể nào thành tựu. Công việc của thiên hạ nếu không có Bát Nhã, thì không thích hợp, không thỏa đáng. Bực Chí nhơn dùng Bát Nhã chấn chỉnh tự tâm thì được viên mãn.

 

Pháp của đức Lục Tổ vì hàng thượng căn mà giảng mới thích hợp. Vật nhỏ dùng vào việc lớn không thể nào đảm đương được; vật lớn trao cho người nhỏ là có lỗi.

 

Từ xưa đến nay âm thầm truyền trao, phân phó là ý nghĩa của bí mật. Bí mật không phải không nói mà chứng ngộ một cách âm thầm. Đó là bí mật chơn chánh.

 

Những người không hiểu lý này sinh tâm hủy báng thì trăm đời ngàn kiếp sẽ đoạn tuyệt hột giống Phật tánh. Nhằm nhắc nhở người đời đừng quên tâm mình, đó là yếu chỉ vô cùng to lớn của kinh Pháp Bảo Đàn: Gốc là chánh, vết rất rõ, nhân thật chơn, quả viên dung.  Những bực Thánh đời trước, các vị Thánh đời sau căn cứ vào đó để phát khởi, dùng đó chỉ dạy, nhân đó trở về, thật bao la không bờ bến! Tựa hồ sự trôi chảy của sông rộng, như sự thông suốt của không gian, sáng soi của nhựt nguyệt, vô ngại của hình bóng, trật tự của tiến hóa. Diệu mà đạt được thì gọi là gốc; suy để ứng dụng gọi là dấu; dùng khái niệm không phải từ ban sơ để làm đầu mối, gọi là nhân, dùng biểu tượng không cần thành tựu vẫn thành tựu gọi là quả. Quả không khác với nhân, là chánh quả. Nhân không khác với quả, gọi là chánh nhân, dấu ắt chiếu cố đến gốc, là đại dụng. Gốc ắt chiêm nghiệm đến dấu, gọi Đại thừa. Thừa là khái niệm, Thánh nhơn dùng ví dụ cho đạo.

 

Nhằm đến công dụng nên Thánh nhơn bắt đầu dạy bảo. Ôi! Đạo của Thánh nhơn không gì hơn tâm mình. Sự dạy bảo của Thánh nhơn không gì hơn tu. Chuẩn bị tinh thần dấn thân vào đạo không gì hơn nhứt tướng. Phép chỉ quán dựa vào việc thiện để hoàn thành công đức không gì hơn nhứt hạnh tam muội. Hỗ trợ cho tất cả giới luật không gì hơn vô tướng. Hoàn chỉnh tất cả Thiền định không gì hơn vô niệm. Thông suốt tất cả trí không gì hơn vô trụ. Sinh thiện diệt ác không gì hơn giới vô tướng. Dốc lòng vì đạo, bồi đắp cho đức không gì hơn 4 thệ nguyện lớn. Khéo quán xét lỗi lầm không gì hơn sám hối vô tướng. Làm cho đạo được chơn chánh không gì hơn giới Tam quy. Làm ngay ngắn đại thể, bồi đắp cho đại dụng không gì hơn Đại Bát Nhã. Phát khởi niềm tin, dốc lòng với đại đạo không gì hơn Đại chí. Cùng lý tận tánh trong thiên hạ không gì hơn lặng lẽ trao truyền. Muốn tâm không vướng lỗi không gì hơn tránh nói xấu lẫn nhau.

Lấy Định Tuệ làm nhân tố khởi đầu đó là nền tảng của đạo. Dùng Nhứt hạnh tam muội tu tập là cơ sở của công đức. Dùng vô niệm làm tôn chỉ nên thành tựu giải thoát. Lấy vô trụ làm  gốc liền đạt trí tuệ. Thấu triệt lý vô tướng được dung thông với pháp thân. Dùng giới vô tướng để trì giới, là giới cao tột. Đem 4 nguyện lớn để lập nguyện, tức nguyện cùng cực. Sám hối bằng phương pháp vô sám là sám hối rốt ráo. Giới tam quy tức giới trở về đường chánh. Ma ha trí tuệ là phạm trù to lớn của thánh phàm. Vì hạng người thượng thượng căn mà tuyên thuyết, là cách thuyết pháp trực tiếp. Trao truyền bằng im lặng là cách truyền pháp ưu việt, nhằm mục đích ngăn ngừa những kẻ hủy báng.

 

Phàm diệu tâm thì không phải do tu mà thành, không phải chứng mà sáng. Vì nó vốn đã thành, đã sáng sẵn vậy. Vì mê mất nguồn sáng nên phải làm sáng lại mới được chứng. Do nghịch sự hoàn thiện, phải hoàn thiện lại, nên mới cần tu. Lấy việc chưa tu để tu, nên gọi chánh tu. Lấy việc chưa sáng để làm sáng nên gọi chánh chứng. Bực chí nhơn khù khờ, không tỏ lộ oai nghi nhưng đức độ thấm nhuần trời đất. Bực chí nhơn ung dung tựa hồ không giữ giới, mà đạo hạnh hiển bày khắp thiên hạ. Đó, vì dùng chánh tu để tu, dùng chánh chứng để chứng. Thế nên bảo: không tu, không chứng, không nhân, không quả. Những kẻ xuyên tạc chẻ sợi tóc làm tư, tranh nhau bàn luận, làm sai lạc ý chỉ của chí nhơn.

 

Ôi! Bỏ giới định tuệ thì đương nhiên rơi vào sự hỗn loạn của chấp không, tôi cũng chẳng biết phải làm sao. Hỡi ôi! Chúng sanh để chìm lấp chơn tâm cho khởi dậy tâm thức. Thức và nghiệp theo nhau như bóng với hình, chưa từng dừng lại bao giờ! Khi nó phát ra thành hình tướng, thì người và vật sinh sản tràn lan trong trời đất, nào ai có thể đếm hết. Được mang lại thân người thì hàng vạn mới có một.  Bậc giác ngộ cơ hồ rất ít. Bực Thánh Nhân ấp ủ điều đó, vận dụng nhiều phương tiện để làm sáng tỏ, nhưng người đời vẫn không thấu hiểu. Thánh nhơn muốn cứu đời, tuy dùng nhiều giải pháp mong sửa đổi, nhưng thiên hạ vẫn chưa thức tỉnh.

 

Người hiền thì bị trí làm rối loạn, kẻ bất tiếu bị u mê che khuất. Hạng bình thường thì bị vô ký làm cho hôn muội. Cho nên, khi tiếp xúc với cảnh vật, phát sinh tình cảm, bị những mừng, giận, buồn, vui, che khuất muôn ngàn mối, khác nào lữ khách lần dò trong đêm tối chẳng biết sẽ về đâu. Những ai theo lời dạy của thánh nhơn thì được kế thừa và phát huy. Còn những kẻ mù mờ có tham vọng viễn vong thì gọi nào có, nào không, nào chẳng có, chẳng không; nào vừa có, vừa không. Đó, chỉ vì không thấy nên bị khuất lấp, khiến trọn kiếp chẳng thể nào thông tỏ được.

 

Biển là nơi tập trung nước từ muôn nơi đổ về, cá rồng sống chết trong biển vẫn không hề thấy nước. Đạo tại tâm, nhưng có người suốt ngày bàn về đạo vẫn không hề thấy tâm. Thật đáng thương! Tâm rất vi diệu, cao vời, khó tỏ, khó thấu. Thánh nhơn đã ẩn khuất, thiên hạ trăm đời tuy viết sách truyền bá chánh đạo, chưa hề được chứng nghiệm. Thế nên, kinh Pháp Bảo Đàn nêu ra tôn chỉ: chỉ thẳng tâm này, bấy giờ thiên hạ mới thấy được tâm tánh của chính mình, khác nào vẹt mây mù chợt thấy trời xanh, lên đỉnh núi cao phóng mắt nhìn được khắp vũ trụ.

 

Kinh Niết bàn chép: “Khởi đầu từ vườn Lộc Uyển, chí đến lúc kết thúc tại sông Bạt đề, thời gian 50 năm, chưa từng giảng một chữ nào“, tức ngầm chỉ pháp chẳng phải do văn tự, để phòng những người chỉ căn cứ vào văn tự mà tìm cầu thật tướng.

 

Dạy: “Y pháp không y người” vì pháp thì chân mà người thì giả.

 

Dạy: “Y trí không y thức” bởi trí thì đến chỗ cùng tột, còn thức thì vọng.

 

Dạy: “Y nghĩa không y lời” vì nghĩa thì chơn, lời là giả.

 

Dạy: “Y kinh liễu nghĩa, chớ y kinh không liễu nghĩa” vì kinh liễu nghĩa thì tận lý, còn kinh không liễu nghĩa vẫn chưa rốt ráo.

 

Thế nên, Bồ tát mới tuyên thuyết Đại Niết Bàn, những điều thuyết ra đều phù hợp với kinh điển.

 

Bực thánh nhơn căn cứ vào 4 thứ này mà ra đời. Người hộ trì chánh pháp cần thấu triệt. Vì thấu triệt, nên bực chí nhơn mới nâng gốc để làm thẳng ngọn. Điều giảng giải phù hợp với kinh điển, nên bực chí nhơn giảng kinh đúng kinh. Y nghĩa, y kinh liễu nghĩa, nên bực chí nhơn tuyên thuyết rõ ràng phù hợp với nghĩa, phù hợp với kinh. Y pháp, y trí, nên bực chí nhơn mật thuyết liền thông suốt, không bị chướng ngại, vì muốn chỉ rõ pháp không phải do văn tự, nên bực chí nhơn vận dụng tôn chỉ mật truyền. Bực chí nhơn như cây cỏ mùa xuân, ngày càng phát triển. Bực chí nhơn như ánh sáng mùa thu, càng chiếu soi càng tỏ rạng.

 

Thánh nhơn truyền lịnh bực chí nhơn liền tuân theo. Phải bực chí nhơn mới xứng đáng môn đồ, và huân tập được đức độ thù thắng của Thánh nhơn.

 

Bực chí nhơn ban đầu vờ như mình thấp kém, không biết văn tự thế tục. Đến khi thành nghiệp lớn, giáo hóa một phương, tuyên dương đại pháp cứu độ đời, mới tỏ ra khế hợp với công dụng của bực Đại Thánh nhơn. Thế nên, đối với bực đức cao, thượng trí khi sinh ra đã biết, nhân vì muốn hiển bày diệu pháp mới bảo rằng mình không biết.

 

Trải qua gần 400 năm, giáo pháp lưu truyền khắp bốn phương không hề gián đoạn; nào là Đế vương, nào là Thánh hiền, suốt 30 đời, càng tìm đến đạo của Tổ càng thêm tôn kính, không ai là không đạt đến chỗ tận cùng của bực Đại Thánh nhơn.

 

Ngày nay, giáo pháp đang lu mờ. Ôi! Tôi không nỡ nào im lặng nhìn, nên cố gắng góp phần công mọn trong việc phục hưng nền đạo, dầu tự biết mình am tường đạo chẳng bao nhiều, nhưng tôi nhờ may mắn như muỗi mòng uống được nước biển, biết được chút ít hương vị, nên mạo muội cúi đầu bộc bạch, mong để lại đôi điều cho người hậu học.

 

Đại sư KHẾ TUNG hiệu MINH GIÁO đời Tống, soạn. (Đ. 48, tr 346)

Dịch giả: Ẩn danh.

 

 

 

 

LỜI NGƯỜI DỊCH

 

— *** —

 

Theo kinh Đại Tạng do Ban tân tu của chùa Thiện Đạo ở Đài Bắc (Đài Loan) có 3 bản Kinh Pháp Bửu Đàn, một do Thiền sư Pháp Hải soạn; bản thứ hai, Tỳ kheo Linh Thao giữ tại Bửu tháp, nơi an trí chơn thân Đức Lục Tổ; bản thứ ba do Tỳ kheo Đức Dị sưu tầm, được Tỳ kheo Tông Bửu đúc kết, hiện để tại chùa Quang Hiếu.

 

Nhờ duyên may, chúng tôi đọc được hơn 10 bản dịch Kinh Pháp Bửu Đàn, về văn thể, cách trình bày, phần diễn dịch, mỗi bản đều có sắc thái riêng, về nội dung chỉ có vài khác biệt nhỏ.

 

Mỗi lần đọc một bản là thêm một lần chúng tôi xúc động. Xúc động vì thương cảm hoàn cảnh khó khăn, cay đắng, khốn khổ, cũng như xót xa, ngậm ngùi về những nguy hiểm mà Đức Lục Tổ kiên nhẫn chịu đựng, nhiều phen sinh mạng Người như sợi tơ treo.

 

Về phương diện giáo lý, tôn chỉ của Đức Lục Tổ cũng giản dị, thực tế, như đời sống của NgườiPHẬT tại TÂM, nhận được TÂM CHÚNG SANH liền thành Phật đạo. Với pháp môn ĐỐN GIÁO, Người khuyên môn đồ nên cố gắng trau TÂM, hành trì VÔ TƯỚNGVÔ NIỆMVÔ TRỤ… Cách tu học của Người cũng rất thực tiễn, Người thường nhắc nhở môn nhơn nên tìm hiểu nghĩa lý trong chơn kinh không nên chú trọng vào văn chương chữ nghĩa, có nghĩa “ngộ lý quên lời“.

 

Cũng kể từ Đức Lục Tổ công khai hoằng dương chánh pháp, Thiền tông mới được quảng bá và có căn bản vững vàng.

 

 

 

 

Điều quan trọng khác, là niềm hãnh diện của dân tộc, chúng tôi muốn nêu lên sự thật: Đức Lục Tổ là người Việt, mà từ bao trăm năm qua, sách sử phương bắc không giải thích rõ về thân thế Người.*

 

Vì những yếu tố trên, sau những đắn đo, cân nhắc, chúng tôi cố gắng dịch từ nguyên bản Hán ngữ của Tỳ kheo Tông Bửu, trình bày qua tập sách nhỏ này bằng thể văn nhẹ nhàng, bình dị, như một đóng góp khiêm nhường vào hành trang tu học, trân trọng chuyên chở đến đồng đạo PGHH ruột thịt, đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.

 

Trong bản văn chữ Hán, cách gọi nhau thời bấy giờ như  “ta – ngươi“, chúng tôi xin được thay bằng “tôi – ông” để nghe dịu dàng và thích hợp với cách xưng hô trong gia đình PGHH.

 

Tự biết kiến thức mình có giới hạn, không sao tránh khỏi sơ xuất, chúng tôi rất mong được sự chỉ giáo của quí đồng đạo và các bực cao minh, để lần tái bản thứ hai, Kinh Pháp Bửu Đàn này sẽ hoàn thiện hơn.

 

Tu sĩ Thái Hòa và Cư sĩ Hồ Minh Châu.

Kính Cẩn.

 

*- Sinh quán của đức Lục Tổ và thời gian Ngài tại thế 638 – 713 ở Lãnh Nam, mà Lãnh Nam thời bấy giờ là lãnh thổ của tộc Việt.

 

– Tái bản lần thứ nhứt – Đầu xuân Ất Dậu – 2005 dl.- Phật lịch 2559.

 

– Bản in lần thứ hai có một số từ ngữ được giản dị hoá. Đầu xuân Bính Tuất – 2006 dl – Phật l ịch 2560.

 

Dịch giả.

 

 

 

KINH

 

I.- HÀNH DO

                           

LỤC TỔ ĐẠI SƯ LƯỢC THUẬT TIỂU SỬ

 

Đây là bản văn ghi chép lời của Từ Tổ Tỳ Kheo Thích Tông Bửu, trụ trì Báo Ân Quang Hiếu thiền tự, về sự kiện gió động hay phướn động.                                                 

                                  

 

Bấy giờ Đại Sư đến chùa Bửu Lâm, Vi Cừ, Thứ sử Thiều Châu, cùng các quan viên, vào núi thỉnh Sư về chùa Đại Phạm để khai duyên thuyết pháp.

 

Đại Sư lên bục giảng, Thứ Sử, quan viên hơn 30 người, nho gia học sĩ hơn 30 người, tăng, ni, đạo, tục hơn ngàn người, đồng đảnh lễ, kính cẩn lắng nghe yếu lý Phật pháp. Đại Sư:

 

– “Thiện tri thức! Tánh Bồ đề, tức tánh Giác ngộ của mình, tự nhiên có sẵn và luôn trong sạch, nên dụng tâm này tu, Phật quả sẽ viên thành”.

 

– “Thiện tri thức! Hãy nghe nguyên do Huệ Năng tôi đi tu và đắc pháp: Thân sinh tôi quê ở Phạm Dương, bị giáng chức đày về Lãnh Nam, huyện Tân Châu. Thân này bất hạnh, cha mất sớm, mẹ già cô đơn, dời qua Nam Hải. Trải bao gian khổ, nghèo túng, tôi phải bán củi ngoài chợ nuôi sống. Một hôm có vị khách mua củi, bảo đem đến nhà trọ, khách nhận củi, trả tiền xong, Năng tôi ra cửa, thấy một vị tụng kinh, nghe lời kinh, tâm liền tỏ ngộ, tôi hỏi:

 

– “Ông tụng kinh gì vậy?”  Khách đáp:

 

– “Kinh Kim Cang”. Tôi hỏi tiếp:

 

– “Ông từ đâu đến đây tụng kinh này?”  Khách:

 

– “Tôi từ Kỳ Châu, huyện Huỳnh Mai, chùa Đông Thiền, do Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn Đại Sư chủ trì, nơi đó hóa độ môn nhơn hơn ngàn người. Tôi thường đến lễ bái và thỉnh được kinh này. Nhẫn Đại Sư khuyên tăng, tục thường nên tụng kinh Kim Cang, sẽ được thấy tánh, thành Phật”.

 

Năng tôi nghĩ mình có tiền duyên, được nghe lời kinh, vừa có 10 lượng bạc của vị khách tụng kinh cho và khuyên tôi về lo liệu áo cơm cho mẹ già, rồi nên đến huyện Huỳnh Mai tham lễ Ngũ Tổ. Sau khi sắp xếp cho mẹ, tôi từ giã lên đường. Đi chưa quá 30 ngày, đến huyện Huỳnh Mai, vào lễ, Ngũ Tổ hỏi:

 

– “Ông người xứ nào đến đây, muốn cầu việc gì?” Tôi bạch:

 

– “Đệ tử dân Lãnh Nam, huyện Tân Châu, từ xa đến đây lễ Hòa thượng, chỉ cầu làm Phật“.  Tổ bảo:

 

– “Người Lãnh Nam là Nam rợ, sao có thể thành Phật được?”.

 

– “Người tuy chia Nam Bắc, Phật tánh đâu có Bắc Nam, thân Nam rợ này đối với Hòa thượng không đồng, nhưng Phật tánh có gì khác biệt”.

 

Tổ muốn hỏi thêm, nhưng thấy nhiều người vây quanh, nên sai Năng tôi ra nhà sau làm việc. Tôi thưa:

 

– “Bạch Hòa thượng, tâm đệ tử thường sanh trí huệ, không rời tánh mình, đó là ruộng phước (phước điền); chẳng hay Hòa thượng còn dạy đệ tử làm việc chi?”  Tổ quở:

 

– “Người Nam rợ này căn tánh thông minh, nhưng thôi, đừng hỏi nữa, đi mau ra nhà sau”.

 

Khi đến hậu viện, một hành giả sai tôi bửa củi và đạp chày giã gạo. Tôi làm công việc này ròng rã hơn 8 tháng. Một hôm, Tổ bất chợt đến, thân mật an ủi:

 

– “Tôi nghĩ chỗ nhận thức của ông dùng được, vì sợ kẻ ác hại, nên chẳng tiện nói nhiều, ông hiểu không?” Tôi bạch:

 

– “Đệ tử cũng hiểu ý Thầy, nên không dám đến giảng đường, e chư tăng chú ý ”.

 

Ngày nọ, Tổ cho triệu tập các môn nhơn lại, dạy:

 

– “Người đời sanh tử là việc lớn, các ông suốt ngày chỉ lo cầu phước mà chẳng cầu thoát khỏi biển khổ sanh tử. Nếu tánh còn mê, phước kia đâu cứu được. Các ông hãy lui ra, xét lại trí Bát Nhã, mỗi người viết một bài kệ, trình tôi xem, ai ngộ lý Phật pháp, tôi sẽ truyền Y Bát, nối ngôi Tổ, đời thứ 6. Các ông đừng chậm trễ và nên hiểu, nếu phải suy nghĩ, thì không dùng được. Người thấy tánh khi vừa nghe liền thấy ngay, được như vậy, dầu phải ra trận, tung hoành giữa đao kiếm cũng thấy tánh. Đó là người sáng suốt”.

 

Đồ chúng nghe dạy, lui ra, hợp lại, cùng bàn:

 

– “Chúng ta khỏi cần nhọc tâm mệt trí viết kệ, đâu có ích gì, bởi Thượng Tọa Thần Tú hiện là thầy Giáo thọ,¹ chắc sẽ được kế truyền”.

 

Những người chung quanh nghe đều yên tâm, đồng nói:

 

– “Chúng ta từ nay theo thầy Thần Tú, viết kệ chi cho nhọc!”.

 

Về phần Thượng tọa Thần Tú, ông suy nghĩ: đồ chúng không trình kệ vì họ nể và ỷ vào ta, nên ta cần viết kệ trình Hòa thượng, nếu không, ngài làm sao biết kiến thức cạn sâu trong tâm ta. Trình kệ cầu pháp là điều tốt, nhược bằng vọng cầu ngôi Tổ, đó là nuôi ý xấu, như vậy, khác nào người phàm muốn đoạt ngôi thánh; còn không trình kệ, biết đến bao giờ mình mới được đắc pháp? Thiệt khó nghĩ !

 

Trước thiền đường có ba gian hành lang, Ngũ Tổ định mời họa sư Cung Phụng Lư Trân, đến họa những cảnh trong kinh Lăng Già, cùng đồ hình hệ thống kế truyền 5 đời tổ, lưu lại để cúng dường.² Thượng tọa Thần Tú hoàn thành kệ, mang trình nhiều lần, nhưng khi đến trước phòng của Tổ, trong lòng hoảng hốt, toàn thân đổ mồ hôi, trước sau 4 ngày, cả thảy 13 lần đến trình kệ không đặng. Thượng tọa suy nghĩ, chi bằng qua hành lang phía Nam biên kệ này, ngày mai khi Hòa thượng đến thấy, khen hay liền ra nhận kệ của mình, nếu bị chê… thật uổng cho công trình bao năm tu hành, nhận lễ bái của bá tánh trong khi đạo pháp mình  chẳng ra gì! Đến canh ba, thừa lúc mọi người yên giấc, Thượng tọa cầm đèn chép kệ trên vách hành lang phía Nam:

——

1.- Giáo thọ là thầy dạy đồ chúng học kinh trong chùa.

2.- Bộ kinh Lăng Già gồm 4 quyẻn, dạy về Thiền học, do tổ Đạt Ma mang từ Ấn độ sang với đồ hình, cùng kệ truyền tâm ấn – Từ tổ Đạt Ma đến tổ Hoàng Nhẫn là 5 đời. 

 

 

Kệ :

 

“Cội bồ đề là thân

 Tâm như đài gương sáng

 Lau chùi đừng xao lãng

 Chớ để bám bụi trần”.

 

Chép kệ xong, Thượng tọa trở về phòng riêng lo nghĩ, nếu sáng ngày Ngũ Tổ thấy kệ vui vẻ, tức ta với pháp có duyên, nhược bằng Tổ chê, đó là tại tâm mình còn mê, nghiệp chướng xưa nặng nên chưa đắc pháp. Thánh ý thật khó lường ! Năm canh trăn trở, nằm ngồi không yên!

 

Ngũ Tổ từ lâu vốn biết Thượng tọa Thần Tú chưa thấy tánh, chưa vào cửa đạo được. Sáng ngày, Tổ hướng dẫn Lư họa sư đến hành lang phía Nam để vẽ đồ tướng, chợt thấy bài kệ trên vách, liền bảo:

 

– “Thôi, họa sư không cần vẽ, thật nhọc công ông từ xa đến, bởi kinh Kim Cang chép: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (Phàm có hình tướng thảy đều hư giả), nay có bài Kệ này, nên lưu lại cho người đời tụng, theo đó tu khỏi đọa ác đạo, được lợi ích lớn. Tổ liền khiến môn nhơn đốt hương lễ kính, và dạy:

 

– “Tất cả nên tụng kệ này sẽ được thấy tánh”.

 

Đồ chúng tụng kệ, vui mừng, đồng khen hay. Canh ba, Tổ gọi Thượng tọa Thần Tú vào phòng, hỏi:

 

– “Kệ chép ở nam lang phải của ông không?” Thần Tú bạch:

– “Thật của đệ tử, không dám vọng cầu ngôi Tổ, chỉ mong Hòa Thượng mở lòng từ bi xem đệ tử có chút trí huệ chăng?”

– “Ý kệ của ông chưa thấy tánh, chỉ mới đến cửa, chưa vào bên trong. Thấy và hiểu như vậy, khó tìm Vô thượng bồ đề. Vô thượng bồ đề khi nghe qua liền nhận được tâm, thấy được tánh, không sanh, chẳng diệt. Trong tất cả thời gian, lúc nào cũng thấy tánh, trước ngoại cảnh tâm luôn thông suốt. Nếu  biết chơn tướng một vật liền nhận được chơn tướng của vạn vật. Đối cảnh, tâm không lay động, vẫn như như, tâm như như là tâm chơn thật.¹ Thấy được như vậy là tự tánh Vô thượng bồ đề, tức Phật tánh của mình. Ông lui ra, trong vài ngày viết bài kệ khác đem đến đây, tôi xem thấy được sẽ truyền Y Pháp cho”

Thượng tọa Thần Tú lễ tạ lui ra, về phòng luôn mấy ngày đêm không nghĩ được kệ, lòng hốt hoảng, tinh thần không yên, ngồi đứng xốn xang như người trong mộng.

Hai ngày sau, một đồng tử đi ngang chỗ giã gạo, đọc kệ này. Tôi nghe liền biết kệ chưa thấy tánh, tuy chưa được Tổ chỉ dạy, nhưng đã rõ đại ý, mới hỏi đồng tử:

– “Đọc đó là kệ gì vậy?”   Đồng tử:

– “Ông Nam rợ này không biết gì hết, Đại Sư dạy: “Người đời sanh tử rất quan trọng. Ngài định tìm người thừa kế, nên khiến môn nhơn viết kệ trình, nếu ngộ đại ý, sẽ được Ngài truyền Y Pháp, nối ngôi Tổ, đời thứ 6 ”. Thượng tọa Thần Tú viết bài kệ vô tướng này trên vách hành lang phía Nam, Đại Sư dạy đồ chúng nên tụng và y theo đó tu, sẽ khỏi đọa ác đạo, được nhiều lợi ích”.  Tôi thưa:

– “Thượng nhơn ơi! Tôi ở đây đã hơn 8 tháng, chưa từng bước ra khỏi chỗ này, mong thượng nhơn dẫn tôi đến trước bài kệ để lễ bái”.  Đồng tử nhận lời.   Lễ xong, tôi thưa:

– “Huệ Năng tôi không biết chữ, xin thượng nhơn vui lòng đọc kệ”.

Lúc đó có quan Biệt Giá ở Giang Châu, họ Trương tên Nhựt Dụng, lớn tiếng đọc.   Nghe xong, tôi thưa:

– “Tôi cũng có một kệ, nhờ quan Biệt Giá chép dùm”. Quan Biệt Giá ngạc nhiên: – “Ngươi cũng làm kệ được sao?  Việc này ít có!”. Tôi thưa:

 

– “Muốn học đạo Vô thượng bồ đề không nên khi người mới học, nhiều người thấp hèn nhưng có thượng trí, người thượng lưu lắm khi không ý trí gì. Khi dể người có tội lớn!”

—-

1.- Khi thấy được chơn tướng là biết rõ thật tướng của một vật do nhơn duyên cấu tạo không có thực thể, dĩ nhiên biết được thật tướng của vạn vật, tất cả đều giống như vậy.

 

 

 

Có vẻ hối hận, quan Biệt giá căn dặn:

 

– “Hãy đọc kệ, ta chép giùm, nếu ngươi đắc pháp nhớ độ ta trước, chớ quên lời này”. Tôi đọc:

 

“Bồ đề vốn không cội

Gương sáng chẳng phải đài                       

Chơn như không một vật

Chỗ đâu bám trần ai?” 

 

 

Kệ chép xong, đồ chúng kinh ngạc, bàn tán xôn xao, than:

 

– “Không nên đánh giá người qua tướng mạo bề ngoài. Bấy lâu nay nỡ nào khi dể và hành hạ nhục thân Bồ Tát !”

 

Tổ thấy chúng nhơn kinh ngạc, sợ Năng tôi bị người ám hại, liền lấy giày bôi sạch bài kệ, bảo:

 

– “Cũng chưa thấy tánh”. Bấy giờ đồ chúng mới yên lòng.

 

Hôm sau, Tổ kín đáo đến, thấy Năng tôi lưng đeo đá (cho đủ nặng) đạp chày giã gạo, Ngài cảm động, than:

 

– “Người cầu đạo vì pháp quên mình đến thế sao?” Lại hỏi:

 

– “Gạo trắng chưa?” Tôi bạch:

 

– “Gạo trắng đã lâu, chỉ thiếu giần sàng”.

 

Tổ dùng gậy gõ vào cối 3 lần, rồi đi. Biết ý ngài, trống điểm canh ba, tôi lẻn vào phòng, Tổ lấy ca sa che quanh, rồi giảng kinh Kim Cang, đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”.¹ Tôi nghe qua liền đại ngộ, tất cả vạn vật không rời tánh mình, bạch tiếp:

 

“Nào ngờ tánh mình vốn sẵn trong sạch.

Nào ngờ tánh mình vốn không sanh diệt.

Nào ngờ tánh mình vốn sẵn đầy đủ.

Nào ngờ tánh mình vốn không lay động.

Nào ngờ tánh mình hay sanh muôn pháp”.

 

 

Tổ biết Năng tôi đã ngộ, liền dạy tiếp:

 

– “Không thấy được lòng mình, học pháp vô ích, thấy được lòng mình, hiểu tánh mình mới trượng phu, là Phật, Thầy cõi Trời và cõi Người”.

 

Canh ba thọ pháp, không ai hay biết, Ngũ Tổ truyền pháp Đốn giáo ²  trao Y Bát rồi dạy:

 

– “Ông là Tổ đời thứ 6, cố gắng giữ gìn đạo tâm, hóa độ chúng sanh, lưu truyền cho đời sau đừng để dứt mất”.

 

Nghe kệ:

 

 “Có tình nên gieo giống

  Do nhân, quả liền sanh

  Không tình cũng không giống

  Không tánh lấy gì sanh”.

 

Tổ dặn thêm:

 

– “Khi xưa Tổ Đạt Ma mới đến xứ này, lòng người chưa tin nên cần truyền Áo ca sa làm tín vật, đời đời thừa kế. Pháp tức dùng tâm truyền tâm để tự ngộ, tự hiểu. Từ xưa Phật với Phật chỉ truyền bổn thể, Tổ với Tổ truyền kín bổn tâm. Áo là đầu mối của việc tranh chấp, từ nay, ông không nên truyền nữa sẽ nguy hiểm tánh mạng người lãnh Áo. Ông hãy đi gấp, e có người mưu hại”. Tôi bạch:

 

– “Đệ tử nên đi xứ nào?”  Tổ dặn:

 

– “Gặp Hoài (Hoài Tập, tỉnh Quảng Tây) thì ngừng, đến Hội (Tứ Hội, tỉnh Quảng Đông)  nên ẩn”.  Tôi lãnh Y Bát, bạch:

 

– “Đệ tử người phương Nam, không biết đường núi này, làm sao ra đến cửa sông?”  Ngũ Tổ trấn an:

 

– “Chớ lo! Tôi sẽ đưa ông”. Tổ đưa tôi đến trạm Cửu Giang, bảo xuống thuyền, rồi tự cầm chèo, Tôi vội bạch:

 

– “Thỉnh Hòa thượng ngồi, để đệ tử chèo”. Tổ thân mật:

 

– “Lẽ ra tôi phải độ ông”. Tôi bạch:

 

– “Mê nhờ Thầy độ, ngộ xong phải tự độ. Độ tên tuy có một, chỗ xử dụng tùy lúc khác nhau. Đệ tử sanh tại biên giới, lời nói không chính xác, khó nghe, mong ơn Hòa thượng thương tình truyền pháp, nên biết dùng tánh để tự độ”.

——

1.- Câu này ở kinh Kim Cang Bát Nhã: theo tự điển nghĩa là không chỗ trụ mà sanh tâm. Nghĩa theo kinh: chỗ không trụ là thể của chơn như. Còn sanh tâm là dụng của chơn như. Nếu dùng ý căn để sanh phân biệt, thì vô minh khởi: thương, ghét, yêu, thích, ảnh hưởng đến sự phân đoán, tạo nên nghiệp, rồi phải luân hồi. Không nên để tâm dính bất cứ một thứ gì.

2.- Đốn ngộ là phép dạy tắt, khiến hành giả nghe giảng liền ngộ đạo.

 

 

Tổ khen:

 

– “Đúng vậy… phải như vậy! Sau này Phật pháp do ông mở rộng. Ông đi rồi, ba năm sau tôi tạ thế. Ông nên đi mau về hướng Nam, chớ giảng sớm, vì Phật pháp đang gặp khó”.

 

Từ biệt Tổ, tôi rán sức đi mau về hướng Nam, 2 tháng sau, đến núi Đại Dữu Lãnh.

 

Phần Ngũ Tổ về chùa mấy ngày liền không thăng đường, đồ chúng sanh nghi, đến thăm dò:

 

– “Bạch Hòa thượng có chút bịnh hay buồn phiền điều chi?

 

– “Bịnh thì không, nhưng Y Bát đã về Nam”. Đồ chúng thưa:

 

– “Chẳng hay ai được truyền thọ?” Ngũ Tổ ngập ngừng, đáp:

 

– “Ai… Năng thì được”.

 

Đồ chúng ước chừng trăm người hối hả đuổi theo, mong đoạt lại Y Bát. Trong số đó có vị tăng họ Trần tên Huệ Minh, trước kia là tứ phẩm tướng quân, tánh tình thô bạo, nóng nảy, rán sức vượt lên trước đuổi theo kịp. Tôi để Áo trên đá, trách:

 

– “Áo này là tín vật, muốn dùng sức mạnh đoạt sao ?”

 

Nói xong, Năng tôi ẩn vào đám cỏ rậm. Huệ Minh vội đến nhặt lên, nhưng Áo không nhúc nhích, hoảng sợ, kêu lớn:

 

– “Hành giả, hành giả, đệ tử vì Pháp đến đây, không phải vì Áo”. Năng tôi ra ngồi trên bàn thạch, Huệ Minh đảnh lễ:

 

– “Mong ơn hành giả thuyết pháp cho đệ tử nghe”.  Tôi đáp:

 

– “Nếu ông vì pháp đến đây, hãy ngưng hết mọi trần duyên, dứt các niệm tưởng, tôi sẽ giảng cho ông nghe”. Huệ Minh im lặng hồi lâu, tôi giảng:

 

– “Chẳng tưởng việc lành, không nghĩ điều ác, lúc đó chính là bổn lai diện mục, tức chơn tánh của Minh thượng tọa”.

Huệ Minh nghe liền đại ngộ, bạch:

 

– “Ngoài lời và ý này xin Đại sư cho đệ tử biết còn điều chi bí mật nữa chăng?”  Đại sư:

 

– “Lời tôi đã nói thì không còn bí mật, ông nên tự soi vào trong, sẽ thấy mầu nhiệm”.  Huệ Minh bạch:

 

– “Huệ Minh từ lâu tu ở Huỳnh Mai nhưng chưa thấy bổn lai diện mục, nay nhờ ơn Thầy chỉ dạy, như người uống nuớc, lạnh ấm tự biết. Từ bây giờ hành giả là Thầy của Huệ Minh”.  Tôi từ chối:

 

– “Nếu ông nghĩ vậy, chúng ta cùng thờ Sư Huỳnh Mai, cố gắng hộ trì pháp này”.  Huệ Minh bạch tiếp:

 

– “Kính xin Đại sư dạy đệ tử nên về hướng nào?”  Tôi đáp:

 

– “Gặp Viên (Viên Châu) nên dừng, đến Mong (Mong Sơn) ở lại ”. Huệ Minh lễ tạ, từ giã, xuống núi báo với đồ chúng:

 

– “Ta đã lên tới đỉnh núi, nhưng không thấy tung tích, các ông nên đi hướng khác tìm”. Tất cả đều tin.

 

Sau đó, Huệ Minh lấy hiệu Đạo Minh, cố ý tránh tên thầy.

 

Vừa tới Tào Khê, bọn ác theo kịp, Năng tôi phải lánh mình trong nhóm thợ săn, ở ấp Tứ Hội hơn 15 năm. Thời gian này, tôi tùy nghi thuyết pháp cho chúng nghe, dầu vậy, tôi vẫn thường bị sai giữ lưới. Khi thú cầm mắc lưới, Năng tôi đều kín đáo thả hết. Lúc nấu ăn, tôi để rau trong nồi thịt, chúng hỏi, tôi trả lời:

 

– “Chỉ ăn rau luộc bên thịt ”.

 

Ngày nọ, nghĩ không thể ẩn mãi nơi này, tôi liền đến chùa Pháp Tánh, Quảng Châu, nhằm lúc Ấn Tông pháp sư giảng kinh Niết Bàn. Bấy giờ có luồng gió nhẹ thổi lá phướn trước sân chùa lay động, một vị tăng lên tiếng:

 

– “Gió động”, vị tăng khác cải:

 

– “Phướn động”, nghị luận không ngưng. Tôi liền can:

 

– “Không phải gió hay phướn động, chính tâm hai ông động”.

 

Tất cả giật mình. Ấn Tông mời tôi lên đàn, hỏi về Phật lý, tôi giải đáp rõ ràng, lời giản dị. Nghe xong, Ấn Tông bạch:

– “Hành giả nhứt định người phi thường, từ lâu tôi nghe Y Bát Huỳnh Mai đã về Nam, phải hành giả chăng?” Tôi khiêm nhượng:

 

– “Không dám!” Ấn Tông đảnh lễ, thỉnh cầu cho đại chúng được xem Y Bát. Xong, Ấn Tông bạch thêm:

 

– “Cách truyền pháp của Sư Huỳnh Mai thế nào?”

 

– “Truyền trao thì không, chỉ dạy thấy tánh; chẳng luận về thiền định và giải thoát ”. Ấn Tông ngạc nhiên bạch:

 

– “Tại sao không luận thiền định và giải thoát ?” Tôi đáp:

 

– “Vì hai pháp đó không phải của Phật, Phật pháp vốn không hai ”. Ấn Tông hỏi thêm:

 

– “Sao gọi Phật pháp không hai ?” Tôi giải thích:

 

– “Pháp sư giảng kinh Niết Bàn đã rõ, Phật tánh tức pháp không hai của Phật pháp. Như Bồ Tát Cao Quí Đức Vương bạch với Phật: “Người phạm 4 tội trọng, 5 điều nghịch và nhứt xiển đề, có dứt thiện căn Phật tánh chăng ?”  Phật dạy: “Thiện căn có 2 thứ, một là thường, hai vô thường, Phật tánh chẳng phải thường cũng chẳng phải không thường, nên Phật tánh không dứt, đó gọi pháp không hai. Căn cũng có hai, một thiện hai không thiện, Phật tánh không thiện cũng không phải không thiện, nên gọi Phật tánh không hai. Uẩn với giới người phàm thấy hai, người trí hiểu tánh ấy không hai, tánh không hai tức Phật tánh”.

 

Ấn Tông nghe giảng vui mừng, chấp tay bạch:

 

– “Tôi giảng kinh như gạch ngói, nhơn giả luận nghĩa như vàng ròng”. Nhơn đó, xuống tóc cho tôi và tôn là Thầy.

 

Nơi cội bồ đề, tôi khởi sự giảng:

 

– “Năng tôi đắc Pháp môn Đốn giáo này tại Đông Sơn, đã chịu nhiều cực khổ, mạng từng nguy hiểm như sợi tơ treo, ngày nay được cùng sử quân và quí vị quan viên, tăng, ni, đạo, tục, tựu họp một hội nơi đây, do có duyên nhiều đời, cúng dường chư Phật nhiều kiếp, đã trồng căn lành, mới được nghe nguyên nhân đắc pháp và pháp môn đốn giáo. Pháp, do các bậc Thánh đời trước truyền lại, không phải tôi tự đặt. Nguyện khi nghe những lời dạy của các bậc Thánh xưa, quí vị nên lắng tâm thanh tịnh, nghe xong tự trừ nghi hoặc, sẽ chứng đắc như chư Thánh, không khác biệt ”.

 

Tất cả nghe pháp đều vui mừng, đảnh lễ lui ra.

 

– *** –

 

 

II.- BÁT NHÃ

 

LỤC TỔ GIẢI NGHĨA TRÍ HUỆ

 

— *** —

 

Qua ngày sau, Vi Sử Quân xin được chỉ dạy thêm, Đại Sư lên bục giảng, bảo đại chúng:

 

– “Tất cả quí vị nên tịnh tâm niệm: Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa”. Đại Sư giảng tiếp:

 

– “Thiện tri thức! ¹ Mỗi người đều có trí Bồ đề Bát Nhã, vì tâm mê muội không thể tỏ ngộ, phải nhờ đại thiện tri thức chỉ dẫn mới được thấy tánh. Nên hiểu, người mê kẻ trí đều có Phật tánh, không khác biệt, vì mê ngộ không đồng mới có kẻ tối người sáng. Nay tôi giảng pháp Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật cho quí vị được đắc trí huệ, nên lắng tâm nghe kỹ ”.

 

– “Thiện tri thức! Người đời suốt ngày miệng niệm Bát Nhã mà không rõ Bát Nhã có sẵn trong tánh mình, ví như nói ăn nhưng không ăn sao no; miệng nói tâm không mà không biết chơn không để tu, muôn kiếp cũng chẳng thấy tánh, rốt cuộc không ích lợi”.

 

– “Thiện tri thức! Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, tiếng Phạn, ² người Trung Hoa dịch: Đại trí huệ đáo bỉ ngạn, có nghĩa trí huệ lớn, đến bờ bên kia, tức bờ giác. Tu do tâm hành chẳng do miệng niệm. Miệng niệm tâm không hành như mộng ảo, như biến hóa, như sương mù, như điện chớp. Miệng niệm tâm phải hành, lòng và miệng hợp nhau. Chơn tánh là Phật, rời tánh không có Phật”.

 

– “Thiện tri thức! Sao gọi Ma Ha? Ma Ha là lớn, lượng của tâm rộng lớn bao la như không gian, chẳng có giới hạn bến bờ, không vuông tròn, lớn nhỏ, chẳng xanh đỏ trắng vàng, không trên dưới, ngắn dài, không giận, không vui, không phải quấy, không thiện ác, không đầu đuôi. Các cõi của chư Phật cũng bao la rộng lớn như không gian vậy”.

 

– “Thiện tri thức! Tánh huyền diệu của người đời vốn trống —-

1.- Bạn hiền về đạo lý. Người có đạo hạnh cao.

2.- Văn tự cổ Ấn độ.

không, chẳng thứ gì có thể tìm được trong đó, tánh chơn không của chúng ta cũng giống như vậy”.

 

– “Thiện tri thức! Đừng nghe tôi giảng không, liền chấp không. Cần nhứt, chớ chấp không, nếu để tâm không ngồi yên liền rơi vào vô ký không”. (không nghĩ, không nhớ gì hết).

 

– “Thiện tri thức! Thế giới tuy trống không nhưng bao gồm vạn vật, các cảnh sắc có hình trạng như: mặt trời, trăng, sao, núi, sông, đất liền, suối, nguồn, sông, rạch, cây, cỏ, rừng, bụi, người ác, kẻ hiền, việc ác, điều lành, thiên đường, địa ngục, tất cả biển lớn, các núi Tu Di, đều ở trong không gian, chơn tánh của người đời cũng trống không như vậy”.

 

– “Thiện tri thức! Chơn tánh của chúng ta có khả năng dung chứa tất cả cảnh vật, nên gọi rộng lớn. Các cõi đều ở trong chơn tánh người đời. Không chứa chấp trong lòng việc ác, điều lành của người khác, không giữ bỏ, không nhiễm mắc, vẫn bình lặng như không trung rộng bao la, gọi Ma Ha”.

 

– “Thiện tri thức! Người mê niệm suông ngoài miệng, kẻ trí thực hành trong tâm. Người mê ngồi yên lặng để tâm trống rỗng, các việc đều không nghĩ đến, tự cho mình cao siêu. Hạng người này đã rơi vào tà kiến, khó trao đổi với họ”.

 

– “Thiện tri thức! Thể tích của tâm (sức chứa đựng), rộng lớn vô cùng tận, bao trùm các cõi, nên gọi lớn. Công dụng của tâm giúp ta xét đoán, hiểu biết tường tận, phân minh sự việc. Tất cả đều do một tâm, nên gọi tất cả là một. Do một tâm, khi dùng hiểu rành tất cả, nên gọi một là tất cả. Thể của tâm luôn tự do lui tới, sáng tỏ, thông suốt, không vướng ngại, là Trí Huệ Bát Nhã”.

 

– “Thiện tri thức! Tất cả trí Bát Nhã đều từ tánh sanh, không tìm bên ngoài đem vào, chớ lầm dùng ý thức, phải dùng chơn tánh.¹ Khi dùng chơn tánh tất cả đều chơn”.²

 

– “Thiện tri thức! Lượng của tâm phải dùng vào việc lớn, chẳng theo điều nhỏ.³ Chớ nên suốt ngày miệng nói không mà trong tâm chẳng tu hạnh này, như vậy khác gì người thường mê muội nuôi tham vọng mạo xưng vương, rốt lại chẳng được gì. Hạng người này không phải đệ tử của tôi”.

 

– “Thiện tri thức! Sao gọi Bát Nhã? Là tiếng Trung Hoa, đời  Đường, có nghĩa trí huệ sáng suốt. Tất cả nơi chốn, bất cứ thời gian, các niệm tưởng không mê, thường hành sáng suốt, gọi hạnh Bát Nhã. Một niệm tưởng hôn muội Bát Nhã dứt, một niệm tưởng sáng suốt Bát Nhã liền sanh”.

 

– “Thiện tri thức! Người đời mê muội chẳng thấy Bát Nhã, miệng luôn niệm Bát Nhã mà trong tâm mê tối, họ thường tự hào rằng tu Bát Nhã, lúc nào cũng nói không nhưng chẳng biết lý chơn không. Bát Nhã không hình tướng, tâm sáng suốt tức Bát Nhã. Hiểu rõ như thế, tức trí Bát Nhã”.

 

– “Thiện tri thức! Sao gọi Ba La Mật? Là tiếng Ấn Độ, Trung Hoa dịch: đáo bỉ ngạn, tức đến bờ bên kia, (có nghĩa giải thoát, dứt sanh diệt). Chấp cảnh, sanh diệt liền khởi như nước dậy sóng, là còn bờ bên này. Rời các cảnh, sanh diệt dứt, nước lưu thông liền đến bờ bên kia, tức bờ giải thoát là hết sanh diệt, gọi Ba La Mật”.

 

– “Thiện tri thức! Người mê miệng niệm nhưng trong tâm còn vọng động, tưởng điều sai quấy. Mỗi niệm tưởng tâm thường hành Bát Nhã, là chơn tánh. Ngộ lý này gọi pháp Bát Nhã, tu hạnh này tức hạnh Bát Nhã. Chẳng tu, còn phàm phu, một niệm tu hành tự thân bằng Phật”.

 

– “Thiện tri thức! Phàm phu giác ngộ là Phật, phiền não dứt sạch tức bồ đề. Niệm tưởng trước còn mê là phàm phu, niệm tưởng sau tỏ ngộ tức Phật. Niệm tưởng trước chấp cảnh còn phiền não, niệm tưởng sau dứt các cảnh là bồ đề”.

 

– “Thiện tri thức! Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật tối cao, tối thuợng, là đệ nhứt. Không trụ, không đến, chẳng tới lui.

—–

1 – 2.- Nhận được chơn tánh và dùng chơn tánh thì thấy biết các việc đều chơn. Khi rõ được chính xác một vật, thì hiểu được muôn vật, nên gọi một chơn tất cả đều chơn. Nếu dùng ý thức để phân biệt sự việc, thì bị ảnh hưởng của ngoại cảnh làm sai lầm, tạo nên nghiệp, sẽ phải  luân hồi chịu trả quả.

3.- Làm chuyện lớn là dùng trí Bát Nhã tu thành Phật. Làm việc nhỏ là tu phước để hưởng lạc thú ở cõi Trời và cõi người. Khi hết phước phải chịu đọa trầm luân.

 

 

Ba đời chư Phật nương đây tu thành. Dùng đại trí huệ chiếu sạch ngũ uẩn và các phiền não trần lao, biến ba độc: Tham, Sân, Si thành Giới, Định, Huệ, tu được vậy nhứt định viên thành Phật quả”.

 

– “Thiện tri thức! Pháp môn của tôi từ một Bát Nhã, sanh tám vạn bốn ngàn trí huệ. Vì sao? Vì người đời gây ra tám vạn bốn ngàn trần lao, tức phiền não; không còn phiền não trí huệ liền hiện, chẳng rời tánh mình. Ngộ pháp này là không niệm: lòng không nhớ vẩn vơ, không mê chấp, không tưởng nghĩ sai quấy. Dùng tánh chơn như, lấy trí huệ chiếu soi, đối cảnh lòng không giữ, chẳng bỏ, liền thấy tánh thành Phật đạo”.

 

– “Thiện tri thức! Nếu muốn vào cảnh giới vi diệu của Bát Nhã Chánh Định, nên hành hạnh Bát Nhã và tu theo kinh Kim Cang sẽ được thấy tánh. Nên biết công đức kinh này vô lượng vô biên, những lời trong kinh ca ngợi hạnh Bát Nhã rõ ràng không thể kể hết. Pháp môn này là tối thượng thừa, dùng giảng cho bực đại trí, giải thích với người thượng căn”.

 

– “Thiện tri thức! Người căn trí kém, khi nghe lòng không tin. Vì sao? Ví như trận mưa to xuống cõi Diêm phù, thành thị, làng xóm, bộ lạc đều bị nước ngập lụt, cuốn trôi như trôi lá táo, như trôi cỏ rác; nếu mưa xuống biển lớn khó phân biệt lượng nước thêm hay bớt. Người đại thừa, người tối thượng thừa, nghe kinh Kim Cang tâm liền tỏ ngộ. Nên hiểu, chơn tánh của người đời sẵn có trí Bát Nhã, vậy, nên dùng trí Bát Nhã tự soi sét, phân đoán sự việc, đừng chấp văn chương, chữ nghĩa. Ví như nước mưa không phải có tự nơi trời, mà do rồng rút lên¹, khiến chúng sanh, thảo mộc, các loài hữu tình (có tri giác), vô tình (không tri giác), đều được thấm nhuần. Nước từ sông rạch chảy ra biển, hợp thành một thứ nước, trí Bát Nhã của chơn tánh chúng sanh cũng vậy”.

 

—-

1.- Trước khi khoa học chứng minh hơi nước bốc lên thành mây, rồi tan rả rơi xuống là mưa. Người xưa tin rồng hút nước làm mưa.

 

 

– “Thiện tri thức! Người căn cơ kém, khi nghe pháp đốn giáo  như cây cỏ gốc rễ nhỏ, gặp mưa to phải xiêu ngã, không tăng trưởng được. Trí Bát Nhã sẵn có trong mỗi người, không khác biệt, tại sao nghe pháp chẳng tự sáng tỏ, vì tà kiến, nghiệp chướng quá nặng, gốc rễ phiền não rất sâu, như mây lớn che khuất mặt trời, nếu chẳng nhờ gió mạnh thổi tan, ánh sáng không chiếu ra được. Trí Bát Nhã cũng không lớn nhỏ, vì tâm chúng sanh mê, sáng chẳng đồng. Người tu hành tâm mê tìm Phật theo hình tướng bên ngoài, vì chưa nhận được chơn tánh, tức căn cơ kém. Nếu hiểu pháp đốn giáo không chấp hình thức bên ngoài, chỉ cần trong tâm luôn giữ chánh kiến thì phiền não trần lao không nhiễm được, liền thấy tánh”.

 

– “Thiện tri thức! Tâm ta trong ngoài không nhiễm mắc, chẳng vướng cảnh, lui tới tự do, thông suốt, tu được hạnh này, đối với kinh Bát Nhã không khác”.

 

– “Thiện tri thức! Tất cả văn tự trong kinh Tu Đa La đại tiểu hai thừa, 12 bộ kinh, đều do người trí huệ viết. Nếu không có người đời, vạn pháp đương nhiên không có”.

 

– “Thiện tri thức! Nên hiểu, vạn pháp vốn do người đời thành lập, kinh sách do người giảng giải, biên chép mới có. Người thế gian có mê có sáng, mê gọi tiểu nhơn, sáng là đại nhơn.  Kẻ mê hỏi người sáng, người sáng giảng cho kẻ mê được tỏ ngộ, tâm trí thông suốt, đâu còn phân biệt mê sáng nữa”.

 

– “Thiện tri thức! Chưa ngộ, Phật còn trong chúng sanh. Tỏ ngộ, chúng sanh thành Phật. Nên biết, vạn pháp do tâm, tại sao không dùng tâm ta để thấy chơn như bổn tánh, tức Phật tánh? Kinh Bồ Tát giới chép: “Bổn nguyên tự tánh vốn trong sạch. Nếu ngộ được tâm, thấy được tánh liền thành Phật đạo. Kinh Tịnh Danh chép: “Tức thời tâm trí thông suốt, liền phục hồi được bổn tâm”. ¹

 

– “Thiện tri thức! Khi tôi ở nơi Nhẫn Hòa thượng nghe một lời giảng liền tỏ ngộ, thấy Chơn Như Bổn Tánh, nên tôi đem giáo pháp này truyền lưu, giúp người học đạo sớm ngộ bồ đề, tự soi tâm thấy tánh. Nếu tự mình chưa ngộ, cần nhờ thiện tri thức giảng giải pháp tối thượng thừa và chỉ đường tu chơn chánh, vì thiện tri thức có nhơn duyên với chúng sanh, hướng dẫn mới được thấy tánh. Các pháp lành đều do thiện tri thức lập. Chư Phật ba đời, ² 12 bộ kinh ³ trong tánh mỗi người có đủ. Nếu tự mình hiểu, khỏi cầu người ngoài. Nhược bằng ỷ lại hoàn toàn vào thiện tri thức nhờ giải thoát dùm là không ý thức. Vì sao? Vì tâm ta sẵn có tri thức tự ngộ, nếu luôn khởi tà mê, vọng niệm điên đảo, dầu thiện tri thức tận tình chỉ dạy cũng không sao giúp được. Khi dùng chánh kiến Bát Nhã chiếu soi, trong chớp mắt vọng niệm điên đảo diệt hết. Thấy được tánh, một niệm tưởng giác ngộ liền đạt đến địa vị Phật”.

 

– “Thiện tri thức! Dùng trí huệ chiếu soi trong ngoài sáng tỏ, rõ ràng, liền nhận được chơn tâm, tức giải thoát, được giải thoát là Bát Nhã Chánh Định, mới gọi Không niệm. Sao gọi Không niệm? Thấy cảnh vật tâm không nhiễm, là Không niệm. Dụng của tâm bao trùm các cõi không vướng mắc nơi nào. Cứ tịnh tâm, khiến 6 thức ⁴ ra 6 cửa hợp với 6 trần, tâm không tạp nhiễm, lui tới tự do, thông dụng không trở ngại, tức Bát Nhã Chánh Định tự tại giải thoát, là hạnh Không niệm. Nếu cố đè nén tâm, không cho nghĩ ngoại cảnh, khiến tư tưởng ngưng dứt vĩnh viễn, là bị pháp trói buộc, gọi biên kiến, (thấy một chiều) thật sai lầm”.

 

– “Thiện tri thức! Hiểu rõ pháp Không niệm liền suốt thông vạn pháp, hiểu rõ pháp Không niệm tức thấy cảnh giới chư Phật, hiểu rõ pháp Không niệm là đạt đến địa vị Phật”.

 

– “Thiện tri thức! Đời sau nếu ngộ Pháp môn Đốn giáo, nên cùng những người đồng chí hướng tu học, phát nguyện bảo tồn, chung thân không thối chuyển cũng như phụng sự chư Phật, được vậy, chắc chắn sẽ nhập Thánh vị. Từ nay về sau nên truyền cho đúng và chẳng đặng giấu chánh pháp, tuy nhiên, không nên truyền cho người khác chí hướng, không quyết lòng hành đạo, người khác phái, vì kẻ mê không hiểu, chê bai pháp môn Đốn giáo, khiến họ phải chịu trăm kiếp ngàn đời dứt mất giống Phật tánh”.

—–

1.- Kinh Duy Ma Cật.   2 – 3.- Xin xem lời giải ở cuối Phẩm.

4.- Thức là sự hay biết, của Mắt: Nhãn thức. Của Tai: Nhĩ thức. Của Mũi: Tỹ thức. Của Lưỡi: Thiệt thức. Của Thân: Thân thức. Của Ý: Ý thức. – 6 Cửa: Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý. – 6 Trần:  Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp.

 

 

 

– “Thiện tri thức! Tôi có bài kệ không tướng, các ông nên siêng tụng, dầu ở tại nhà hay vào chùa, cứ y theo đó tu, nếu không tu mà chỉ nhớ lời của tôi cũng không ích lợi. Nghe kệ:

 

 

“Tâm thông giảng suốt thông

Như mặt trời trên không.

Chỉ truyền pháp thấy tánh,

Vào đời phá tà tông.

Pháp không phân mau chậm,

Mê ngộ có chậm mau.

Pháp môn thấy tánh này,

Còn mê khó hiểu thấu.

Giảng ra muôn ngàn lối,

Chân lý vốn một thôi.

Phiền não lòng mê tối,

Đuốc huệ luôn chiếu soi.

Khởi tà sanh phiền não,

Tâm chánh, mê tối tan.

Chánh tà không vướng bận,

Thanh tịnh tức Niết bàn.

Bồ đề tự tánh minh,

Tâm khởi vọng liền sanh.

Nơi vọng có tịnh tánh,

Dứt chướng nhờ tâm thanh.

Người đời muốn tu hành,

Lòng đừng vương ngoại cảnh.

Thường soi xét lỗi mình,

Với đạo đồng một hạnh.

Sanh vật đều có đạo,

Không nên hại lẫn nhau.

Rời tâm, ngoài tìm đạo,

Suốt kiếp chịu lao đao.

Bôn ba trọn một đời,

Rốt lại thêm phiền não.

Muốn thấy được chơn đạo,

Tâm chánh ấy đạo mầu.

Chưa phát được đạo tâm,

Tạo quấy đạo khó tầm.

Người tu hành ngay thật,

Không nhìn lỗi thế nhân.

Tìm điều sai người khác,

Chê bai là chưa đạt.

Người trái ta đừng sai,

Ta sai do bài bác.

Nên quên hết tà tâm,

Lánh xa điều phiền não.

Thương ghét cũng không màng,

Thảnh thơi an nhàn nghỉ.

Muốn độ người cạn trí,

Phương tiện phải sẵn sàng. ⁵

Hóa giải hết nghi nan,

Chơn tánh hiện rõ ràng.

Phật pháp nơi thế gian,

Chớ xa đời tầm giác.

Tìm bồ đề lánh trần,

Kiếm sừng thỏ nào khác.

Chánh kiến là xuất thế,

Tà kiến còn trần gian.

Chánh tà đều quên hết,

Bồ đề hiện rõ ràng.

Kệ này là đốn giáo,

Đồng danh đại pháp thoàn.

Mê, cần tu nhiều kiếp,

Ngộ, khoảnh khắc thời gian”.

 

 

Phỏng dịch:

 

 “Tâm suốt thông giảng lời thông suốt,             

Như mặt Trời sáng rực trên không.

Thực hành kiến tánh pháp môn,

Phật lực hóa giải tà tông cõi trần.

Phật pháp vốn không phân mau chậm,

Tùy mỗi người mau chậm hiểu thôi.

Pháp môn kiến tánh ra đời,

Còn mê đâu dễ thấu lời dạy khuyên.

Giảng giải ra dầu thiên vạn lối,

Nhưng lý chân một mối không hai.  

Phiền não sanh, dạ u hoài,

Cần nương đuốc huệ đêm ngày chiếu soi.                

Tà tâm khởi, cả đời thống thiết,

Chánh kiến sanh thông suốt trong ngoài.

Thấp, cao, hơn, thiệt, đúng, sai,

Gìn lòng chánh trực thấy ngay Niết Bàn.

Tâm thanh tịnh do nương Bát Nhã,    

Sạch vô minh, giác tánh hiện ra.

Gạn trong lắng đục lòng ta,                

Dứt xong ba chướng ái hà thoát qua.  

Người chân tu thiết tha hành đạo,

Đừng để lòng rong dạo khắp nơi.

Sửa lỗi mình, cẩn ý lời,

Học môn định huệ đạo đời đều thông.

Người với vật máu nồng cùng thắm,

Nỡ lòng nào tàn nhẫn hại nhau.

Đạo không thứ bực thấp cao,

Chớ nên thay đổi sớm vào chiều ra.

Dầu xuôi ngược bôn ba hết kiếp,

Tàn hơi rồi, hối tiếc mà thôi.               

Thiền tông gắng giữ trọn đời,

Làm điều ngay thẳng phục hồi chơn tâm.

Không lập chí tu môn đốn pháp,

Như người mù đi lạc rừng đêm.

Đức hạnh luôn chuốt trau thêm,

Thói hư nết xấu, việc riêng mặc người.

Đừng ghé mắt vào đời nhân thế,

Mới thiệt hành định huệ suốt thông. 

Cõi trần vạn sự đều không,

Mặc người phải trái, sạch trong phận mình.

Dứt cho hết trọng khinh nhân ngã,

Lòng buồn phiền tất cả xả tan.

Giàu nghèo, thương ghét không màng,        

Rèn tâm luyện tánh an nhàn thảnh thơi.

Muốn hóa độ lớp người cạn trí,

Phương tiện cần giải tỏa lầm sai.

Xóa tan chấp mắc lâu nay,                  

Tức thì trước mắt liên đài hiện ra.

Phật pháp tại cõi ta bà,           

Chớ đi tầm giác rừng già núi non      

Bồ đề kiếm gầy mòn thân xác,

Như tìm sừng thỏ khác chi đâu.

Chánh kiến xuất thế nhiệm mầu,

Tà kiến nhập thế gây sầu thế nhân.

Chánh với tà một lần dứt tuyệt,

Tánh bồ đề nhất quyết hiện ra.

Pháp đốn giáo từ Phật gia,

Đại pháp thoàn cũng là đồng danh.

Người mê bền chí tu hành,

Ngộ,trong giây phút vãng sanh Phật đài”.

 

Đại Sư dạy thêm:

 

– “Buổi giảng tại chùa Đại Phạm hôm nay, tôi nguyện cầu chúng sanh có duyên trong các cõi, nghe pháp môn Đốn giáo này được thấy tánh thành Phật ”.

 

Bấy giờ Sử Quân cùng quan viên, đạo, tục, nghe Đại Sư giảng, đều tỉnh ngộ, đồng đảnh lễ và khen:

 

– “Nào dè Lãnh Nam có Phật ra đời !”

 

— *** —

 

 

 

                       Giải thích các lời chú trang 32:

— *** —

 

1. Kinh Lăng GiàPhật thuyết tại núi Lăng Già đảo Tích Lan. 4 quyển nay còn 3 quyển.

a. Đời Tống Cầu Na Bạt Đà La dịch: tên Lăng Già A Bạt Đà La bửu kinh (4 quyển).

b. Đời Nguyên, Ngụy Bồ Đề Lưu Chi dịch: tên Nhập Lăng Già kinh (10 quyển).

c. Đời ĐườngThật Xoa Nam Đà dịch: tên Đại thừa nhập Lăng già kinh (7 quyển).

 

2. Phật ba đời: Tức Tam Thế Tam Thiên Phật: Quá khứ thế Trang Nghiêm Kiếp – Hiện tại thế Hiền Kiếp và Vị lai thế Tinh Tú Kiếp. Mỗi kiếp 1,000 vị Phật ra đời.

— *** —

                   

                                                                                            Phụ giải về 12 bộ Đại Thừa kinh:

 

 

 

1.- Tu đa la (Sùtra) dịchKhế kinh, Pháp bổn kinh Trường hàng. Khế kinh (hợp căn cơ chúng sanh).

2.- Kỳ dạ (Geya) dịch: Ứng tụng, hay Trùng tụng  (thuyết nghĩa lý của kinh trường hàng).

3.- Hòa ca la na (Vyakarana) dịch: Thọ ký (thọ ký các đệ tử sẽ thành Phật).

4.- Già đà (Gàthà) dịch: Phúng tụng, Cô khởi tụng  (kệ tụng).

5.- Ưu đà na (Udana) dịch: Tự thuyết  (tự Phật thuyết không ai hỏi).

6.- Ni đà na (Nidàna) dịch: Nhơn duyên  (có duyên được nghe pháp, và căn bản của vũ trụ).

7.- A ba đà na (Avadàna) dịch: Thí dụ  (thí dụ cho hiểu giáo pháp).

8.- Y đế mục đa già (Itivrtaka) dịch: Bổn sự (đời quá khứ Bồ Tát và các đệ tử).

9.- Xà đà già (Jàtaka) dịch: Bổn sanh  (đời quá khứ đức Phật).

10.- Tỳ Phật lược (Vaipulya) dịch: Phương quảng (giải nghĩa lý cao siêu tuyệt đối của đại thừa).

11.- A Phù đà đạt ma (Adbhutahdarma) dịch: Vị tằng hữu (oai lực thần thông của Phật).

12.- Ưu ba đề xá (Upadêsa) dịch: Luận nghị, thuyết về lý luận (phân biệt chánh tà).

 

 

5.- Lời giải thích hợp căn cơ, giúp người tu được giác ngộ.

 

 

 

III.- NGHI VẤN

 

HỎI CHỖ NGHI

— *** —

 

Ngày nọ, Vi thứ sử mở tiệc chay lớn đãi Đại Sư, xong tiệc, Thứ sử thỉnh Đại Sư đăng đàn, quan viên, sĩ phu, thứ dân, đảnh lễ, đồng cung kính bạch:

 

– “Chúng tôi nghe Đại Sư thuyết pháp lý lẽ quá cao siêu, thật không thể nghĩ suy, bàn luận được, nay có chút nghi ngờ, nguyện cầu Đại Sư từ bi giải thích”. Đại Sư:

 

– “Quí vị có điều nào nghi, xin bày tỏ, tôi sẽ giải”. Vi Công:

 

– “Bạch Đại Sư, phần giảng giải của Đại Sư phải tông chỉ của Tổ Đạt Ma không?”  Đại Sư:

 

– “Phải”. Vi Công:

 

– “Bạch Đại Sư, đệ tử được nghe Tổ Đạt Ma ban sơ hóa độ Lương Võ đế, Võ đế hỏi: “Trẫm một đời tạo chùa độ tăng, bố thí, đãi tiệc chay, như vậy có công đức chi chăng?” Tổ Đạt Ma đáp: “Thật không công đức! “ Đệ tử chưa hiểu lý này, kính xin Đại Sư từ bi chỉ dạy”. Đại Sư giải thích:

 

– “Thật không công đức, chớ nghi lời của Thánh trước kia. Võ đế tâm tà, chẳng biết chánh pháp. Tạo chùa độ tăng, bố thí, đãi chay, là cầu phước, không thể lấy phước đó kể vào công đức được. Công đức ở nơi pháp thân(tức từ trong đức tính căn bản của mình, chớ chẳng phải do tạo phước)“.

 

Đại Sư tiếp:

 

– “Thấy tánh, là công, giữ lòng bình đẳng, là đức.¹ Tâm thông suốt, luôn giữ gìn chơn tánh, hành động chơn chánh mới thật công đức. Trong lòng lúc nào cũng khiêm nhượng tức công, bên ngoài giữ lễ gọi đức”.

 

– “Thiện tri thức! Tánh mình lập muôn pháp ² là công, tâm dứt vọng niệm gọi đức, không quên tánh là công, ứng dụng không nhiễm điều sái quấy gọi đức. Muốn tìm công đức ở pháp thân phải y theo đó hành mới thật chơn công đức”.

—–

1.- Lòng bình đẳng tức là tâm như như đối với tất cả chúng sanh cùng vạn vật đều xem đồng một thể, không phân biệt, không phân chia giai cấp.

 

 

– “Thiện tri thức! Tu công đức tâm không nhơn ngã, không tự cao tự đại, luôn hòa nhã và lễ độ với tất cả. Nếu trong tâm còn khinh người là nhân ngã chưa dứt, tức không công, tánh tình gian trá, giả dối, là không đức”.

 

– “Thiện tri thức! Niệm tưởng chơn chánh, liên tục, là công, tâm hành ngay thẳng gọi đức; tự tu tánh là công, tự tu thân gọi đức”.

 

– “Thiện tri thức! Công đức phải thấy từ trong tánh, chẳng phải do bố thí, cúng dường, cố tạo hình thức bên ngoài mà được, vì thế phước đức với công đức khác nhau.Võ đế không rõ chân lý chớ chẳng phải Tổ Sư sai lầm”. Thứ sử:

 

– “Đệ tử thường thấy tăng tục niệm A Di Đà Phật cầu nguyện vãng sanh về Tây phương, vậy các vị ấy có được sanh về đó hay không?  Kính xin Đại Sư phá nghi dùm”.

 

– “Thứ sử nên nghe kỹ, khi đức Thế Tôn nơi thành Xá Vệ giảng về sự tiếp dẫn và hóa độ vào cõi Tây phương, Ngài giải rõ, cõi đó không cách xa đây, nếu luận về tướng và số dặm,  có 10 vạn tám ngàn, nghĩa là trong thân ta có 10 điều ác, ³ 8 điều tà,⁴ đó là khoản cách giữa trần gian với Tây phương Cực lạc; rất xa đối với người căn cơ thấp nhưng thật gần với người thượng trí. Người đời có hai hạng tối, sáng, pháp tu không hai bực, vì mê ngộ khác nhau nên sự hiểu biết có chậm mau, kẻ mê niệm Phật cầu vãng sanh về Tây phương, người ngộ tự tịnh nơi tâm. Phật dạy: “Tùy tâm tịnh tức Phật độ tịnh”, Sử Quân người phương Đông nếu tâm thanh tịnh, vô tội; người phương Tây tâm không thanh tịnh cũng có lỗi. Người phương Đông tạo tội, niệm Phật cầu sanh về Tây phương, còn người phương Tây tạo tội, niệm Phật cầu sanh về nước nào?

——-

2.- Tánh ta lập ra muôn pháp nghĩa là có đủ 3 đức lớn: Giải  Tín  Hạnh.

3.- 10 điều ác: Sát sanh – Trộm cướp – Tà dâm – Nói đâm thọc cho hai bên giận nhau – Nói lớn lối, cậy thế – Nói điều ác , chưởi mắng, thô tục – Kêu Trời, Phật, Thần, Thánh – Nói thêm bớt huyễn hoặc – Tham, S ân, Si – Mê muội ngu tối. 

4.- 8 điều tà: 1/-Tà kiến (thấy điều tà) 2/– Nghĩ tà. 3/- Không tinh tấn, lười biếng. 4/- Nói tà. 5/- Nghề nghiệp tà. 6/– Mạng tà. 7/– Niệm tà. 8/- Định tà.

 

 

Người mê không rõ tánh mình, chẳng biết tịnh độ tại thân, lo nguyện Đông nguyện Tây! Người giác ngộ, dầu ở xứ nào vẫn một lòng thanh tịnh.Vì vậy, Phật dạy: “Tùy chỗ ở hằng an lạc”, (người giác ngộ bất luận ở nơi nào cũng thấy an vui). Sử Quân tâm giữ trong lành thì đến cõi Tây phương không xa, nhược bằng ôm ấp lòng hiểm độc, dầu niệm Phật cầu vãng sanh suốt kiếp, Phật cũng không độ được. Tôi khuyên quí vị, trước nên trừ 10 điều ác trong tâm, tức đi được 10 vạn, sau dứt 8 điều tà là qua 8 ngàn; mỗi niệm tưởng đều thấy tánh, thường hành ngay thẳng, khảy móng tay liền thấy Đức Di Đà. Sử Quân lúc nào cũng thực hiện 10 điều lành, đâu cần nguyện vãng sanh, còn chứa 10 điều ác trong lòng,  Phật nào đến nơi đón rước!”

 

– “Thiện tri thức! Tỏ ngộ đốn pháp vô sanh, thấy Tây phương chỉ trong chớp mắt, nếu chưa tỏ ngộ, cứ lo niệm Phật cầu sanh, đường xa làm sao đến được?”

 

– “Thiện tri thức! Quí vị muốn thấy không, Huệ Năng tôi dời cõi Tây phương về đây trong chớp mắt”. Đồ chúng:

 

 

– “Nếu thấy trước mắt, đâu cần nguyện vãng sanh về đó nữa. Kính xin Đại Sư từ bi hiện cảnh Tây phương để chúng tôi được thấy ”. Đại Sư:

 

– “Thiện tri thức! Sắc thân người đời như thành trì, mắt, tai, mũi, lưỡi là cửa, trong có cửa ý, tâm là lãnh thổ, tánh là vua, vua ở lãnh thổ của tâm. Tánh còn vua còn, tánh đi vua mất. Tánh còn thân tâm còn, tánh mất thân tâm hoại. Tìm Phật nên nhìn nơi tánh, đừng hướng ngoài thân tìm cầu vô ích. Tánh mê là chúng sanh, giác ngộ tức Phật. Lòng từ bi là hiện thân của Đức Quan Âm Bồ tát, hỷ xả tức Đại Thế Chí Bồ tát, lòng luôn thanh tịnh tức Phật Thích Ca, tâm bình đẳng chánh chơn là Phật A Di Đà. Lòng nuôi nhân ngã là núi Tu Di, tham dục, tà tâm như nước biển, phiền não tràn đầy như sóng xao, độc hại như rồng dữ, gian xảo, dối trá là ác quỷ, sầu khổ trần lao giống cá rùa, tham sân thành địa ngục, mê si như  súc sanh”.

 

– “Thiện tri thức! Thường hành 10 điều lành thiên đường liền đến, dứt nhơn ngã núi Tu Di đổ, bỏ tham dục nước biển cạn, hết phiền não sóng xao lặng, trừ độc hại cá rồng tuyệt. Tu được vậy giác tánh Như Lai tự tâm thanh tịnh phát ra ánh sáng. Bên ngoài chiếu 6 cửa được thanh tịnh lại có công năng vượt khỏi 6 cõi trời dục giới.¹ Nương tánh này soi chiếu vào trong tiêu trừ ba độc: Tham  Sân – Si, nhờ đó các tội ở địa ngục một lúc tiêu tan, trong ngoài sáng suốt chẳng khác Tây phương. Không tu theo cách này làm sao đến đó được”.

 

Đồ chúng nghe giảng đều thấy tánh, đồng lễ bái khen thật hay, cùng kính cẩn khấn:

 

– “Nguyện cầu chúng sanh trong các cõi nghe xong liền hiểu rõ”.  Đại Sư giảng tiếp:

 

– “Thiện tri thức! Muốn tu, tại nhà cũng được, không nhứt thiết phải vào chùa. Tại nhà thực hành nghiêm cẩn như người phương Đông tâm lành. Ở chùa không tu như nguời phương Tây tâm ác; tâm trong sạch, (tức thanh tịnh) là cõi Tây phương”. Vi Công bạch:

 

– “Tại nhà tu cách nào. Kính xin Đại Sư chỉ dạy”. Đại Sư:

 

– “Tôi đọc bài kệ Không tướng, quí vị y theo đó tu như thường có tôi bên cạnh. Nếu không thực hành đúng, dầu quí vị cạo tóc, vào chùa, với đạo pháp cũng không ích lợi.” Kệ:

 

“Tâm bình đâu cần giữ giới,

Hạnh thẳng há nhọc tu thiền.

Ân, hiếu thảo phận con hiền,

Nghĩa, anh em hòa thân ái.

Nhượng, dưới trên không tranh cãi,

Nhẫn, dứt ác, hết ưu phiền.

Bền tâm, dùi cây ra lửa,

Bùn đọng, sẽ trổ hồng liên.

——-

1.-  Sáu sự ham muốn do 6 căn nhiễm với 6 trần: tức gặp những cảnh thích về: mắt – tai – mũi – lưỡi – thân và ý. Về 6 cõi trời Dục giới là 6 cảnh tiên trong cõi Dục giới, cũng gọi Lục dục thiên, Tứ vương thiên, Đao lợi thiên, Tô dạ ma thiên, Đâu suất thiên, Hoá lạc thiên và Tha hoá tự tại thiên.

 

 

Thuốc đắng bịnh được giảm thuyên,

Nghịch tai, đúng lời trung nghĩa.

 

Hết lỗi liền sanh trí huệ,

Che tội, trong dạ chẳng hiền.

Hằng ngày gắng làm điều thiện,

Thành đạo không do thí tiền.

Bồ đề hướng tâm tìm thấy,

Chớ vọng ngoại cầu hảo huyền.

Nghe giảng trau sửa cần chuyên,

Tây phương thấy liền trước mắt.”

 

 

Phỏng dịch:  

 

Tâm bình lặng đâu cần giữ giới,        

 Hạnh thẳng ngay há nhọc tu thiền.

 Ân, hiếu thảo phận con hiền,            

 Nghĩa, tình huynh đệ tương liên hài hòa.

 Nhượng, thuận thảo, thật thà ưu ái,

 Nhẫn, không gây thiệt hại cho ai.

 Bền tâm, dùi lửa trong cây,     

 Bùn lầy lắng đọng nở ngay sen hồng.

Thuốc thật đắng mới mong hết tật,

Lời thẳng ngay nghe rất nghịch tai.

Sửa hết lỗi, trí huệ khai,

Dấu che tánh xấu còn đầy ác tâm.

Hằng ngày cố gắng làm điều thiện,

Đạo không chấp lời huyễn hư danh.

Bồ đề do được tâm thanh,

Đừng nên vọng ngoại khấn xin Thánh Thần.

Nghe giảng trau sửa chuyên cần,

Chỉ trong chớp mắt được gần Tây phương”.

 

– “Thiện tri thức!  Tóm lại, quí vị nên y theo kệ tu hành, sẽ thấy tánh minh liền thành Phật đạo. Thời gian không chờ đợi, quí vị nên giải tán, tôi về Tào Khê, nếu vị nào còn điều chi nghi ngờ, xin đến hỏi”.

 

Bấy giờ, Thứ Sử, quan viên tại hội, thiện nam tín nữ, thảy đều  tỉnh ngộ, đồng nghiêm cẩn tuân hành lời Đại Sư dạy.

 

 

IV.- ĐỊNH HUỆ

THIỀN ĐỊNH VÀ TRÍ HUỆ

— *** —

Đại Sư giảng:

 

– “Thiện tri thức! Pháp môn của tôi dùng Định Huệ làm gốc. Quí vị chớ lầm cho Định và Huệ hai thể khác nhau. Định Huệ vốn một không phải hai. Định là thể của Huệ, Huệ là dụng của Định, lúc Huệ, Định nơi Huệ, khi Định, Huệ tại Định. Hiểu rõ nghĩa, nên học Định và Huệ cùng một lúc. Người học đạo không nên nghĩ Định trước phát Huệ sau, hay ngược lại, Huệ trước mới phát Định. Hiểu như vậy là lầm giáo pháp có 2 thể khác biệt. Miệng nói lời lành, lòng chẳng lành tức không Định Huệ, như vậy Định Huệ chẳng đồng. Nếu lòng và miệng đều lành, trong ngoài như một, Định Huệ quân bình”.

 

– “Thiện tri thức! Tu hành cần giác ngộ chẳng do tranh luận. Nếu tranh luận về Định Huệ, phân biệt Định trước hay Huệ trước vẫn còn mê, không dứt hơn thua liền tăng chấp ngã, lạc vào bốn tướng ”* (xin xem lời giải ở cuối phẩm)

 

– “Thiện tri thức! Định Huệ giống thứ gì? Thí dụ như ngọn đèn và ánh sáng, có đèn mới sáng, không đèn thì tối, đèn là gốc của sáng, tức thể của sáng; sáng là kết quả và công dụng của đèn. Tên tuy hai, nhưng thể chỉ một, pháp Định Huệ cũng vậy”.

 

– “Thiện tri thức! Tôi giảng về Nhứt hạnh Chánh Định, có nghĩa trong các thời gian đi, đứng, nằm, ngồi, đều giữ lòng thẳng ngay. Kinh Tịnh Danh chép: “Lòng thẳng ngay là đạo tràng, là Tịnh độ.” Chớ nên miệng nói tu Nhứt hạnh Chánh định mà không giữ lòng ngay thẳng. Trước ngoại cảnh lòng phải thẳng ngay, không chấp mắc”.

 

– “Thiện tri thức! Người mê chấp hình tướng, chấp cách tu Nhứt hạnh Chánh định, hiểu lầm là ngồi yên giữ lòng không khởi ý niệm. Hiểu và tu như vậy khác gì loại vô tình, vô tri giác, gây chướng ngại cho đạo!”

 

– “Thiện tri thức! Đạo phải thông suốt, đừng cho ngưng trệ. Tâm không chấp cảnh, đạo lưu thông, nếu tâm chấp dính ngoại cảnh là tự trói buộc. Nếu bảo ngồi chẳng động là tu Chánh định, thì sao ngài Xá Lợi Phất ngồi lặng im trong rừng bị Đức Duy Ma Cật quở?”

 

– “Thiện tri thức! Có người dạy ngồi yên soi xét lòng, ngưng nghĩ nhớ, không đi đứng, không cử động, cho đó là công phu, người mê không hiểu vội làm theo thành điên cuồng. Hạng người này rất nhiều, dạy nhau như vậy thật sai lầm!”

 

– “Thiện tri thức! Xưa nay chánh giáo không phân đốn tiệm(có nghĩa mau, chậm) do tâm người có sáng có mê. Người mê tu tiệm, kẻ sáng tu đốn, nếu biết tâm, thấy được tánh thì không còn phân biệt đốn hay tiệm, cho nên tạm giả danh gọi đốn tiệm”.

 

– “Thiện tri thức! Pháp môn của tôi lập Không niệm làm tông, Không tướng làm thể, Không trụ làm gốc:

 

– Không niệm, đang niệm mà chẳng chấp niệm,

 

– Không tướng, đối cảnh không chấp cảnh,

 

– Không trụ, trước các sự việc lành, dữ, tốt, xấu, với kẻ thù, người thân, lời châm chích, lúc tranh luận, đều không chấp giữ, không nuôi ý hơn thua gây oán, trả thù”.

 

– “Thiện tri thức! Đối cảnh tâm không nhiễm, tức không niệm. Từ niệm tưởng, tâm không bị cảnh làm loạn động. Nếu ép buộc tâm dứt mọi suy tư để được giải thoát, thật sai lầm. Nếu ngưng các tư tưởng, dứt niệm tưởng là chết nhưng phải đầu sanh nơi khác. Người học đạo phải rõ điều đó. Nếu chưa thấu hiểu yếu lý Phật pháp mà truyền dạy người khác thật tai hại. Mình lầm đành chịu, sợ người mê không hiểu chơn lý, nhạo báng kinh Phật, tội lỗi vô cùng, nên lập không niệm làm tông”.

 

– “Thiện tri thức! Người mê miệng nói thấy tánh nhưng khi đối cảnh tâm còn loạn động, khởi tà niệm, do đó tất cả phiền não, vọng tưởng liền sanh. Tánh ta vốn trong sạch không thể tìm được vật gì trong đó. Nếu cho rằng có thể tìm được vật gì trong chơn tánh rồi đem phân tách, luận bàn điều họa việc phước là nguyên nhân khởi tâm trần lao tà kiến. Vì thế pháp môn này lập không niệm làm tông”.

 

– “Thiện tri thức! Không để ngoại cảnh ảnh hưởng đến tâm,  lòng luôn giữ bình lặng, an nhiên tự tại, là không tướng; chẳng chấp các cảnh, thể tánh thanh tịnh, nên dùng không tướng làm thể ”.

 

– “Thiện tri thức! Nếu niệm tưởng: niệm trước, còn nhớ các việc đã qua; đang niệm, lòng suy nghĩ chuyện hiện tại; sẽ niệm, tính toan điều sắp tới; liên tục như vậy liền bị trói buộc. Trong các thời gian, đối cảnh lòng không chấp mắc, không dính cảnh, sẽ không bị trói buộc, nên lấy không trụ làm gốc”.

 

– “Thiện tri thức! không niệm là chẳng nghĩ tưởng vật gì! không nghĩ gì về ghét ưa hay so sánh, do đó tâm không phiền não. Niệm là nghĩ, tưởng, luôn nghĩ nhớ chơn như bổn tánh. Chơn như là thể của niệm, niệm tức công dụng của chơn như. Tánh chơn như là gốc của niệm, không phải niệm ở mắt, tai, mũi, lưỡi. Vì thế tánh chơn như khởi niệm tưởng, nếu không còn tánh chơn như thì mắt, tai, màu sắc, âm thinh đều hoại diệt ”.

 

– “Thiện tri thức! Tánh chơn như khởi niệm tưởng, 6 căn tuy thấy, nghe, hay hiểu biết mà không nhiễm các cảnh, do đó chơn tánh được an nhiên tự tại. Kinh chép: “Nên khéo phân biệt tường tận các cảnh tướng, bổn tánh thanh tịnh chẳng động”.

— *** —

 

Giải thích tứ tướng trang 42

 

* Tứ tướng:

 

1.- Ngã tướng:  tướng mình.

2.- Nhơn tuớngtướng người.

3.- Chúng sanh tướngtướng chúng sanh.

4.- Thọ giả tướngtướng thọ mạng (đời sống)

 

 

 

V.- TỌA THIỀN

 

NGỒI THIỀN

 

— *** —

Đại Sư giảng:

 

– “Thiện tri thức! Phương pháp môn ngồi thiền này không để tâm vướng mắc, cũng không chấp thanh tịnh, cũng chẳng phải không động. Nếu chấp vào tâm, tâm vốn vọng. Biết tâm như huyễn giả nên không chấp dính. Nếu chấp vào thanh tịnh, tánh người vốn thanh tịnh, bởi vọng niệm khởi tánh chơn như mới bị che khuất; dứt vọng tưởng, tánh tự nhiên thanh tịnh”.

 

– “Thiện tri thức! Khởi tâm chấp về thanh tịnh liền sanh ra vọng tưởng về thanh tịnh. Vọng tưởng vốn không xứ sở nhất định, nếu để tâm dính mắc vào vọng tưởng là sai lầm. Thanh tịnh vốn không hình tướng, nếu lập ra hình tướng tu tịnh rồi cho đó là công phu tu tịnh, hiểu biết như vậy tự che lấp tánh chơn như, liền bị chính chỗ thanh tịnh đó trói buộc”.

 

– “Thiện tri thức! Tu hạnh bất động là không khởi vọng niệm, khi nhìn người không cần tìm biết những việc phải quấy, lành dữ, lỗi lầm của họ, do đó tánh mình không động”.

 

– “Thiện tri thức! Người mê thân tuy không động, nhưng khi thảo luận lại khen phải, chê quấy, kể lỗi lầm, tốt xấu của người khác, như vậy trái với lẽ đạo. Nếu chấp nơi tâm, dính vào thanh tịnh đạo bị che khuất”.

 

– “Thiện tri thức! Sao gọi ngồi thiền? Chẳng có gì làm trở ngại được pháp môn này, nếu trước cảnh thiện ác bên ngoài lòng không khởi niệm tưởng, giữ được an nhiên, thanh tịnh, đó là ngồi. Tánh bên trong không loạn động gọi thiền”.

 

 

– “Thiện tri thức! Sao gọi thiền định? Không nhiễm ngoại cảnh là thiền, lòng không loạn động tức định. Nếu chấp cảnh, tâm liền loạn, dứt cảnh, tâm được thanh tịnh. Tánh ta vốn sẵn thanh tịnh, sẵn an định, vì thấy cảnh liền nhiễm cảnh nên sanh loạn động. Nếu thấy ngoại cảnh mà tâm không loạn động mới thiệt chơn định”.

 

– “Thiện tri thức! Ngoài không nhiễm cảnh tức thiền, trong tâm không loạn là địnhNgoài thiền trong định, gọi thiền định. Kinh Bồ Tát giới chép: “Bản tánh vốn tự nhiên thanh tịnh”.

 

– “Thiện tri thức! Trong mỗi niệm tưởng tự thấy bổn tánh thanh tịnh, tự tu, tự hành, tự thành Phật đạo ”.

 

— *** —

 

 

VI.- SÁM HỐI

 

ĂN NĂN ĐIỀU LỖI

 

— *** —

 

 

Bấy giờ, nhân sĩ, thứ dân thuộc Quảng Châu, Thiều Châu, cùng các địa phương khác, chen nhau vào núi nghe pháp, Đại Sư lên đàn, giảng:

 

– “Thiện tri thức! Quí vị đến đây nghe giảng, nên hiểu, tu phải khởi từ trong tâm, bất cứ lúc nào tâm cũng giữ thanh tịnh; luôn trau sửa tánh hạnh, để thấy được pháp thân, nhận được Phật tâm rồi tự độ, tự răn. Được vậy, việc đến đây của quí vị mới lợi ích”.

 

– “Thiện tri thức! Quí vị từ xa đến trong một hội như thế này, đều cùng có duyên. Vậy, quí vị hãy quỳ xuống. Trước hết, tôi truyền năm phần chơn hương của pháp thân trong tự tánh, kế đó, pháp sám hối không tướng”.

 

Cả thảy đồng quỳ. Đại Sư dạy:

 

– “Thứ nhứtGiới hương, tức tâm không nghĩ quấy, không tính điều ác, không ganh ghét, không tham sân, không mưu hại ai, gọi giới hương”.

 

– “Thứ nhìĐịnh hương, khi thấy các cảnh lành dữ tự tâm không loạn động, đó, gọi định hương”.

 

– “Thứ baHuệ hương, tâm không bị ngăn che, luôn dùng trí huệ chiếu soi tánh mình, tránh gây điều ác. Thực hiện việc lành, lòng không nghĩ điều ơn, nghĩa; kính trên nhường dưới, thương xót kẻ côi cút nghèo khó, gọi huệ hương”.

 

– “Thứ tưGiải thoát hương, lòng không nhiễm ngoại cảnh, chẳng nghĩ điều lành, không tưởng việc ác, lúc nào cũng thông suốt, an nhàn, tự tại, gọi giải thoát hương”.

 

– “Thứ nămGiải thoát tri kiến hương, lòng tuy không vướng mắc ngoại cảnh, không tưởng nghĩ điều lành việc ác, nhưng cũng đừng ép dứt tuyệt các tư tưởng để rơi vào cõi không. Nên cố gắng học rộng nghe nhiều, phải thấy chơn tâm, thông đạt đạo lý của chư Phật, nên vào đời giúp người cứu vật, không ngã, không nhơn, lòng không động, luôn hướng về Chánh giác, gọi giải thoát tri kiến hương”.

 

– “Thiện tri thức! Hương này xông lên từ lòng mình, tức Bổn giác Chơn như, tìm bên ngoài vô ích”.

 

– “Thiện tri thức! Giờ đây, tôi truyền thêm cho quí vị pháp Sám hối không tướng, pháp này tiêu diệt hết tội lỗi ba đời, cho ba nghiệp: Thân – Khẩu – Ý được thanh tịnh”.

 

– “Thiện tri thức! Quí vị hãy cùng một lượt nguyện theo tôi:

 

– “Đệ tử chúng con, từ những thời gian trước đến nay, và sau này, lúc nào cũng nguyện không để lòng bị nhiễm sự u mê, ngu muội. Tất cả những ác nghiệp, tội lỗi, do u mê, ngu muội gây ra từ những thời gian trước, đến nay, thảy đều sám hối, nguyện một lúc tiêu diệt, vĩnh viễn không khởi lại.”

 

– “Đệ tử chúng con, từ những thời gian trước đến nay, và sau này, lúc nào cũng nguyện không để lòng bị nhiễm sự kiêu căng, dối trá. Tất cả tội lỗi do ác nghiệp kiêu căng, dối trá, gây ra từ những thời gian trước, đến nay, thảy đều sám hối, nguyện một lúc tiêu diệt, vĩnh viễn không khởi lại ”.

 

– “Đệ tử chúng con, từ những thời gian trước, đến nay, và sau này, lúc nào cũng nguyện không để lòng bị nhiễm sự ganh ghét, tật đố. Các tội do nghiệp ác ganh ghét, tật đố gây ra từ những thời gian trước, đến nay, thảy đều sám hối, nguyện một lúc tiêu diệt, vĩnh viễn không khởi lại ”.

 

– “Thiện tri thức! Trên đây là Sám hối không tướng. Sao gọi  Sám? Sao gọi Hối? Sám là sám tội lỗi trước, từ trước nếu có các tội ác u mê, kiêu dối, ganh ghét, thảy đều sám hết, vĩnh viễn chẳng khởi lại, đó là Sám”.

 

– “Hối là ngăn ngừa các lỗi sau của mình. Từ nay đã giác ngộ, tất cả tội lỗi đều đoạn dứt vĩnh viễn, không gây lại, đó là Hối, gọi Sám Hối. Người đời mê tối, chỉ biết ăn năn các tội trước, không biết ngăn ngừa lỗi sau. Vì chẳng hối nên tội trước không diệt hết lỗi sau sanh thêm, sao gọi sám hối được?”

 

– “Thiện tri thức! Đã sám hối xong, tôi truyền cho quí vị “Bốn điều thệ nguyện lớn” (4 đại nguyện của các bậc tu học):

– “Tự tâm chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”.

– “Tự tâm phiền não vô lượng thệ nguyện đoạn”.

– “Tự tánh pháp môn vô tận thệ nguyện học”.

– “Tự tánh vô thượng Phật đạo thệ nguyện thành”.

 

– “Thiện tri thức! Tôi há chẳng giảng chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, như thế không phải Huệ Năng độ. Gọi tâm chúng sanh là tâm tà mê, tâm vọng dối, tâm ganh ghét, tâm ác độc. Các tâm như thế gọi tâm chúng sanh, phải dùng tánh mình tự độ, đó là chơn độ. Sao gọi dùng tánh mình tự độ? Có nghĩa các chúng sanh, tức các tánh xấu trong tâm như: tà kiến, phiền não, mê si… phải đem chánh kiến (sự thấy, sự hiểu biết chơn chánh) hóa giải, trừ dứt. Đã có chánh kiến, nên dùng trí bát nhã (trí huệ sáng suốt) giải trừ các chúng sanh mê si, tham vọng. Mình phải độ lấy mình. Tà đến dùng chánh độ, mê đến đem ngộ độ, ngu đến lấy trí độ, ác đến mượn lành độ. Độ như thế gọi độ chơn chánh”.

 

– “Thiện tri thức! Tất cả phiền não không kể xiết đều thề nguyện bỏ hết, tức dùng trí Bát Nhã của tánh mình ngăn ngừa lòng nghĩ tưởng giả dối. Đó, gọi độ chơn thật”.

 

– “Thiện tri thức! Tất cả pháp môn không cùng tận, đều thề nguyện học, tự mình phải thấy tánh, thường xuyên tu hành chánh pháp, đó, gọi học chơn chánh”.

 

– “Thiện tri thức! Phật đạo cao thâm thề nguyện tu đến thành công, tức phải thường hạ tâm, khiêm tốn, tu hành chánh pháp, trừ bỏ mê lẫn giác, liền sanh trí bát nhã, dứt chơn lẫn vọng, tức khắc thấy Phật tánh. Đó, gọi Phật đạo thành. Nên cố gắng tu theo nguyện lực này”.

 

– “Thiện tri thức! Nay đã phát 4 điều thệ nguyện lớn, tiếp theo tôi truyền cho quí vị lời răn dạy về 3 phép qui y không tướng:

 

– Qui y giác là lưỡng túc tôn,

– Qui y chánh tức ly dục tôn,

– Qui y tịnh gọi chúng trung tôn”.

 

– “Thiện tri thức! Từ nay, quí vị hãy tôn xưng chơn tánh giác ngộ của mình là Thầy, không qui y tà ma, ngoại đạo. Phải dùng tánh tam bảo, (ba đức quí báu) để chứng minh chơn tánh của mình”.

 

– “Thiện tri thức!  Nương tam bảo của tánh mình:

 

– Phật nghĩa giác, là tánh giác ngộ.

– Pháp là chánh, tức tánh chơn chánh.

– Tăng gọi tịnh, gọi tánh thanh tịnh”.

 

– “Thiện tri thức! Tâm mình khi nương theo tánh giác ngộ, tà mê không sanh, lòng ít ham muốn, thường biết sống giản dị, rời xa tiền tài, sắc dục, đó, gọi lưỡng túc tôn”.

 

– “Thiện tri thức! Tâm ta nương theo chánh, những nhận định, phán xét các sự việc chẳng sai lầm, do đó không sanh tà kiến, không tà kiến liền hết nhơn ngã, dứt tuyệt cao ngạo, tham ái, chấp mắc, đó, gọi ly dục tôn”.

 

– “Thiện tri thức! Tâm ta nương theo tánh thanh tịnh, trước các cảnh trần lao, ái dục, ham muốn… không nhiễm mắc, đó, gọi chúng trung tôn”.

 

– “Thiện tri thức! Tu các hạnh này, nương theo chơn tánh của mình, nên gọi tự qui y”.

 

– “Thiện tri thức! Người đời không thấu hiểu, ngày đêm luôn khoe tôi đã thọ giới tam qui, nhưng chẳng biết rõ lý qui y. Nếu qui y Phật, vậy Phật ở đâu? Không thấy Phật nương vào đâu mà qui? Cho rằng qui y Phật mà không tu theo tánh giác ngộ, lời khoe đó thành giả dối”.

 

– “Thiện tri thức! Quí vị nên suy nghiệm, tự xét cho thông suốt, chớ hiểu lầm. Kinh văn dạy rõ ràng, qui y Phật tại tánh chớ không dạy qui y Phật nơi nào khác. Phật tại tánh chẳng qui, chẳng y, nếu tìm bên ngoài không gặp Phật thì qui y với ai?  Rốt lại không chỗ nương tựa”.

 

– “Thiện tri thức! Nay đã giác ngộ, quí vị nên qui y tam bảo tại tâm, bên trong điều phục tâm tánh, bên ngoài cung kính tất cả, đó, gọi qui y tại tâm”.

 

– “Thiện tri thức! Qui y tam bảo xong, quí vị nên lắng tâm nghe tôi giảng Phật một thể ba thân trong tự tánh, khiến quí vị rõ ba thân, liền được thấy tánh”.

 

– “Thiện tri thức! Quí vị nguyện theo tôi:

 

– “Từ sắc thân qui y Thanh tịnh Pháp thân Phật“,

– “Từ sắc thân qui y Viên mãn Báo thân Phật“,

– “Từ sắc thân qui y Trăm ngàn ức Hóa thân Phật“.

 

– “Thiện tri thức! Sắc thân là nhà ở, là quán trọ, không thể qui được. Nên tìm ba thân Phật trong chơn tánh, ai cũng sẵn có, chớ mê muội đi kiếm ba thân Như Lai bên ngoài vô ích”.

 

– “Thiện tri thức! Sao gọi Thanh tịnh Pháp thân Phật? Người đời tánh vốn thanh tịnh, muôn sự đều do tánh mình sanh, suy tính điều ác liền sanh hạnh ác, nghĩ các việc lành được sanh hạnh lành. Như vậy, những suy nghĩ, các hành động đều phát xuất từ tánh mình. Ví như bầu trời bình thường thanh lặng, nhựt nguyệt sáng tỏ, nếu bị mây che trên sáng dưới tối, khi gió thổi mây trôi đi dĩ nhiên trên dưới đều sáng, cảnh vật hiện rõ. Tánh người đời cũng thường thay đổi như mây trên trời”.

 

– “Thiện tri thức! Trí như mặt trời, huệ như mặt trăng, trí huệ thường sáng suốt, chỉ vì tâm bị vướng cảnh bên ngoài, nên mây vọng niệm che khuất. Nếu gặp thiện tri thức, nghe giảng giải chánh pháp, tự mình trừ các điều mê vọng, chơn tánh liền hiện rõ trong ngoài đều sáng suốt. Người thấy tánh cũng như vậy, đó, gọi Thanh tịnh Pháp thân Phật?”

 

– “Thiện tri thức! Tâm qui y tự tánh, là qui y chơn Phật. Tự qui y tức bỏ sạch các điều xấu trong tâm, như: nghĩ tưởng ác, ganh ghét, nịnh bợ, chia rẽ, lòng vọng dối, khinh người, ỷ tài cao khi dể kẻ khác, nhiều tà kiến, kiêu căng cùng các điều ác. Nên thường xuyên xét lỗi mình, đừng bao giờ phê bình điều hay, tốt, thói hư, tật xấu của người, đó là qui y tự tánh. Lúc nào cũng khiêm tốn, hạ mình, kính trọng tất cả liền thấy tánh thông suốt, không bị ngăn che, tức qui y tự tánh”.

– “Thiện tri thức! Sao gọi Viên mãn Báo thân Phật? Ví như ánh sáng một ngọn đèn có thể làm sáng tỏ chỗ đã tối ngàn năm, một trí huệ có thể diệt được muôn đời mê muội”.

 

– “Thiện tri thức! Quí vị đừng nghĩ về dĩ vãng, việc đã qua không thể sửa đổi được, hãy hướng về tương lai. Các tư tưởng đều sáng suốt liền thấy được chơn tánh”.

 

– “Thiện tri thức! Điều lành, việc dữ tuy có khác, nhưng chơn tánh không hai, tánh không hai là thật tánh. Thật tánh không nhiễm các điều thiện ác, gọi Viên mãn Báo thân Phật”.

 

– “Thiện tri thức! Tánh khởi một niệm tưởng ác liền mất vạn kiếp nhân lành. Tánh khởi một niệm tưởng lành, bao nhiêu tội ác đều dứt, liền chứng quả vô thượng bồ đề. Trong các hoàn cảnh đều thấy được tánh, không mất chánh niệm, gọi Báo thân Phật”.

 

 

– “Thiện tri thức! Sao gọi ngàn trăm ức Hóa thân? Nếu không nghĩ tưởng đến các sự việc, bổn tánh thông suốt. Khởi niệm tưởng, lo nghĩ, toan tính, gọi biến hóa”.

 

– “Thiện tri thức! Trong tâm suy tính điều ác liền hóa địa ngục, nghĩ việc lành là thiên đường, mưu toan điều độc hại tức sanh rồng rắn, nghĩ tưởng từ bi thành Bồ Tát, trí huệ tức thượng giới, ngu si là hạ phương. Vì tánh mình còn mê, biến hóa rất nhiều nên không tỉnh giác được”.

 

– “Thiện tri thức! Ví như trong tâm lúc nào cũng khởi niệm ác, luôn nghĩ tưởng điều hung dữ, tự đi theo con đường độc ác, tối tăm, nếu hồi tâm hướng thiện, khởi một niệm tưởng lành, trí huệ liền sanh, gọi tự tánh Hóa thân Phật”.

 

– “Thiện tri thức! Pháp thân vốn sẵn đầy đủ, dầu ở thời điểm nào cũng thấy tánh thông suốt, tức Báo thân Phật. Từ Báo thân Phật nghĩ tưởng, phát sanh trí huệ, gọi Hóa thân Phật. Tự giác ngộ, tự tu các công đức trong tánh, gọi qui y chơn chánh”.

 

– “Thiện tri thức! Da thịt là sắc thân, sắc thân là nhà trọ, không thể gọi qui y nơi sắc thân được. Nếu hiểu rõ ba thân trong tự tánh, liền thấy Phật tại tánh”.

 

– “Thiện tri thức! Tôi có bài tụng vô tướng, nếu thường tụng, nhờ nghĩa lý trong lời kệ, tội mê tích lũy nhiều kiếp của quí vị liền tiêu diệt”. Nghe kệ:

 

“Còn mê lo phước quên hành đạo,

Không dè ba độc xưa nay tạo.

Bố thí cúng dường phước vô biên,

Hiểu lầm gieo phước tức là đạo.

Nghĩ rằng tích phước thay được tội,

Đời sau hưởng phước tội còn nguyên.

Cần trau sửa tâm, dứt tội duyên,

Đó gọi tự tánh chơn sám hối.

Ngộ được thượng thừa môn sám hối,

Bỏ tà hành chánh tiêu tan tội.

Học đạo, tánh mình luôn chiếu soi,

Tức cùng chư Phật đồng một hội.

Tổ truyền đốn giáo, cứu mê tân,

Nguyện cầu kiến tánh đồng một cách.

Nếu muốn sau này thấy pháp thân,

Rời xong pháp tướng, tâm trong sạch.

Nỗ lực dụng trí dứt ưu sầu,

Ngưng hết ác niệm một đời rảnh.

Sớm ngộ thượng thừa được thấy tánh,

Chấp tay cung kính chí tâm cầu”.

 

 Phỏng dịch:

 

“Người mê ham phước quên hành đạo,

Mãi hiểu lầm tạo phước là tu.

Cúng dường bố thí lu bù,

Trong tâm ba độc tạo từ lâu nay.

Hiểu sai, tích phước thay được tội,

Đời sau hưởng phước, tội còn nguyên.     

Chiếu soi tâm, dứt ác duyên,

Tự tánh cải hối, lòng nguyền ăn năn.

Sớm ngộ thượng thừa sám tan tội lỗi,

Gần chánh xa tà tội hết sanh.

Tu hành thấy tánh tịnh thanh,

Tức cùng chư Phật liễu minh đồng hàng.

Tổ của tôi chỉ đàng đốn giáo,

Nguyện những người học đạo mai sau.

Pháp thân muốn đặng thấy mau,

Rời xa pháp tướng mới hầu tâm an.

Dụng trí huệ chiếu tan phiền muộn,

Dứt tuyệt ác niệm, dưỡng thân nhàn.

Thượng thừa thấy tánh rõ ràng,

Nguyện cầu tỉnh ngộ Niết Bàn tại tâm”.

 

– “Thiện tri thức! Đại Sư tiếp: Quí vị nên trì tụng kệ này và y theo tu. Tụng xong sẽ được thấy tánh. Hành đúng lời tôi chỉ dạy, dầu cách xa ngàn dậm cũng như thường hiện diện bên tôi, nhược bằng không tu theo lời dặn này, dầu quí vị ở bên cạnh tôi, cũng không lợi ích, uổng công cực nhọc từ xa tìm đến. Xin giã từ quí vị”.

 

Đồ chúng nghe pháp đều khai ngộ, cùng nhau vui vẻ tuân hành.

 

–***–

 

 

VII.- CƠ DUYÊN

 

CÓ DUYÊN VỚI TỔ

 

— *** —

 

 

Sau khi đắc pháp tại Huỳnh Mai, Đại Sư về Thiều Châu, thôn Tào Hầu, ít người hay biết. Chỉ riêng nho sĩ Lưu Chí Lược, đối đãi với Đại Sư rất cung kính. Chí Lược có người cô xuất gia, tên Vô Tận Tạng, thường tụng kinh Đại Niết Bàn. Đại Sư nghe qua liền hiểu rõ diệu nghĩa, nên giảng giải cho ni cô. Ni cô cầm quyển kinh lại, hỏi chữ. Đại Sư thành thật:

 

– “Chữ thì tôi không biết, về nghĩa, xin ni cô cứ hỏi”. Ni cô ngạc nhiên, bạch:

 

– “Chữ còn chẳng biết, làm sao Đại Sư hiểu được nghĩa mà giải?” Đại Sư xác quyết:

 

– “Diệu lý của chư Phật chẳng liên quan đến văn tự”.

 

Ni sư kinh ngạc, liền truyền rao khắp các nhân sĩ tuổi cao đức trọng trong xóm hay:

 

– “Đại Sư là bậc tri thức, đạo đức cao thâm, chúng ta nên thỉnh Ngài ở lại để được học hỏi và cúng dường”.

 

Nhân đó, người cháu 4 đời của Ngụy Vũ Hầu, (tức Tào Tháo, một nhân vật quan trọng thời Tam Quốc) tên Tào Thúc Lương, hiệp với cư dân trong vùng, cùng nhau đến tham lễ Đại Sư.

 

Bửu Lâm Cổ Tự đã hoang phế vì binh lửa từ cuối đời Tùy, bấy giờ chỉ còn nền cũ, dân chúng chung nhau, cùng góp công, của, xây dựng lại. Chẳng bao lâu, nơi đó, hoàn thành một ngôi chùa khang trang, tráng lệ. Lục Tổ Đại Sư được thỉnh về trụ trì.

 

Mới hơn chín tháng, đảng ác lại tìm đến, Đại sư phải ẩn mình trong núi phía trước chùa, chúng phóng hỏa đốt rụi cây cỏ quanh núi, Đại Sư chen mình vào kẹt đá, tránh lửa. Nay dấu đầu gối và lằn áo bố của Ngài còn hằn trên đá, nên mới có tên tỵ nạn thạch. Đại Sư nhớ lời Ngũ Tổ dặn: “Ấp Hoài, ấp Hội ngưng tàng”, nên Ngài ẩn trú hai nơi này.

 

Tăng Pháp Hải, người Khúc Giang, thuộc Thiều Châu, đến:

 

– “Kính xin Đại Sư vui lòng chỉ dạy, thế nào là Tức Tâm tức Phật”?  Đại Sư giải:

 

– “Niệm tưởng trước không sanh tức tâm, niệm tưởng sau chẳng diệt tức Phật. Tạo dựng mọi việc do tâm, rời dứt các cảnh tướng là Phật. Nếu tôi giải đầy đủ suốt kiếp cũng không hết. Hãy nghe kệ:

 

“Tức tâm là huệ, tức Phật gọi định

Định huệ đồng hành, ý được thanh tịnh

Học pháp môn này, do ông tập tánh

Thể Dụng không sanh, song tu là chánh”.

 

 

Pháp Hải nghe xong, đại ngộ, đọc kệ khen:

 

“Tâm nguyên vốn là Phật,

Chưa ngộ tự che khuất

Rõ được định huệ nhân,

Song tu, rời các vật”.

 

 

— *** —

 

 

 

Tăng Pháp Đạt người Hồng Châu, bảy tuổi xuất gia, thường tụng kinh Pháp Hoa, đến lễ Đại Sư, đầu không chấm đất.

 

Đại Sư trách nhẹ:

 

– “Lễ đầu không đến đất, thà đừng lễ, hẳn ông có tâm sự gì đây?”  Vẻ tự mãn, Pháp Đạt bạch:

 

– “Tôi tụng Kinh Pháp Hoa được 3.000 bộ!”  Đại Sư:

 

– “Nếu ông tụng đến vạn bộ, thông suốt hết ý nghĩa của kinh, nhưng lòng vẫn luôn từ tốn, khiêm nhượng, không cho đó là hơn người mới có thể đi chung đường được với tôi. Nay ông đến đây, chỉ dựa vào một chút sự nghiệp này đã vội tự phụ, sao chưa biết lỗi? Nghe kệ đây:

 

“Lễ, là bỏ tự kiêu

Đầu sao không sát đất?

Chấp, ngã, tội liền theo

Quên công, phước lớn thật”.

 

– “Ông tên chi?“ Đại sư hỏi,

 

– “Bạch Đại sư, học nhơn tên Pháp Đạt”. Đại Sư:

 

– “Ông tên Pháp Đạt, nhưng chưa từng đạt pháp . Tôi có bài kệ:

 

“Ông mang tên Pháp Đạt

Siêng năng tụng không dứt

Nương theo tiếng, ê a

Minh tâm gọi Bồ Tát.

Ông nhọc công đến nơi

Tôi tùy duyên giải đáp

Hãy tin Phật không lời

Hoa sen từ miệng phát”.

 

 

Pháp Đạt nghe kệ, tạ lỗi và nguyện từ nay về sau sẽ khiêm nhượng, nhún nhường. Bạch tiếp:

 

– “Học nhơn tụng Kinh Pháp Hoa nhưng chưa thông nghĩa lý, trong tâm có điều còn nghi, Đại Sư trí huệ quảng đại, kính xin lược giải diệu lý của kinh cho tôi được hiểu rõ”. Đại Sư:

 

– “Này Pháp Đạt, Pháp tức thông đạt nghĩa lý, mà tâm ông không đạt. Kinh vốn chẳng có chỗ nghi ngờ, tại lòng ông tự nghi. Vậy, ông tụng kinh này lấy gì làm tông?” Pháp Đạt bạch:

 

– “Học nhơn căn tánh mê muội, từ trước đến nay cứ theo kinh văn mà tụng, đâu tìm hiểu tôn chỉ”. Đại Sư:

 

– “Tôi không biết chữ, ông thử lấy kinh tụng một biến, tôi sẽ giải thích”.

 

Pháp Đạt lớn tiếng tụng, đến phẩm thí dụ, Đại Sư ngăn:

 

– “Ngưng lại, kinh này nguyên lai lấy nhân duyên xuất thế làm tông, dầu nhiều thí dụ cũng không vượt khỏi lý này. Vậy, thế nào là nhân duyên? Kinh chép: “Chư Phật Thế Tôn, chỉ vì đại sự Nhân duyên mà xuất hiện”. Một việc lớn đó là Tri kiến Phật, (tức khai mở cho chúng sanh được thấy biết sự cao siêu vi diệu của chư Phật). Người đời mê, ngoài chấp tướng, trong chấp không. Nếu đối với tướng rời tướng, đối với không dứt không, tức trong ngoài chẳng mê. Hiểu rõ pháp này, tâm liền khai mở, đó gọi Khai Phật tri kiến ¹. Phật đây nghĩa Giác ngộ, phân ra 4 môn: Khai giác tri kiến ². Thị giác tri kiến ³. Ngộ giác tri kiến ⁴ và Nhập giác tri kiến ⁵ . Khi nghe giảng khai thị, liền ngộ nhập vào Giác tri kiến, tức bổn lai chơn tánh xuất hiện. Ông cẩn thận, chớ lầm hiểu lý kinh, khi nghe đề cập Khai, Thị, Ngộ, Nhập ⁶, vội cho đó là sự giác ngộ riêng của chư Phật, còn chúng ta không có duyên phần đạt được sự thấy biết ấy. Hiểu như vậy là chế kinh, diễu Phật. Đã là Phật, dĩ nhiên đủ sáng suốt, đâu cần khai mở. Nay, ông hãy tin sự thấy biết sáng suốt đó, chính do từ nơi Tâm của ông, chớ không phải do Phật nào khác. Vì tâm của chúng sanh do tham ái trần cảnh che mờ chơn tánh, ngoài bị cảnh vật vấn vương, trong thì rối loạn, nên đành chịu cuốn lôi vào biển trần khổ, phải luân hồi. Cho nên Đức Thế Tôn mới từ Chánh Định khởi, dùng nhiều phương cách khuyên dạy người đời dẹp lòng ham muốn, ngưng dứt việc tìm giác ngộ bên ngoài, được vậy mới đồng hàng với Phật, nên gọi Khai tri kiến Phật”. Đại Sư giảng tiếp:

 

– “Tôi khuyên ông nên từ tâm mình luôn khai tri kiến Phật. Người đời tâm tà, mê muội gây tội, miệng lành lòng ác, tham sân, tật đố, tự cao, tự đại, xâm nhơn, hại vật, là tự khai chúng sanh tri kiến. Nếu giữ lòng chơn chánh thường sanh trí huệ, chiếu soi tâm mình, ngưng ác làm lành, liền tự khai tri kiến Phật. Ông nên mỗi niệm tưởng đều khai tri kiến Phật, chớ Khai tri kiến chúng sanh. Khai tri kiến Phật, là xuất thế. Khai tri kiến chúng sanh, tức thế gian. Nếu ông mãi nhọc công cố chấp tụng niệm, cho đó là công khóa, khác gì con trâu Mao tiếc lông đuôi dài của nó.”

 

Pháp Đạt bạch:

 

– “Nếu vậy, học nhơn chỉ cần rõ nghĩa kinh, khỏi phải nhọc công tụng niệm sao?”

——

1.- Mở sự thấy biết sáng suốt của Phật.     4.-Tỏ tánh thấy biết giác ngộ.

2.- Mở tánh thấy biết giác ngộ.                   5.– Vào tánh thấy biết iác ngộ.

3.– Chỉ cái tánh thấy biết giác ngộ.        6.– Mở ra. Chỉ bảo. Bày tỏ. Đắc nhập.

 

 

 

– “Kinh có lỗi gì ngăn trở ông tụng niệm, vì mê ngộ tại ông, tổn hại hay ích lợi do mình, miệng tụng tâm hành là chuyển kinh, miệng tụng tâm không hành tức bị kinh chuyển”.

 

Nghe kệ:

 

“Tâm mê, Pháp Hoa chuyển

Ngộ được, chuyển Pháp Hoa

Tụng lâu không hiểu lý

Đối nghĩa tạo oan gia.

Không niệm, niệm tức chánh

Có niệm, niệm thành tà

Có, không, đều quên hết

Luôn ngồi bạch ngưu xa”.

 

 

Pháp Đạt nghe kệ liền đại ngộ, bất giác tủi khóc. Bạch:

 

– “Pháp Đạt từ xưa đến nay chưa từng chuyển Pháp Hoa mà  bị Pháp Hoa chuyển”. Liền bạch tiếp, Kinh chép: “Các Đại Thanh Văn cho đến Bồ Tát, đều tận nghĩ cùng suy, vẫn không thể đo lường được trí sáng suốt siêu việt của chư Phật”, nay Đại Sư dạy kẻ phàm phu này, chỉ cần tỏ sáng tâm mình, liền được Khai tri kiến Phật. Điều này, nếu không phải bậc thượng căn, ắt chẳng khỏi nghi ngờ. Kinh chép 3 xe, nai, trâu, với bạch ngưu xa, khác biệt thế nào, nguyện Đại Sư từ bi giải rõ”.  Đại Sư:

 

– “Ý kinh rõ ràng, tại ông hiểu nghịch nghĩa, các bậc tam thừa không nghĩ lường được trí của Phật, bởi vì họ mãi suy nghĩ, càng dụng tâm suy nghĩ lại càng cách xa trí Phật. Phật vì người phàm mà thuyết kinh, chớ chẳng phải vì Phật mà giảng, lý này người mê không tin, chẳng biết mình đang ngồi trong xe trâu trắng, (đã sẵn tánh Phật trong tâm) lại bỏ ra ngoài đi tìm xe khác. Huống chi kinh chép rõ ràng: “Chỉ một Phật thừa duy nhứt, không thừa nào khác, không hai, không ba, cho đến vô số phương tiện, các thứ nhân duyên, các ngôn từ, các thí dụ”, tất cả cũng chỉ một Phật thừa. Sao ông không thức tỉnh, 3 xe là giả, khi xưa tạm mượn tên làm thí dụ. Chỉ một thừa là thật, hướng dẫn người trần bỏ giả về chơn, sau khi về thật rồi không còn tên nữa. Ông nên rõ, trí hiểu biết, sáng suốt của Phật là tài sản, là báu vật, đã thuộc về ông, ông có toàn quyền xử dụng. Ông đừng tưởng của đó thuộc thế hệ trước, là của cha; cũng không nên nghĩ của đó thuộc đời sau, là của con; cũng đừng nghĩ là của riêng ông. Hãy bỏ hết cái tưởng, cái nghĩ, như vậy mới hiểu nghĩa kinh Pháp Hoa. Từ kiếp này đến kiếp khác, tay chẳng rời quyển kinh, ngày chí đêm không lúc nào quên tụng niệm”.

 

Pháp Đạt hiểu rõ, vui mừng, dùng kệ khen:

 

 

“Tụng kinh ba ngàn bộ

Tào Khê thảy bỏ luôn

Chưa rành lý xuất thế

Chịu suốt kiếp mê cuồng.

Dê, nai, trâu quyền lập

Sơ, trung, hậu, sắp tuồng

Nào dè trong nhà lửa

Vua pháp tại đây luôn”.

 

Đại Sư khen:

 

– “Từ nay về sau ông được gọi tăng niệm kinh”.

Pháp Đạt từ lãnh hội nghĩa lý sâu kín, không ngưng tụng niệm kinh.

— *** —

 

Tăng Trí Thông người ở An Phong, Thọ Châu, tụng kinh Lăng Già ước hơn ngàn biến mà chưa hiểu ý nghĩa ba thân bốn trí, đến lễ Đại Sư thỉnh cầu giải lý. Đại Sư giảng:

 

– “Ba thân là: Thanh tịnh Pháp thân (tức tánh)Viên mãn Báo thân (là trí). Thiên bá ức Hóa thân (là hạnh). Nếu rời bổn tánh, giải riêng về ba thân tức có thân mà không trí. Ông nên rõ, ba thân đều từ nơi tánh sanh, không phải mỗi thân có tánh riêng, đó là Tứ trí bồ đề. Nghe kệ:

 

“Tự tánh đủ ba thân

Phát sanh thành bốn trí

Không rời duyên thấy nghe

Vẫn được vào Phật vị.

Tôi nay vì ông giải

Nghe rõ chẳng còn mê

Chớ nhọc công cầu khấn

Suốt ngày tìm Bồ đề”.

 

 

Trí Thông lại bạch:

 

– “Kính xin Đại sư cho học nhơn được nghe nghĩa bốn trí?“

 

– “Đã hiểu ba thân liền rõ bốn trí, sao còn hỏi nữa? Nếu rời ba thân bàn riêng bốn trí, gọi có trí không thân, nghĩa là có trí trở thành không trí”. Liền đọc kệ:

 

 

“Đại viên cảnh trí, tánh thanh tịnh

Bình đẳng trí, tâm không bịnh

Diệu quan sát trí, thấy không công

Thành sở tác trí, đồng viên cảnh.

Năm, tám, sáu, bảy, quả nhân chuyển

Chỉ dùng tên gọi, không thật tánh

Trong lúc vận chuyển chẳng nhiễm cảnh

Dầu ở nơi nào cũng đại định”.

 

Giải nghĩa:

 

– “Như trên chuyển thức thành trí, có nghĩa: chuyển 5 thức trên thành sở tác trí, chuyển thức thứ 6 thành diệu quan sát trí, chuyển thức thứ 7 thành bình đẳng tánh trí, chuyển thức thứ 8 thành đại viên cảnh trí. Tuy 6, 7 là nhân chuyển, 5, 8  là quả chuyển, chuyển tên nhưng không chuyển thể.”

 

Trí Thông nghe xong, tánh trí liền tỏ ngộ, trình kệ:

 

“Ba thân vốn tánh mình

Bốn trí tự tâm minh

Tâm trí thông không ngại

Ứng đáp tùy duyên sinh.

Khởi tu nên sanh vọng

Lặng yên cũng không minh

Thấy tánh nhờ Sư dạy

Hết bị nhiễm ô danh”.

— *** —

 

 

Tăng Trí Thường, người huyện Quí Khê, phủ Tín Châu, xuất gia từ thiếu niên, chí cầu kiến tánh, một hôm đến tham lễ.

 

Đại Sư hỏi:

 

– “Ông từ đâu đến, muốn cầu việc chi”? Trí Thường bạch:

 

– “Học nhơn khi đến Hồng Châu, núi Bạch Phong, lễ Đại Thông Hòa thượng, xin ngài giải nghĩa: “Thấy tánh thành Phật,” nhưng chưa hiểu rõ, nay kính mong Đại Sư chỉ dạy”.

 

Đại Sư hỏi:

 

– “Hòa thượng giải thích thế nào? Ông thuật lại tôi nghe”.

 

– “Học nhơn đến đó chờ hơn ba tháng nhưng chưa được chỉ dạy, bởi nóng lòng cầu pháp, đêm nọ một mình học nhơn vào phòng riêng của Hòa thượng thỉnh vấn:

 

– “Thế nào là bổn tâm, bổn tánh của tôi?”   Hòa thượng hỏi:

 

– “Ông có thấy hư không chăng?” Học nhơn bạch:

 

– “Dạ thấy”.  Hòa thượng hỏi:

 

– “Hư không có tướng mạo không?” Học nhơn bạch:

 

– “Hư không vô hình, đâu có tướng mạo chi”. Hòa thượng:

 

– “Bổn tánh của ông cũng như hư không, chẳng thể tìm một vật gì trong đó, gọi chánh kiến, (tức thấy đúng) không thể biết được một vật gì trong đó, gọi chơn tri (tức biết chơn thật). Không xanh, vàng, dài, vắn, chỉ thấy bổn nguyên thanh tịnh (tức gốc nguồn trong sạch), giác thể tròn sáng, đó, gọi thấy tánh thành Phật, cũng gọi Như Lai tri kiến”.

 

– “Học nhơn tuy nghe giải thích, nhưng còn phân vân. Kính xin Đại Sư từ bi chỉ dạy”.  Đại Sư:

 

– “Hòa thượng Đại Thông chưa giảng rốt ráo về tri kiến, tức vấn đề thấy và biết, nên ông không rõ, tôi chỉ ông một kệ:

 

 

“Chẳng thấy một pháp, lại chấp không

Như mây dày che khuất minh mông

Chẳng rõ một pháp, giữ không biết

Ví như sấm chớp giữa hư không.

Còn thấybiết nên sanh bối rối

Bởi lầm dùng phương tiện chưa thông

Ông nên tự xét mà sửa lỗi

Giữ được chơn tâm luôn sạch trong”.

 

 

Tăng Trí Thường nghe xong liền ngộ, trình một kệ:

 

“Vô cớ khởi tri kiến

Chấp tướng cầu bồ đề

Còn mong một niệm ngộ

Đâu khác lúc xưa mê.

Tự tánh giác là thể

Khi chiếu bị đổi dời

Không vào Tổ Sư thất

Mờ mịt lạc hai nơi” (thấy, biết). 

 

 

Một hôm, Trí Thường bạch với Đại Sư:

 

– “Phật thuyết Pháp Tam Thừa, sao còn dạy tối thượng thừa, đệ tử chưa hiểu rõ, kính xin Đại Sư hướng dẫn”.Đại Sư giải:

 

– “Ông nên tự soi lòng, đừng chấp cảnh bên ngoài. Pháp vốn không 4 thừa, vì tâm tánh người đời có nhiều khác biệt: Thấy, Nghe, Đọc, Tụng gọi tiểu thừa là còn sơ cấp; ngộ pháp hiểu nghĩa là bực trung; y pháp tu hành tức bực thượng; vạn pháp làu thông, thấu rõ đầy đủ, ngoại cảnh chẳng nhiễm, không ham mau đắc, các pháp tướng đều không, gọi tối thượng thừa. Thừa là thực hành, không phải để tranh cãi. Ông nên tự tu, lúc nào cũng giữ tánh thanh tịnh, tự nhiên như nhiên”.

 

Trí Thường lễ tạ và nguyện theo hầu Đại Sư trọn đời.

 

–*** —

 

 

 

Tăng Chí Đạo, người Nam Hải, tỉnh Quảng Châu, đến lễ Đại Sư, bạch:

 

– “Học nhơn từ xuất gia đã xem kinh Niết Bàn hơn mười lần, nhưng chưa rõ đại ý, xin Đại Sư từ bi chỉ dạy.”  Đại Sư:

 

 

– “Chỗ nào ông chưa rõ?”  Chí Đạo bạch:

 

– “Kinh chép: “Vạn vật đều vô thường, thuộc về pháp sanh diệt. Khi sanh diệt dứt, vui nơi tịch diệt ” nên tôi sanh nghi.

 

– ”Ông nghi chỗ nào? ” Chí Đạo bạch:

 

– “Tất cả chúng sanh đều có 2 thân: sắc thân và pháp thân. Sắc thân vô thường nên có sanh có diệt. Pháp thân là thường còn, nhưng vô tri vô giác. Kinh chép: “Sinh diệt dứt rồi, vui nơi tịch diệt”, học nhơn không rõ, có tịch diệt thì thân nào được vui. Nếu sắc thân hưởng vui, khi sắc thân bị diệt, tứ đại tan rã, toàn là khổ, đã khổ thì không thể gọi vui được. Nếu pháp thân tịch diệt, tức đồng với loại vô tình, như cây cỏ, ngói, đá, sao hưởng được sự vui? Hơn nữa, pháp tánh là thể (thân) của sanh diệt, năm uẩn là dụng của sanh diệt. Một thể 5 dụng (sắcthọ, tưởng, hành, thức) sanh diệt luôn nối tiếp. Sanh là thể khởi ra dụng. Diệt là thâu dụng trở về thể. Nếu cho rằng có tái sanh như loại hữu tình, không dứt, không diệt. Lại cho rằng chẳng còn tái sanh, nghĩa là vĩnh viễn trở về chỗ tịch diệt  như vật vô tình. Nếu vậy, thì vạn vật đều bị cảnh giới rất hạn chế của Niết Bàn ngăn trở. Sanh còn chẳng được có gì mà vui?” Đại Sư trách:

 

– “Ông là Thích tử, sao học tà kiến của ngoại đạo chấp đoạn, chấp thường rồi nghi ngờ pháp tối thượng thừa của Phật. Theo lời ông, ngoài sắc thân còn có pháp thân, rời sanh diệt cầu tịch diệt, lại nghĩ Niết Bàn là cảnh thường vui, nơi đó có thân đang hưởng cái vui ấy, vì còn mê nên khư khư bảo thủ nghiệp sanh tử, ham cảnh vui của thế gian. Ông nên biết, Phật vì người mê nhận lầm ngũ uẩn làm thể tướng của mình, rồi phân biệt những cảnh vật khác, nhận đó là tướng của ngoại trần, nên ham sống sợ chết, luôn đổi dời mà không rõ đó là mộng ảo, hư giả để phải chịu sanh tử luân hồi. Họ sai lầm, khi lấy cảnh thường lạc của Niết Bàn cho là tướng khổ, rồi suốt ngày tham cầu viễn vông. Phật thương xót hạng người này, nên chỉ rõ chơn lạc của Niết Bàn, chốn đó không giây phút nào có sanh hay có diệt; không còn sanh diệt để trừ, nên cảnh Niết Bàn hiện rõ trước mắt hoàn toàn an bình, thanh lặng. Đối cảnh không khởi tâm suy nghĩ, so sánh mới thường lạc.Vui này không người thọ dụng, cũng không người không thọ dụng, thì do đâu có tên một thể 5 dụng. Huống chi ông nghĩ Niết Bàn ngăn chế, làm muôn vật vĩnh viễn không sanh, vậy là chế Phật nhạo pháp. Nghe kệ:

 

“Cao tột đại Niết bàn,

Sáng tròn thường lặng chiếu.

Người đời: chết là hết,

Ngoại đạo, bảo đoạn diệt.

Người tu bên nhị thừa,

Cho rằng không tạo tác.

Đều nương theo tình thức,

Sáu mươi hai kiến chấp.¹ xin xem lời giải cuối phẩm

Tạm lập tên hư giả,

Đâu phải nghĩa chơn thật.

Duy những hàng siêu việt,

Thông đạt không giữ bỏ.

Hiểu rõ pháp ngũ uẩn,

Còn cái ta trong uẩn.

Luôn hiện tượng thế gian,

Các sắc tướng thanh âm.

Tất cả đều mộng ảo

Không phân biệt Thánh phàm

Chẳng luận giải Niết bàn

Hai bên ba đời dứt.

Thường hay dùng các căn

Không nghĩ tướng xử dụng

Thông suốt tất cả pháp

Chẳng khởi ý biệt phân

Tận diệt, lửa thiêu biển

Gió thổi núi chọi nhau

Niết Bàn chơn tịch diệt

Gió lửa không nhiễm vào.

Tôi nay gắng thuyết ra

Ngộ, liền dứt tà kiến

Rõ lý chớ theo lời

Hiểu được ít phần thôi.”

 

Phỏng dịch:  

   

“Thể Niết Bàn tịnh thanh cao tột,

Dụng viên minh sáng rực hào quang.

Phàm phu chết, gọi dứt trần gian,

Ngoại đạo bảo, tiêu tan một kiếp.

Hãy tìm đọc nhị thừa sẽ biết,

Họ hiểu rằng vô tác vô vi.

Nhiễm thất tình tâm tánh mê si,

Cộng với sáu mươi hai tà kiến.

Thảy tạm giả phô danh mượn tiếng,

Đâu đúng đường đạo đức chánh chơn.

Duy có hàng thượng trí cao nhơn,

Tâm thông suốt không còn giữ bỏ.

Ngũ uẩn: Sắc, Tưởng, Hành, Thức, Thọ,

Cũng cùng chung ngã tướng vô thường.

Với ngoại trần sắc tướng vấn vương,       

Hiệp thinh âm, vốn phường quyến rũ.

Tạm bình đẳng mà không hiện hữu,

Rời Thánh phàm, tâm giữ như như.

Chẳng giải Niết Bàn, luận thật hư,

Dứt hiện tại, vị lai, quá khứ.

Dụng sáu căn tùy duyên ứng xử,    

Vẫn an nhiên, lòng giữ sạch không.

Tất cả pháp đều hiểu làu thông,

Tâm sáng trong ý không phân biệt.

Dầu đáy biển lửa thiêu khô kiệt,

Dầu gió bay xoáy núi chạm nhau.

Niết Bàn tịch diệt thanh cao,

Chơn thường vắng lặng xiết bao an nhàn.

Tôi giảng giải rõ ràng chơn lý,

Khuyên nên dùng đèn trí chiếu soi.

Xem kinh ngộ lý quên lời,

Mới mong hiểu biết tạm thời ít thôi”.

 

Chí Đạo nghe kệ đại ngộ, vui mừng lễ tạ lui ra.

 

— *** —

 

Hành Tư thiền sư, sanh quán ở An Thành, phủ Kiết Châu, họ Lưu, nghe giáo pháp của Lục Tổ ở Tào Khê truyền bá thạnh hành, đến đảnh lễ, bạch:

 

– “Hành giả nên làm việc chi để khỏi phải đặt vào giai cấp tăng lữ?” Đại Sư hỏi:

 

– “Ông từ đâu đến và đã từng làm việc chi?”  Hành Tư bạch:

 

–  “Thánh đế cũng chẳng làm”. Đại Sư hỏi tiếp:

 

– “Hiện ông đã lạc vào giai cấp nào?”  Hành Tư bạch:

 

– “Thánh đế còn chẳng làm, đâu còn giai cấp mà lạc?”

 

Đại Sư mến trọng tài cao hiểu rộng, dạy Hành Tư giữ trách nhiệm trưởng quản, hướng dẫn các vị tăng.

 

Ngày nọ, Đại Sư gọi Hành Tư, dạy:

 

– “Ông nên hóa độ một phương, đừng để dứt pháp Đốn giáo”.

 

 

Hành Tư đắc pháp, trở về núi Thanh Nguyên, ở Kiết Châu, hoằng dương chánh giáo, hoá độ chúng sanh với pháp danh Thiền sư Hoằng Tế.

 

— *** —

 

 

Thiền sư Hoài Nhượng, ở xã Kim Châu, họ Đỗ, đến học đạo với Tung Sơn An Quốc Sư, nhưng được người khuyên nên đến Tào Khê tham kiến Đức Lục Tổ. Hoài Nhượng đến lễ.

 

Đại Sư hỏi:

 

– “Ông ở nơi nào đến?” Hoài Nhượng bạch:

 

– “Học nhơn từ Tung Sơn đến”. Đại Sư hỏi:

 

– “Vậy, ông đem vật chi đến đây?” Hoài Nhượng bạch:

 

– “Nói một vật là không trúng”. Đại Sư:

 

– “Có phải chờ đến chứng đắc mới được chăng?” Bạch:

 

– “Tu chứng chẳng phải là không, ô nhiễm thì chẳng được”.

 

Đại Sư khen:

 

– “Chỉ chẳng ô nhiễm chỗ chư Phật hộ niệm, ông đã như thế, tôi cũng như vậy. Đức Bát Nhã Đa La ở Tây thiên có lời sấm: “Dưới chân ông sẽ hiện ra một con ngựa tơ mạnh mẽ đạp chết người trong thiên hạ, đó là ứng tại tâm ông, chớ nên vội nói ” (ám chỉ về Mã Tổ sau này). Hoài Nhượng thiền sư liền suốt thông, ở lại hầu hạ Đại Sư suốt 15 năm. Sau này Hoài thiền sư đến Nam Nhạc mở rộng Thiền Tông.

 

— *** —

 

 

Thiền sư Huyền Giác, họ Đới, ở phủ Ôn Châu, Vĩnh Gia, lúc trẻ đã học Kinh Luận, làu thông pháp môn Chỉ Quán của tông Thiên Thai. Nhân xem Kinh Duy Ma Cật tâm được sáng tõ. Ngày nọ tình cờ gặp đệ tử của Lục Tổ là Thiền sư Huyền Sách, hai vị cùng nhau đàm luận rất tương đắc. Khi nghe Thiền sư Huyền Giác luận bàn giáo lý thích hợp với tông chỉ của các vị Tổ sư, Thiền sư Huyền Sách mới hỏi:

 

– “Chẳng hay nhân giả đắc pháp với Thầy nào?”

 

Huyền Giác đáp:

 

– “Tôi chỉ xem kinh Phương Đẳng và các luận, theo tôi hiểu,  muốn tu phải có thầy chỉ dạy. Sau này nhờ đọc kinh Duy Ma Cật biết rõ tông Phật tâm, nhưng chưa có thầy chứng minh”.   Huyền Sách bảo:

 

– “Từ đời Phật Oai Âm Vương về trước, tự tu, tự ngộ thì được, nhưng sau này, không có thầy truyền mà tự ngộ là ngoại đạo”. Huyền Giác thưa:

 

– “Nếu vậy, xin nhân giả vui lòng ấn chứng”.

Huyền Sách chối từ:

 

– “Sự hiểu biết của tôi còn kém, ở Tào Khê có Lục Tổ, được Phật tử bốn phương ngưỡng phục, nhân giả nên đến đó thọ pháp. Nếu thuận, chúng ta đồng hành”.

 

Hai vị thiền sư đến Tào Khê vào lễ Lục Tổ, Huyền Giác đi 3 vòng rồi chống tích trượng đứng. Đại Sư thân mật trách:

 

– “Phàm là Sa môn phải giữ đầy đủ ba ngàn oai nghi, 8 vạn tế hạnh. Đại đức từ phương nào đến đây mà tự kiêu vậy?”

 

Huyền Giác nghiêm trang bạch:

 

– “Sanh tử là việc lớn, vô thường qua quá mau.” Đại Sư hỏi:

 

– “Sao chẳng nhận lý không sanh, để liễu kết gốc không mau?” Huyền Giác bạch:

 

– “Thể của tánh vốn không sanh, đâu còn mau hay không mau”. Đại Sư khen:

 

– “Đúng vậy! Thật như vậy”. Bấy giờ Huyền Giác mới dùng đủ oai nghi lễ lạy. Phút chốc, xin cáo từ.   Đại Sư hỏi:

 

– “Sao về mau vậy?”   Huyền Giác bạch:

 

– “Bổn tánh tự nhiên chẳng động, làm gì có chậm, hay mau?”  Đại Sư hỏi lại:

 

– “Ai biết chẳng động?”  Huyền Giác bạch:

 

– “Nhơn giả tự sanh phân biệt”. Đại Sư khen:

 

– “Đại đức đã đạt được ý không sanh”.  Huyền Giác hỏi lại:

 

– “Không sanh há lại dụng ý sao?”  Đại Sư đáp:

 

– “Không dùng ý lấy chi để phân biệt?” Huyền Giác bạch:

 

– “Phân biệt cũng không khởi ý”.  Đại Sư:

 

– “Hay lắm! Hãy lưu lại đây một đêm”.

 

Thời ấy, Thiền sư Huyền Giác được người đời xưng tụng Nhứt Túc Giác (người giác ngộ được mời ở với Tổ một đêm). Về sau, Thiền sư Huyền Giác trước tác bài ca Chứng Đạo, truyền bá rất thạnh hành. Thiền sư Nhứt Túc Giác được triều đình sắc phong Vô Tướng hay Thiền Sư Chơn Giác.

 

 

— *** —

 

 

Thiền sư Trí Hoàng sau khi tham lễ Ngũ Tổ về, tự cho đã đắc pháp thiền định chánh thọ, ngồi thiền trong am liên tiếp 20 năm, không gián đoạn. Đệ tử của Lục Tổ là Huyền Sách, du phương đến Hà Sóc, nghe danh Trí Hoàng lập am, đến hỏi:

 

– “Sư làm gì nơi đây?” Trí Hoàng đáp:

 

– “Nhập định”. Sư Huyền Sách hỏi:

 

– “Trong lúc Sư nhập định có tâm nhập hay vô tâm nhập, nếu không tâm mà nhập thì tất cả loại vô tình, cây cỏ gạch ngói cũng đều được định. Nếu có tâm nhập, tất cả loại hữu tình, (hàm thức chuyển động) cũng đắc định”.  Trí Hoàng:

 

– “Chính lúc nhập định tôi chẳng thấy tâm có ý thức hay không  ý thức”. Sư Huyền Sách:

 

– “Thấy có, hay không là thường định, sao được gọi xuất, nhập? Nếu có xuất, nhập tức không phải đại định”.

 

Sư Trí Hoàng không đáp được, giây lâu hỏi:

 

– “Thầy nối pháp của vị nào vậy?”  Sư Huyền Sách đáp:

 

– “Thầy tôi Lục Tổ, ở Tào Khê”.  Sư Trí Hoàng hỏi:

 

– “Lục Tổ dạy pháp Thiền định thế nào?”  Sư Huyền Sách:

 

– “Thầy tôi dạy: “Thiền Định là giữ tánh luôn trong sạch, thanh lặng, toàn sáng, thể, dụng như như, 5 uẩn vốn không, 6 trần chẳng có, không ra, không vào, chẳng định, chẳng loạn. Tánh Thiền không ở một chỗ nhứt định, rời cả ý thiền. Tánh thiền không sanh, dứt ý tưởng về nơi sanh ra thiền. Tâm như hư không nhưng chẳng tưởng nghĩ, đo lường về hư không”.

 

Sư Trí Hoàng nghe sư Huyền Sách thuyết giải như vậy, liền đến xin yết kiến Lục Tổ.  Đại Sư hỏi:

 

– “Nhân giả ở đâu đến?”

 

Sư Trí Hoàng thuật các việc trước. Đại Sư ân cần giải thích:

 

– “Thật như những lời ấy. Ông nên giữ tâm như hư không, chẳng chấp vào không, ứng dụng thông suốt, động tịnh tâm không khởi, phàm Thánh đều quên, tâm năng tâm sở đều dứt, tánh tướng như như, lúc nào cũng định”.

 

Đại Sư thương từ xa đến nên hết lòng chỉ dẫn, nhờ đó Trí Hoàng đại ngộ, rồi nghĩ lại chỗ sở đắc của mình trong 20 năm qua không còn chút ảnh hưởng gì. Đêm ấy, sĩ dân Hà Bắc nghe trên không trung có tiếng: “Thiền sư Trí Hoàng ngày nay đắc đạo”. Sau đó, Trí Hoàng lễ tạ, về Hà Bắc khai hoá tứ chúng. ¹

 

— ***–

 

Có vị tăng hỏi Đại Sư:

 

– “Ý chỉ của Sư Huỳnh Mai người nào đắc?”   Đại Sư đáp:

 

– “Người hội Phật pháp đắc”.  Vị tăng lại bạch:

 

– “Hòa thượng đắc chăng?”  Đại Sư khiêm nhượng:

 

– “Tôi không hội Phật pháp”.

 

— *** —

 

Ngày nọ, Đại Sư muốn giặt Pháp y nhưng chưa tìm được suối trong. Nhân thấy sau chùa lối năm dậm, núi rừng sầm uất, thanh khí xoay quanh, Đại Sư chống tích trượng xuống đất, mạch nước theo tay vọt lên, khoảnh khắc thành ao. Đại Sư quì gối giặt áo. Nơi vồ đá bỗng xuất hiện một vị tăng, đến lễ bái và bạch:

 

– “Tôi tên Phương Biện, người Tây Thục, khi trước gặp Tổ Đạt Ma ở Nam Thiên trúc, Ngài dặn: “Phương Biện, hãy đến nước đại Đường, Chánh pháp nhãn tạng và Tăng già lê ² của Đại Ca Diếp đã truyền đến đời thứ 6 tại Thiều Châu, Tào Khê. Ông nên đến đó chiêm lễ”. Phương Biện từ xa đến, tâm nguyện thấy Y Pháp của Thầy tôi ”.

 

Đại Sư đưa cho xem, rồi hỏi:

 

– “Thượng nhơn khéo về nghề chi?” Phương Biện bạch:

 

– “Chuyên về đắp tượng”. Đại Sư chỉnh sắc:

 

– “Ông thử đắp tượng tôi xem”.

 

Phương Biện bối rối, vài hôm sau mới đắp thành chơn tượng, cao 7 tấc, trông rất khéo. Đại Sư cười:

 

– “Ông chỉ biết đắp tượng tánh, chẳng biết Phật tánh”. Đại Sư duỗi tay vò đảnh Phương Biện, thân mật dạy:

 

– “Hãy làm việc phước điền ở cõi người và cõi trời cho lâu dài”. Đại Sư lấy áo đưa cho Phương Biện để đáp công. Phương Biện chia áo làm 3, một, trang bị đồ tượng; một, giữ riêng; một chôn xuống đất và nguyện:

——

1.- Bốn chúng xuất gia: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni. Sa di, Sa di ni.

2.- Chánh pháp nhãn tạng là phép truyền tâm ấn đặc biệt của Thiền tông.

–  Một áo trong bộ Tam y của hàng Tỳ kheo:  a/- Tăng già lêáo ngoài.   b/- Uất đa la áo giữa.  c/- An đà hộiáo trong.

 

 

 

– “Ngày sau người được áo này, là tôi ra đời, trụ trì nơi đây, và trùng tu ngôi chùa”.

 

Đến đời Tống Gia Hựu năm thứ 8, có Tăng Duy Tiên tu sửa điện, đào đất được áo trông như mới. Tượng còn lưu tại Cao Tuyền Tự, cầu điều gì cũng linh ứng.

 

 

— *** —

 

Có vị Tăng đọc kệ Ngọa Luân Thiền sư:

 

“Ngọa Luân có tài giỏi

Hay đoạn trăm tư tưởng

Đối cảnh tâm không khởi

Bồ đề ngày tăng trưởng”.

 

 

Đại Sư nghe, liền dạy:

 

– “Kệ này chưa rõ chơn tâm, nếu y theo tu hành thêm trói buộc, nhân đó cho một kệ:

 

 

“Huệ Năng không tài giỏi

Chẳng đoạn trăm tư tưởng

Đối cảnh tâm luôn khởi

Bồ đề sao tăng trưởng?”

 

— *** —

 

 

 

                                    GIẢI THÍCH:

 

— *** —

 

 

Chú giải về 62 tà kiến: theo “Phật học đại tự điển” do hội tu đính Đại Tạng Kinh ấn hành tại Thiện Đạo Tự, Trung Hoa Dân Quốc, năm thứ 73 Đài Bắc – Đài Loan:

 

62 kiến  (627- 1128) :

1./ Sắc là thường

2./ Sắc là vô thường

3./ Sắc là thường vô thường

4./ Sắc là phi thường phi vô thường

 

 

Các thứ Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng như thế:

Ngũ uẩn: Sắc uẩn, Thọ uẩn, Hành uẩn, Thức uẩn thành          20

Hiện tại hữu biên, vô biên, ngũ ấm có  ——————         20

Sau khi chết, như đi, chẳng đi có         —————–           20

Thành                                60

Thần với 1 thân, thần với thân khác có           ——–            02

Cộng  —-          62

 

Đoạn thường, hữu vô là biên kiến (thấy một bên)

Dùng đoạn thường 2 kiến làm căn bản, là                —-        62  kiến

 

62 kiến ngoại đạo:

 

– Sắc uẩn cho là ta có 4 câu:

– a-/ sắc là ta.

– b-/ lìa sắc mà có ta.

– c-/ sắc là lớn, ta là nhỏ – ta trụ trong sắc.

– d-/ ta là lớn, sắc là nhỏ – sắc trụ trong ta.

 

– 4 uẩn khác: Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng như trên. Họp lại thành 20. Trải qua 3 đời họp thành 60. Dùng Đoạn và Thường, 2 kiến làm căn bản thành 62 kiến.

–***–

 

 

VIII.- ĐỐN TIỆM

 

PHƯƠNG PHÁP DẠY TẮT VÀ DẠY THEO THỨ LỚP

 

 

 

— *** —

Bấy giờ Lục Tổ ngụ tại chùa Bửu Lâm, Tào Khê, Thượng Tọa Thần Tú ở chùa Ngọc Tuyền, Kinh Nam, hai phái truyền bá rất thạnh hành, người đời ca tụng: Nam Năng – Bắc Tú, chia ra Đốn Giáo và Tiệm giáo, khiến những người học đạo phân vân, chưa biết phải theo tông chỉ nào. Trước tình trạng đó, Lục Tổ khuyên đồ chúng:

 

– “Đạo Pháp vốn từ một gốc, người có Bắc Nam, pháp duy có một nhưng chỗ thấy và hiểu có chậm, mau. Tại sao gọi đốn tiệm? Pháp không đốn tiệm, người có sáng có mê, sự hiểu biết mau chậm khác nhau, nên gọi đốn tiệm”.

 

Tuy nhiên, môn đồ của Thượng tọa Thần Tú thuờng hay chê Tổ Sư Nam Tông:

 

-“Chẳng biết một chữ, có gì sở trường”. Thượng tọa Thần Tú can:

 

– “Đại sư Huệ Năng được trí vô sư, đã thâm ngộ chơn lý thượng thừa, tôi không sánh bằng. Hơn nữa, Đại Sư Huệ Năng còn được Thầy tôi, Ngũ Tổ, đích thân truyền Y Pháp, đâu phải tự nhiên mà được? Tôi tiếc vì đang thọ ơn vua, không thể đi xa để được gần gũi hầu học thêm nơi người. Các ông hãy đến Tào Khê, trước tham lễ, sau tìm lãnh hội những điều chưa hiểu biết”.

 

Ngày nọ, Thượng tọa Thần Tú gọi riêng môn nhơn Chí Thành, người  ở Thái Hòa, huyện Kiết Châu, dặn:

 

– “Ông thông minh, đa trí, nên vì tôi, đến Tào Khê nghe Lục Tổ giảng pháp và tận tâm ghi nhớ, về thuật lại tôi nghe”.

 

Chí Thành vâng mạng đến Tào Khê, dấu tông tích, lẫn vào đồ chúng nghe giảng.

 

Bấy giờ, trong buổi thuyết pháp, Tổ sư cảnh cáo:

 

– “Có người trộm pháp ẩn trong hội này”. Chí Thành liền ra lễ bái, trình bày các việc. Đại Sư hỏi:

 

– “Ông từ Ngọc Tuyền đến, phải chăng để thám thính?”

 

Chí Thành bạch:

 

– “Không phải”. Đại Sư hỏi:

 

– “Tại sao không phải?” Chí Thành bạch:

 

– “Khi tôi chưa nói ra là phải, giờ đã nói thì không phải”. Đại Sư hỏi tiếp:

 

– “Thầy ông dạy đồ chúng những gì?” Chí Thành bạch:

 

– “Thường dạy chúng tôi trụ tâm quán tịnh, ngồi tập trung tư tưởng, không nằm”. Đại Sư:

 

– “Trụ tâm quán tịnh là bịnh, không phải thiền, ngồi lâu câu thúc thân thể, về lý, đâu có ích gì. Ông nghe kệ đây:

 

“Sống ngồi không nằm

Chết nằm chẳng ngồi

Đống xương thịt thúi

Công phu gì?… Ôi!”

 

Chí Thành liền lạy, bạch:

 

– “Học nhơn theo Đại sư Thần Tú học đạo 9 năm chưa sáng tỏ, nay nghe Hòa thượng một lời, bổn tâm liền ngộ. Sanh tử là việc lớn, kính xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy”. Đại Sư:

 

– “Tôi nghe thầy ông dạy môn nhơn Giới, Định, Huệ, chẳng rõ Đại sư Thần Tú giảng nghĩa lý ra sao, thuật lại tôi nghe”.

 

Chí Thành bạch:

 

– “Đại sư Thần Tú giảng: “Các việc ác không làm gọi Giới, làm các điều lành gọi Huệ, luôn Tịnh ý mình gọi Định”. Chẳng hay Hòa thượng dùng pháp nào dạy người?” Đại Sư:

 

– “Nếu tôi nói có pháp dạy cho người, là dối ông, tôi chỉ tùy phương tiện mở trói buộc. Phương tiện ấy tức Chánh Định. Lời thầy ông dạy về giới, định, huệ, tôi không thể luận bàn. Chỗ thấy của tôi về giới, định, huệ lại khác”.

 

Chí Thành bạch:

 

– “Giới, Định, Huệ chỉ có một, sao lại khác?”  Đại Sư:

 

– “Giới, định, huệ, của thầy ông để tiếp độ người đại thừa, còn giới, định, huệ của tôi dùng tiếp độ người tối thượng thừa. Vì liễu ngộ chẳng đồng, nên thấy có chậm, mau. Ông hãy nghe tôi giải rồi đối chiếu với điều Thầy ông dạy, có giống nhau không? Tôi thuyết pháp không rời chơn tánh. Rời bổn thể dạy pháp là tướng thuyết, tánh còn mê. Nên hiểu tất cả pháp đều từ tự tánh khởi dụng, đó mới chơn pháp Giới, Định, Huệ.

 

Nghe kệ:

 

“Tâm không quấy tự tánh giới

Tâm không mê tự tánh huệ

Tâm không loạn tự tánh định

Không tăng không giảm tự Kim Cang

Thân vẫn tới lui, lòng thanh tịnh”.

 

 

Chí Thành nghe xong hối hận, tạ lỗi và trình một kệ:

 

\    “Năm uẩn như ảo ảnh,

Không thể đạt cứu cánh.

Nên về với chơn như,

Chấp pháp lòng chưa tịnh”.

 

Đại Sư khen phải, bảo Chí Thành:

 

– “Giới, Định, Huệ, của thầy ông dùng dạy người tiểu căn, thiểu trí, Giới, Định, Huệ, của tôi dạy người đại căn, đại trí.   Tánh nếu sáng tỏ không cần lập Bồ đề và Niết bàn, cũng không cần tạo Giải thoát tri kiến. Không một vật gì tìm được trong chơn tánh, như thế mới có thể thành lập muôn pháp.  Rõ được lý này, gọi Phật thân, gọi Bồ Đề Niết Bàn, cũng gọi Giải thoát tri kiến. Người thấy tánh, lập muôn pháp cũng đặng, không lập cũng được, tới lui tự do, không ngăn không ngại, ứng dụng tùy cơ, ứng lời tùy đáp, ứng việc tùy hành, hóa thân cùng khắp vẫn chẳng rời tánh mình, như vậy tức đặng Tự tại thần không du hí Chánh Định, đó, gọi thấy tánh”. ¹

—–

1.- Tự tại thần thông là huệ tánh thiêng liêng ứng dụng suốt thông trong mọi hoàn cảnh, ở mọi nơi. Du hí Chánh Định là phép Chánh Định tự do của chư vị Bồ Tát. Vào ra các nơi, các cảnh, dầu mau dầu chậm cũng đều tự do tự tại.

 

Chí Thành:

 

– “Bạch Hòa Thượng, thế nào gọi nghĩa chẳng lập?” Đại Sư:

 

– “Tánh ta không quấy, không si, không loạn, bất cứ lúc nào cũng dùng trí Bát Nhã chiếu soi, thường rời cảnh tướng, tự do, tự tại, dọc ngang đều được thì có gì cần phải lập? Tự ngộ tánh, đốn ngộ đốn tu, không lần hồi thứ lớp, tất cả pháp không cần lập. Các pháp vắng lặng đâu cần thứ lớp”.

 

Chí Thành nghe xong, lễ bái tạ ơn, và nguyện hầu hạ Đại Sư, sớm tối không xao lãng.

 

— *** —

 

 

Tăng Chí Triệt, người Giang Tây, họ Trương tên Hành Xương, lúc trẻ là hiệp sĩ. Từ khi Nam Bắc chia rẽ, phân ra việc hóa độ, hai tông chủ tuy không bỉ ngã, nhưng học trò, bè bạn của hai phái tranh chấp nhau rồi sanh lòng ưa ghét. Bấy giờ, môn nhơn Bắc tông lập Thượng tọa Thần Tú làm Tổ thứ 6, nhưng ngại việc Lục Tổ được Ngũ Tổ truyền Y Bát, khắp thiên hạ đều nghe biết, nên ngầm sai Hành Xương đến ám sát Lục Tổ. Đại Sư tâm thông, dự biết việc này, nên để sẵn 10 lượng vàng trong phòng. Nhân đêm khuya, Hành Xương lẻn vào phòng Tổ, toan ám hại, Tổ đưa cổ ra, Hành Xương múa đao 3 phen mà không chém được. Đại Sư thương hại:

 

– “Gươm chánh không dùng việc tà, kiếm tà không hại được người chánh, tôi chỉ nợ ông vàng chớ không nợ mạng”.

 

Hành Xương kinh hải, ngã xỉu, hồi lâu mới tỉnh, hối hận lạy, thành khẩn xin Đại Sư tha tội và tự nguyện xuất gia. Đại Sư đưa vàng dặn:

 

– “Ông nên ra đi, đồ chúng hay được họ sẽ hại ông. Ngày khác, cải dạng rồi hãy đến, khi đó tôi sẽ thâu nhận”.

 

Hành Xương vâng lệnh, nửa đêm trốn đi. Sau đầu tăng xuất gia, cụ giới tinh tấn. Ngày nọ, nhớ lời Đại Sư dặn, Hành Xương từ xa đến lễ hầu. Đại Sư ân cần, trách:

 

– “Tôi nhớ ông từ lâu, sao đến muộn vậy?”

 

Hành Xương bạch:

 

– “Ngày trước học nhơn nhờ ơn Hòa thượng tha tội, tuy đã xuất gia, khổ hạnh, nhưng vẫn nghĩ, dầu tu suốt kiếp, cũng khó mong báo đền được ơn đức này. Nay đến đây, nguyện cầu Hòa thượng truyền pháp, để học nhơn ráng sức hoằng dương độ chúng sanh. Học nhơn thường xem kinh Niết Bàn, chưa hiểu rõ nghĩa thường và vô thường, kính xin Hòa thượng từ bi lược giải”. Đại Sư:

 

– “Vô thường tức Phật tánh, hữu thường là tâm phân biệt tất cả cảnh thiện ác”. Hành Xương kính cẩn bạch:

 

– “Học nhơn xin được hỏi, lời giải đó của Hòa thượng có trái với kinh văn không”. Đại Sư khẳng định:

 

– “Tôi truyền tâm ấn của Phật, nào dám giải sai kinh Phật”.

Hành Xương bạch:

 

– “Kinh chép: “Phật tánh là thường” Hòa thượng cho là vô thường. Các điều thiện ác cho đến tâm bồ đề đều vô thường, Hòa thượng giải trở lại là thường, như vậy trái ngược, khiến học nhơn này càng thêm nghi hoặc”. Đại Sư:

 

– “Ngày xưa nghe ni sư Vô Tận Tạng đọc kinh Niết Bàn một lần, tôi đã vì ni sư giảng giải, không một chữ một nghĩa sai với kinh văn. Hôm nay, tôi giảng cho ông cũng không hai lý”. Hành Xương:

 

– “Học nhơn sức hiểu mê cạn, nguyện Hòa thượng giải thích rõ chi tiết”. Đại Sư giảng:

 

– “Ông nên biết, Phật tánh nếu thường, thì các pháp thiện ác, cho đến cùng kiếp cũng không một người phát tâm bồ đề? Vì thế, tôi giải vô thuờng, Phật thuyết đạo chơn thường. Lại nữa, tất cả các pháp nếu vô thường, tức mọi vật đều có tánh riêng, phải chịu sanh tử, tánh chơn thường không thay đổi, nên tôi giải thường, chính Phật giảng nghĩa chơn vô thường. Phật vì thấy phàm phu ngoại đạo hiểu sai lầm đạo thường cho là tà thường. Người tu hàng nhị thừa, thường cho là vô thường, cộng thành bát đảo ¹ (8 điều trái ngược). Nên kinh Niết Bàn liễu nghĩa dạy: “Phá biên kiến ”của người khác bằng cách giải tỏa sự thấy một chiều của họ, để chỉ rõ chỗ chơn thường, chơn lạc, chơn ngã, chơn tịnh. Nay ông theo lời văn mà hiểu trái nghĩa của Phật, cho rằng tất cả những gì có thay đổi là vô thường, những gì không thay đổi là thường. Đó là ông hiểu lầm lời huyền vi, viên diệu tối hậu của Phật. Như vậy, dầu ông xem kinh đến ngàn lần cũng không có ích gì”.

 

Hành Xương liền đại ngộ, đọc kệ:

 

“Nhân chấp tâm vô thường

Phật thuyết hữu thường tánh

Chẳng rõ là phương tiện

Như đáy ao lượm sỏi sành.

Tôi nay chẳng nhọc công

Hiện tiền thấy Phật tánh

Chẳng nhờ Sư chỉ giáo

Tôi không thể đắc đạo”.

Đại sư:

 

– “Nay ông thấu triệt, đáng gọi Chí Triệt”.

 

Chí Triệt lễ tạ, lui ra.

 

— *** —

 

 

Cậu bé tên Thần Hội, họ Cao, quê ở Hoài Dương, 13 tuổi, từ chùa Ngọc Tuyền (nơi sư Thần Tú dạy đạo) đến lễ Đại sư.

 

– “Tri thức khó nhọc, từ xa đến, đã thấy được bổn lai chưa? Nếu có gốc phải biết ngôi chủ, nói thử tôi nghe?” Thần Hội:

 

– “Không mắc dính làm gốc, thấy tức là chủ”. Đại Sư trách:

 

– “Ấy! Sa di tranh cãi thế nào, hãy nói thứ tự ”.

 

Thần Hội bạch:

——

Bát đảo:

A.- 4 trái ngược của phàm phu : 1.- Thường các pháp đều vô thường, họ cho thường. 2.- Lạc : thế gian chịu các khổ, họ cho vui sướng, tức Lạc. 3.- Ngã thế gian không có cái ta, họ chấp ngã, có ta. 4.- Tịnh các pháp đều bất tịnh, họ cho là tịnh.

B.- 4 trái ngược của nhị thừa: 1.-Vô thườngvới Niết Bàn là thường, họ cho vô thường. 2.-Vô lạc: với Niết Bàn là lạc, họ cho vô lạc. 3.-Vô Ngãvới Niết Bàn là ngã, họ cho vô ngã. 4.- Vô tịnhvới Niết Bàn là thanh tịnh, họ vô tịnh.

 

 

– “Hòa thượng ngồi thiền, thấy hay chẳng thấy?”

 

Đại Sư trắc nghiệm, dùng gậy gõ nhẹ ba cái, hỏi:

 

– “Tôi đánh cậu em đau hay không đau?” Thần Hội bạch:

 

– “Đau mà cũng chẳng đau”. Đại Sư:

 

– “Tôi thấy mà cũng chẳng thấy”. Thần Hội bạch:

 

– “Thế nào là thấy cũng chẳng thấy?” Đại Sư giải:

 

– “Chỗ thấy của tôi là thường thấy các lầm lỗi của bổn tâm, chẳng thấy thị phi tốt xấu của người khác. Đó là thấy cũng chẳng thấy. Cậu em đáp đau cũng chẳng đau nghĩa là sao? Nếu không đau thì đồng với cây đá vô tri, nếu đau tức đồng với phàm phu, dễ sanh tức giận; cứ như chỗ hỏi trước: “Thấy hay chẳng thấy? “ vậy còn chấp hai bên, câu “Đau cũng không đau “ tức còn sanh diệt. Tánh của mình còn không thấy, sao lại dám đùa giỡn với người khác?”

 

Thần Hội lạy tạ, hối lỗi. Đại Sư thương tình, dạy tiếp:

 

– “Nếu tâm còn mê chưa thấy bổn tánh, nên hỏi thiện tri thức chỉ đường, nếu đã ngộ thấy tánh nên y pháp tu hành; còn mê chưa thấy bổn tâm lại đến hỏi tôi thấy với không thấy. Tôi thấy tôi tự biết, há thay được cái mê của cậu sao? Nếu cậu tự thấy cũng không thay cái mê của tôi được, sao chẳng tự biết tự thấy, lại hỏi tôi thấy với không thấy?”

 

Thần Hội lễ hơn trăm lạy, cầu tạ lỗi lầm và ân cần phục vụ, hầu hạ bên Đại Sư chẳng rời.

 

— *** —

 

Ngày nọ, Đại Sư hỏi đồ chúng:

 

– “Tôi có một vật, không đầu, không đuôi, không tên, không chữ, không lưng, không mặt, các ông có biết chăng?”

 

Thần Hội vội bước ra bạch:

 

– “Đó là cội nguồn của chư Phật, Phật tánh của Thần Hội”.

Đại Sư quở:

– “Tôi đã gọi vật không tên, không chữ, sao bảo đó là nguồn gốc Phật tánh, như vậy, dầu có đi đến chánh đạo, thì cũng như người ngồi lấy mái tranh che đầu; học thêm bao lâu cũng chỉ là một tông đồ giỏi luận về Phật pháp qua kinh sách mà thôi”.

 

Sau khi Tổ Sư diệt độ, Thần Hội vào kinh, mở rộng môn Tào Khê đốn giáo, sáng tác sách Hiển Tông Ký, truyền bá rất thạnh hành thời bấy giờ. Đó là Thiền sư Hà Trạch.

 

Ngày nọ, Đại Sư thấy môn đồ các tông, ngồi quanh dưới pháp tòa, khi thảo luận nhiều người khởi tâm ác, cố ý vấn nạn, bắt bẻ, xem nhau như thù địch. Động lòng thương xót, Đại Sư thân mật khuyên giải:

 

– “Người học đạo nên dứt bỏ tất cả niệm tưởng lành, niệm tưởng ác mới thích hợp, nhưng không có tên nào kêu xưng cho đúng, vậy tạm gọi tánh không hai, tức tánh không thương không ghét, là thật tánh; từ thật tánh lập ra tất cả giáo môn. Vậy, sau khi nghe thuyết pháp đốn giáo này liền thấy bổn tánh để hành đạo”.

 

Đồ chúng nghe dạy, đồng lễ tạ, xin thờ Đại Sư là thầy.

 

— *** —

 

 

IX.- TUYÊN CHIẾU

 

CHIẾU TRIỆU

 

— *** —

 

 

Niên hiệu Thần Long, năm thứ nhứt, ngày thượng nguơn, Hoàng thái hậu Võ Tắc Thiên và Hoàng đế Trung Tông ban chiếu:

 

– “Trẫm thỉnh Huệ An, Thần Tú, hai đại sư vào cung cúng dường, và nhân lúc nhàn rỗi cùng nghiên cứu nhứt thừa”.

 

Hai vị Đại sư thối thoát, tâu:

 

– “Phương Nam hiện có Thiền sư Huệ Năng được Tổ Hoằng Nhẫn mật truyền Y Pháp, là người được truyền tâm ấn của Phật, nên triệu thỉnh để hỏi ”.

 

– “Nay Trẫm sai nội thị Tiết Giản, mang chiếu triệu thỉnh, mong Đại Sư từ bi niệm tình, sớm về kinh”.

 

Đại Sư thượng biểu, viện cớ bịnh, từ chối, và phát nguyện trọn đời ở nơi lâm dã. Tiết Giản bạch:

 

– “Các vị thiền đức nơi kinh thành dạy: “Muốn được ngộ đạo phải ngồi thiền và tập định, nếu chẳng nhờ thiền định mà được giải thoát, là điều chưa từng có “. Chẳng rõ Đại Sư giảng pháp thế nào?” Đại Sư giải thích:

 

– “Đạo do tâm ngộ, đâu phải tại ngồi. Kinh chép: “Nếu bảo Như Lai dạy ngồi hoặc nằm, là hành tà đạo”, vì sao? Từ không chỗ đến, cũng không chỗ đi, không sanh không diệt, gọi Như Lai thanh tịnh thiền. Các pháp đều vắng lặng là Như Lai thanh tịnh tọa, rốt ráo vẫn không chứng, hà huống do ngồi”. Tiết Giản:

 

– “Đệ tử hồi kinh, chúa thượng sẽ hỏi, nguyện Đại Sư từ bi chỉ chỗ tâm yếu, để đệ tử tấu trình hai cung, cùng các vị học đạo ở kinh thành. Được vậy, ví như một đèn mồi trăm ngàn đèn, khắp nơi u tối đều được sáng, sáng sáng vô cùng tận”.

 

Đại Sư:

 

– “Đạo không sáng tối, sáng tối là nghĩa thay thế, sáng sáng vô tận, nhưng cũng có khi hết, sáng và tối đối đãi nhau mới thành tên. Kinh Tịnh Danh chép: “Pháp không so sánh, không  đối đãi”.  Tiết Giản lại bạch:

 

– “Sáng ví như trí huệ, tối ví như phiền não, người tu nếu chẳng dùng trí huệ chiếu phá phiền não thì nương vào đâu mà thoát khỏi được vòng sinh tử từ vô thỉ?”  Đại Sư:

 

– “Phiền não tức bồ đề, không phải hai, cũng không phải khác nhau. Nếu dùng trí huệ chiếu phá phiền não, đó là sự hiểu biết của hàng nhị thừa; các xe dê, nai, trâu, đều do căn cơ của bực Thinh văn và Duyên giác; bực thượng trí đại căn không hiểu như vậy”.  Tiết Giản lại bạch:

 

– “Chỗ thấy biết của bực đại thừa thế nào?” Đại Sư giảng:

 

– “Sáng với không sáng, người phàm thấy hai, với người trí liễu đạt, tánh ấy không hai, tánh không hai tức thật tánh. Thật tánh ở người phàm không giảm, Thánh Hiền không tăng, trụ nơi phiền não không loạn, tại thiền định không lặng yên, chẳng dứt chẳng thường, không đến chẳng đi, không tại trung gian, cũng không trong ngoài, không sanh, chẳng diệt, tánh và tướng tự như như, thường trụ không dời đổi, nên gọi thật tánh là đạo“. Tiết Giản bạch tiếp:

 

– “Nghe Đại Sư giảng lý bất sanh bất diệt, đệ tử trộm nghĩ không khác giới ngoại đạo?” Đại Sư:

 

– “Người ngoại đạo gọi bất sanh bất diệt là đem diệt ngưng sanh, dùng sanh hiển rõ diệt, diệt như chẳng diệt, sanh gọi không sanh. Còn tôi giảng bất sanh bất diệt là tánh bổn lai, vốn tự không sanh, nên chẳng diệt, vì thế không đồng với người ngoại đạo. Nếu ngài muốn rõ chỗ yếu chỉ của tâm, thì tất cả thiện ác đều không nghĩ đến, tự nhiên tâm thể được thanh tịnh, vắng lặng, diệu dụng vô cùng”.

 

Tiết Giản nhờ chỉ giáo, tâm tánh liền sáng tỏ, cung kính hành lễ từ giã về triều, tấu trình các lời Đại Sư dạy.

 

Năm ấy, ngày mùng 3 tháng 9, chiếu dụ đến cho Đại Sư như sau:

 

– “Đại Sư cáo bịnh chối từ không về kinh, vậy hãy vì Trẫm tu hành để tạo phước điền cho nước. Đại Sư cũng như Sư Tịnh Danh cáo bịnh, cũng ở lại thành Tỳ Da Li để xiển dương môn Đại Thừa, truyền pháp tâm đàm “bất nhị”của chư Phật“.

 

– “Tiết Giản được Đại Sư chỉ dạy về tri kiến của Như Lai. Trẫm nhờ tích thiện, phước dư, vốn trồng căn lành nên được gặp Đại Sư ra đời, mà hiểu được pháp thượng thừa. Trẫm cảm đội ơn Đại Sư. Cùng với việc dâng Ma nạp ca sa và Bát thủy tinh, Trẫm còn lịnh cho Thiều Châu thứ sử tu sửa tự viện, và sắc tứ hiệu chùa là Quốc Ân Tự“.

 

— *** —

 

 

X.- PHÓ CHÚC

 

NHỮNG LỜI DẶN DÒ CỦA LỤC TỔ

 

— *** —

 

Ngày nọ, Đại Sư gọi các môn nhơn: Pháp Hải, Chí Thành, Pháp Đạt, Thần Hội, Trí Thường, Trí Thông, Chí Triệt, Chí Đạo, Pháp Trân, Pháp Như … đến dạy:

 

– “Các ông khác người thường, sau khi tôi diệt độ, mỗi người nên làm Thầy một phương. Hôm nay tôi dạy các ông cách thuyết pháp, để khỏi sai lạc bổn tông, tức Thiền tông”:

 

– “Trước hết, nên xử dụng 3 khoa, rồi dùng 36 phép đối. Khi đưa ra lúc ẩn kín phải rời cả hai bên. Lúc thuyết các pháp, nên gìn chơn tánh. Nếu có người hỏi các ông về Phật pháp, thì mỗi lời nói đều phải đi đôi, giữ phép đối, lui tới nương nhau, sau cùng cả 2 phép đều bỏ dứt, cũng không chấp chỗ bỏ. Ba khoa giáo lý là: ẤM – GIỚI – NHẬP:

 

ẤM, có 5 ấm: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức.

 

GIỚI, có 18 giới, gồm:

 

– 6 Trần: Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp.

(màu sắc, tiếng, mùi, nếm, tiếp xúc, va chạm)

 

– 6 Cửa tức 6 căn: Nhãn, Nhĩ, Tĩ, Thiệt, Thân, Ý.

 (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, ý tưởng)

 

– 6 Thức: Nhãn, Nhĩ, Tĩ, Thiệt, Thân và Ý thức.

 

NHẬP, là 12 chỗ vào, ngoài có 6 Trần, trong có 6 Cửa.

 

Bổn tâm bao hàm vạn pháp, nên gọi hàm tàng thức (kho chứa tất cả điều lành dữ). Nếu tâm khởi suy nghĩ, lo lường, tức tâm chuyển thành thức. Thức này sanh 6 thức ra 6 cửa, rồi thấy 6 trần. Đó là 18 giới, đều từ bổn tâm khởi ra xử dụng. Nếu tâm tà khởi 18 điều tà, nếu tâm chánh khởi 18 điều chánh. Nếu bổn tánh ứng dụng theo điều ác, là ứng dụng của chúng sanh. Bổn tánh ứng dụng điều lành, tức ứng dụng của Phật”.

 

– “Vậy dụng do đâu mà có? Từ bổn tánh sanh. Về phép đối:

 

– “Ngoại cảnh vô tình, có 5 đối: trời đối đất, mặt trời đối mặt trăng, sáng đối tối, âm đối dương, nước đối lửa, là 5 đối”.

 

– “Pháp tướng ngôn ngữ, có 12 đối: tiếng nói đối với pháp, có đối không, có sắc đối không sắc, có tướng đối không tướng, hữu lậu (tức phiền não), đối vô lậu, sắc đối không, động đối tịnh, thanh đối trược, phàm đối thánh, tăng đối tục, già đối trẻ, lớn đối nhỏ, cộng 12 đối”.

 

– “Tự tánh khởi dụng, có 19 đối: dài đối ngắn, tà đối chánh, si đối huệ, ngu đối trí, loạn đối định, hiền từ đối ác độc, giới đối quấy, ngay đối cong, thật đối hư, hiểm đối bình, phiền não đối bồ đề, thường đối vô thường, từ bi đối độc hại, vui đối giận, bố thí đối keo kiệt, tấn đối thối, sanh đối diệt, pháp thân đối sắc thân, hóa thân đối báo thân, cộng 19 đối”.

 

Đại Sư giảng tiếp:

 

– “Đó là 36 pháp đối, nếu thấu hiểu và ứng dụng tức là đạo. Quán thông tất cả kinh pháp, xuất nhập đều rời hai bên. Tự tánh động dụng khi cùng với người đối đáp, bên ngoài: đối với tướng phải rời tướng, bên trong: đối không phải dứt không. Tâm còn chấp tướng liền tăng thêm tà kiến. Tâm nếu chấp không tăng trưởng thêm vô minh. Người chấp không thường có ý chê kinh, cho rằng không dùng văn tự. Đã không dùng văn tự thì đừng nói ra lời, vì lời nói là tướng của văn tự. Họ lại cho rằng:

 

– “Cứ nói thẳng không lập văn tự, vậy hai chữ không lập cũng là văn tự”. Nghe người nói vội chê lời, là chấp văn tự. Các ông nên biết, tự mình mê, có thể dung chế được, còn tranh luận, chê bai kinh Phật bị tội chướng vô số. Nếu chấp tướng bên ngoài lại dối tạo ra pháp để cầu chơn, hoặc mở rộng đạo tràng, giảng những điều lầm lỗi về Có về Không, người như thế, dù tu vô số kiếp cũng không thấy tánh được”.

 

– “Nghe giảng dạy, y chánh pháp tu hành, nếu trăm việc không nghĩ tới làm cho chơn tánh bị ngăn trở. Nghe giảng mà chẳng tu hành ắt khiến người sanh tà niệm. Nên y pháp, khi giảng đừng chấp tướng. Các ông nếu hiểu rõ, y theo đó giảng, theo đó dụng, theo đó tu thì không lạc mất bổn tông”.

 

– “Nếu có người hỏi nghĩa các ông, hỏi có, đem không đối, hỏi không dùng có đối, hỏi phàm lấy thánh đối, hỏi thánh đem phàm đối, hai đường đối nhau sanh ra nghĩa trung đạo. Như một hỏi một đối, hỏi các thứ khác y theo đó đáp, không mất lý. Như có người hỏi sao gọi tối? Thì đáp: “Sáng là nhân, tối là duyên, hết sáng liền tối”.

 

Đại Sư dạy tiếp:

 

– “Dùng sáng chỉ rõ tối, lấy tối hiển sáng, tới lui đối nhau thành nghĩa trung đạo, hỏi các thứ khác thảy đều đáp như vậy. Các ông sau này truyền pháp, phải y theo đó chỉ cho nhau, đừng để lạc mất tông chỉ”.

 

–***–

 

 

 

Tháng 7 năm Nhâm Tý, niên hiệu Thái Cực (tháng 5 lại cải hiệu Diên Hòa, tháng 8 Huyền Tông tức vị, cải hiệu Tiên Thiên, năm sau lại cải hiệu Khai Nguyên) Đại Sư sai môn nhơn đến Tân Châu, đốc thúc nhơn công xây một tháp tại chùa Quốc Ân. Cuối hè năm sau tháp hoàn thành. Ngày 1 tháng 7, Đại Sư hợp đồ chúng, dạy:

 

– “Đến tháng 8 tôi sẽ rời thế gian, các ông có điều gì chưa rõ nên hỏi, tôi giải chỗ nghi ngờ cho dứt mê, kẻo sau này không còn ai chỉ dạy các ông nữa”.

 

Pháp Hải cùng các người khác đều rơi lệ, chỉ có Thần Hội, thần tình chẳng động, không buồn, không khóc. Đại Sư khen:

 

– “Tiểu sư Thần Hội đã đạt đến chỗ tâm không còn thấy sự khác biệt giữa lành và chẳng lành, chê khen chẳng động, buồn vui không sanh. Các người khác chưa bằng được”.

 

Đại Sư than:

 

– “Tôi không hiểu bao nhiêu năm vào núi, các ông tu hành cách nào? Hôm nay các ông tủi khóc, vì lo cho ai? Nếu lo tôi không biết nơi đi, tôi tự biết chỗ đi. Nếu tôi không biết nơi đến sao lại dự báo cho các ông? Các ông tủi khóc vì chẳng biết nơi tôi đến. Nếu biết được chỗ tôi đến, tức các ông không còn buồn khóc. Pháp tánh vốn không sanh diệt tới lui, các ông hết thảy ngồi xuống, cùng tôi tụng một bài kệ, gọi Chơn giả động tịnh kệ. Tụng kệ này, nếu tâm ý đồng với tôi, các ông theo đó tu hành, không mất tông chỉ”. Kệ:

 

 

“Tất cả không chơn thật,

Chớ nghĩ thấy được chơn.

Nếu lúc thấy chỗ chơn,

Thấy đó rốt không chơn.

Lúc cần thấy chơn thời,

Hết giả ngộ tâm chơn.

Bổn tâm vốn không giả,

Không chơn nơi nào chơn.

Hữu tình tức có động,

Vô tình vốn chẳng động.

Lầm tu hạnh bất động,

Đồng vô tình không động.

Muốn tìm chơn bất động,

Nơi động có bất động.

Bất động là chẳng động,

Vô tình không Phật chủng (hạt giống Phật).

Nên khéo phân biệt tướng,

Nghĩa đệ nhứt bất động.

Ngộ được pháp tu này,

Tức là dụng chơn như.

Báo các người học đạo,

Nỗ lực nên ngộ lý.

Tu pháp môn đại thừa,

Chớ chấp sanh tử trí.

Lời bàn luận thích hợp,

Cùng trao đổi Phật nghĩa.

Nhược bằng không hoà ý,

Chấp tay xin hoan hỉ.

Tông này vốn không tranh,

Tranh luận mất đạo lý.

Tranh cải về pháp môn,

Tự nhập sanh tử trí”.

 

Phỏng dịch:

 

 “Thế gian vạn vật đều không thật,

Chớ vội vàng cho thấy là chơn.

Mới nhìn qua rõ ràng chơn,

Rốt cuộc lại hoàn toàn không phải thật.  

Tự tâm vốn sẵn chân thật có,

Bỏ giả dứt tà ngộ được chơn.

Huyền giả còn tâm chưa chơn,

Tâm mình sẵn tịnh tìm chơn làm gì ?

Tâm có, tình tránh sao khỏi động,

Tâm bất động là giống vô tình.

Lầm theo chẳng động tu hành,

Cùng loài bất động trở thành vô tri.

Nếu muốn tu trì tâm bất động,

Nơi các cảnh động, tâm không lay.

Tâm bất động, chẳng đổi thay,

Vô tình mất giống Như Lai Niết Bàn.

Rõ thông suốt nguyên nhân các tướng,

Đó thật là tối thượng hạnh tu,         

Chẳng nhiễm động tĩnh thật hư.

Tức là ứng dụng chơn như Bồ đề,

Đường tu học ai người thượng trí.

Hãy gắng tìm chân lý mà noi,

Môn đại thừa gắng xét soi.                        

Học sanh tử trí chấp liền khổ đau,

Nếu thích hợp cùng nhau góp ý.    

Luận bàn tìm chân lý Phật tông,

Như chẳng đẹp ý vui lòng.

Thạnh tình hoan hỉ chớ không ép nài,

Tu học sao suốt ngày tranh cải ?

Gây tổn thương hòa ái là sai,

Biệt phân phải, trái hôm nay,

Lạc vào sanh tử luân hồi mai sau”.

 

 

Đồ chúng nghe kệ xong, đồng đảnh lễ và vâng lời Đại Sư cùng nhiếp tâm theo pháp tu, không còn tranh luận nữa.

 

Biết Đại sư còn ở thế không lâu, Thượng tòa Pháp Hải lạy bạch:

 

– “Hòa thượng sau khi nhập diệt, Y Pháp truyền cho người nào?” Đại Sư dặn:

 

– “Những lời tôi giảng từ chùa Đại Phạm cho đến hôm nay, các ông gom hết, chép lại, tựa đề Kinh Pháp Bảo Đàn, rán cẩn thận giữ gìn và cố gắng cùng nhau truyền bá để cứu độ quần sanh. Y theo lời kinh này tu, đó là chánh pháp. Với các ông, tôi chỉ truyền pháp chớ không truyền Y, vì các ông tín căn đều thuần thục, quyết định chẳng nghi, đủ khả năng đảm nhận đại sự. Theo ý kệ của Sơ Tổ Đạt Ma, Áo không thích hợp truyền nữa”.  Nghe kệ:

 

  “Tôi vốn đến xứ này

Truyền pháp cứu mê tình

Một hoa nở năm cánh

Kết quả tự viên thành”.

 

 

Đại Sư giảng thêm:

 

– “Thiện tri thức! Các ông nên tịnh tâm nghe tôi giảng: Muốn tất cả giống trí Phật được thành tựu, phải đạt được Nhứt tướng Chánh Định và Nhứt hạnh Chánh Định. Trước các cảnh giữ tâm không nhiễm, không sanh lòng ưa, ghét, cũng không giữ, bỏ, không nghĩ các việc lợi ích, thành hoại, luôn an nhàn, điềm tịnh, hư dung, đạm bạc, đó gọi Nhứt tướng Chánh Định. Lúc đi, đứng hay nằm, ngồi, đều giữ lòng luôn ngay thẳng, không động đạo tâm, chơn thành tịnh độ, đó gọi Nhứt hạnh Chánh Định. Người nào hội đủ hai phép chánh định, như đất có giống tốt, hàm chứa sự tăng trưởng cho hột giống lớn nhanh đến kỳ trái chín. Nhứt tướng, Nhứt hạnh cũng như vậy. Tôi hôm nay thuyết pháp như mưa thấm ướt đất, Phật tánh của các ông như hột giống, gặp đất ướt, mầm mộng phát sinh. Ai tu đúng theo tông chỉ của tôi, quyết sẽ được chứng quả bồ đề, tu y theo hạnh của tôi, nhứt định chứng được diệu quả”.

 

Nghe kệ:

 

“Tâm chứa các hạt giống

Mưa thấm mầm nảy sanh

Đốn ngộ hoa tâm nở

Bồ đề quả viên thành”.

 

 

Đọc kệ xong, Đại Sư lại dặn thêm:

 

– “Pháp vốn không hai, bổn tâm cũng vậy. Đạo vốn thanh tịnh nên không có hình tướng. Các ông cẩn thận chớ quán tịnh và chấp tâm không. Vì tâm vốn sẵn tịnh, không giữ, chẳng bỏ, nên nỗ lực tùy duyên. Thôi, các ông hãy lui ra”.

 

Đồ chúng lễ tạ lui ra.

 

Ngày mồng 8 tháng 7, Đại sư gọi môn nhơn, bảo:

 

– “Tôi muốn về Tân Châu, các ông mau sắm sửa thuyền chèo”.  Đại chúng buồn thảm, tha thiết cầu xin Sư ở lại.

 

Đại Sư an ủi:

 

– “Chư Phật ra đời rồi cũng vào Niết Bàn, có đến tất có đi, đó lẽ thường, hình hài này của tôi đã có chỗ về”.

 

Đồ chúng bạch:

 

– “Đại Sư đi phen này nên sớm trở lại”. Đại Sư an ủi:

 

– “Lá rụng về cội, không hẹn ngày trở lại”.

 

Đồ chúng lại bạch:

 

– “Chánh pháp nhãn tạng sẽ truyền phó cho người nào?”

 

Đại sư:

 

– “Người có tâm đạo thì đặng, vô tâm thì thông suốt!”

 

Đồ chúng lại bạch:

– “Sau này có nạn chi chăng?” Đại Sư dặn:

 

– “Sau khi tôi tịch diệt, năm sáu năm sau sẽ có một người đến lấy đầu tôi.

 

Các ông nên ghi nhớ mấy lời này:

 

“Trên đầu dưỡng thân

Trong miệng nuôi ăn

Gặp nạn của Mãn

Dương liễu làm quan”.

 

 

Đại Sư dặn thêm:

 

– “Tôi đi rồi, 70 năm sau, có hai vị Bồ tát từ phương Đông đến, một xuất gia, một tại gia, đồng chấn hưng, quảng bá tông phái này và kiến thiết Phật tự”.

 

Đồ chúng bạch:

 

– “Chẳng rõ từ Phật Tổ ứng hiện đến nay, truyền xuống mấy đời, kính mong Đại Sư khai thị?”

 

Đại Sư tuần tự kể:

 

– “Cổ Phật ra đời đã vô số lượng, không thể kể hết. Tôi chỉ kể 7 vị Phật gần đây.

 

Thời quá khứ Trang Nghiêm kiếp, có:

 

1.- Tỳ Bà Thi Phật,

2.- Thi Khí Phật,

3.- Tỳ Xá Phù Phật.

 

Thời hiện tại Hiền kiếp, có:

 

1.- Câu Lưu Tôn Phật,

2.- Câu Na Hàm Mâu Ni Phật,

3.- Ca Diếp Phật,

4.- Thích Ca Văn Phật.

 

Bảy vị Phật trên đây, Từ Thích Ca Văn Phật, là vị Phật đầu tiên, truyền xuống:

 

Thứ nhứt: Ma Ha Ca Diếp tôn giả

Thứ hai: A Nan Đà tôn giả

Thứ ba: Thương Na Hòa Tu tôn giả

Thứ tư: Ưu Ba Cúc Đa tôn giả

Thứ năm: Đề Đa Ca tôn giả

Thứ sáu: Di Giá Ca tôn giả

Thứ bảy: Bà Tu Mật Đa tôn giả

Thứ tám: Phật Đà Nan Đề tôn giả

Thứ chín: Phục Đà Mật Đa tôn giả

Thứ mười: Hiếp tôn giả

Thứ 11: Phú Na Dạ Xa tôn giả

Thứ 12: Mã Minh Đại Sĩ

Thứ 13: Ca Tỳ Ma La tôn giả

Thứ 14: Long Thọ Đại Sĩ

Thứ 15: Ca Na Đề Bà tôn giả

Thứ 16: La Hầu La Đa tôn giả

Thứ 17: Tăng Gìa Nan Đề tôn giả

Thứ 18: Gìa Da Xá Đa tôn giả

Thứ 19: Cưu Ma La Đa tôn giả

Thứ 20: Đồ Dạ Đa tôn giả

Thứ 21: Bà Tu Bàn Đầu tôn giả

Thứ 22: Ma Nã Loa tôn giả

Thứ 23: Hạt Lặc Na tôn giả

Thứ 24: Sư Tử tôn giả

Thứ 25: Bà Xá Tư Đa tôn giả

Thứ 26: Bất Như Mật Đa tôn giả

Thứ 27: Bát Nhã Đa La tôn giả

Thứ 28: Bồ Đề Đạt Ma tôn giả, Sơ tổ đông độ

Thứ 29: Huệ Khả Đại sư

Thứ 30: Tăng Xán Đại sư

Thứ 31: Đạo Tín Đại sư

Thứ 32: Hoằng Nhẫn Đại sư

Huệ Năng này là Tổ thứ 33.

 

– “Từ trước, các vị Tổ đều có kế thừa. Các ông về sau, thay thế nhau lưu truyền chánh pháp, chớ làm trái nghịch, sai lầm”.

 

Ngày mùng 3 tháng 8 năm Qúy Sửu, niên hiệu Tiên Thiên thứ hai, (713, đến tháng 12 năm ấy, đổi niên hiệu là Khai Nguyên nguyên niên) tại chùa Quốc Ân, sau khi thọ trai, Đại Sư bảo đồ chúng:

 

– “Các ông hãy ngồi theo thứ tự, để tôi từ biệt”.

 

Pháp Hải bạch:

 

– “Hòa thượng lưu lại giáo pháp nào khiến cho đời sau người mê được thấy Phật tánh?”

 

– “Các ông nghe kỹ, người mê đời sau nếu biết được tâm chúng sanh, tức thấy Phật tánh. Không biết được tâm chúng sanh muôn kiếp tìm Phật cũng khó gặp. Nay tôi dạy các ông biết tâm chúng sanh của mình và thấy Phật tại tâm. Muốn cầu thấy Phật phải biết tâm chúng sanh. Vì chúng sanh không biết mình có tánh Phật, nên mê muội để tâm chúng sanh che mờ tâm Phật, chớ chẳng phải tâm Phật làm mê muội chúng sanh. Nếu tánh của chúng sanh giác ngộ, thì chúng sanh là Phật. Tánh mê, Phật là chúng sanh. Tánh bình đẳng, tâm chúng sanh là Phật. Tánh tà hiểm, gian ác, Phật tánh bị tâm chúng sanh che khuất. Nếu tâm quanh co hiểm khúc tức tánh Phật ở trong tâm chúng sanh. Một niệm tưởng ngay thẳng, trong sạch, tức chúng sanh thành Phật. Tâm ta tự có Phật, Phật tại tâm mới là Phật thiệt. Không tìm Phật ở ngay trong tâm, đi tìm cầu chơn Phật ở xứ nào? Tự tâm các ông là Phật, chớ nên nghi ngờ. Các ông cần biết rõ, ngoài tâm ra, không một thứ gì có thể tạo được vạn pháp. Chính tự tâm sanh ra muôn giống pháp. Bởi vậy, kinh chép: “Tâm sanh vạn vật sanh, tâm diệt các vật liền diệt“.

 

– “Nghe tôi đọc một bài kệ để giã biệt các ông. Kệ này gọi Tự tánh chơn Phật kệ. Người đời sau biết được ý bài kệ này, tự thấy tánh liền thành Phật đạo”:

 

 

“Chơn như tự tánh là chơn Phật,

Tà kiến ba độc vốn Ma vương.

Lúc còn mê Ma vương choán chỗ,

Đắc chánh kiến sẵn Phật tại nhà.

Khởi tâm tà ba độc sanh ra,

Tự mở cửa mời thỉnh quỉ ma.

Chánh kiến sanh tiêu tan ba độc,

Ma tu thành Phật, thật không xa.

Pháp thân, Báo thân và Hóa thân,

Ba thân nguyên lai vốn một thân.

Nếu hướng vào tâm luôn soi chiếu,

Tức đắc thành Phật bồ đề nhân.

Từ nơi Hóa thân sanh tánh tịnh,

Tịnh tánh thường tại nơi hóa thân.

Nương chơn tánh hóa thân hành đạo chánh,

Tâm viên minh quí báu vô ngần.

Tánh dâm vốn từ nhân tịnh tánh,

Dứt dâm tức đắc tịnh tánh thân.

Ngộ tự tánh rời xa ngũ dục,

Thấy tánh tức khắc trở về chơn.

Duyên lành may gặp môn đốn giáo,

Được giác ngộ liền thấy Thế Tôn.

Nếu muốn tu sớm thành Phật đạo,

Phải biết nơi vào đúng Phật môn.

Quán tự tâm thấy ra chơn tánh,

Rõ tánh chơn tức nhân thành Phật.

Chưa thấy tánh, bên ngoài tìm Phật,

Khởi tâm như vậy, thật si nhơn.

Pháp môn đốn giáo nay lưu lại,

Cứu độ người đời chí tâm tu.

Chỉ lối hậu nhân đường học đạo,

Không rõ đốn môn lạc mịt mù”.

 

 

Phỏng dịch:

 

Chơn như bổn tánh là thật Phật,

Lòng tà, ba độc, vốn Ma vương.

Tâm mê, ma quỉ dựa nương,

Thiệt hành chánh kiến, Phật thường tại tâm.

Tà tâm khởi liền sanh ba độc,

Do tự mình mở cửa rước ma.

Đắc chánh kiến, chúng lánh xa,

Ma tu thành Phật xem qua chuyện thường.

Pháp, Báo, Hóa, ba thân là Phật,

Tuy rằng ba, vốn thật một thân.

Chiếu soi thấy được chơn tâm,

Tức liền ngộ đắc chánh chân bồ đề.

Hóa thân nơi tịnh tánh là nhân,

Tánh tịnh thường tại Hóa thân.

Rõ được Hóa thân hành Chánh đạo,

Tâm viên minh, tức tại Niết Bàn.

Từ tịnh tánh, khởi sang dâm tánh,

Xa rời dâm, ý sạch lòng thanh.     

Dứt ngũ dục, giữ tâm lành,

Giác trong khoảnh khắc tánh hoàn chơn như.

Duyên hạnh đắc thuyền từ đốn giáo,

Ngộ nhứt thời thấy Đức Thế tôn.

Người tu muốn nhập Phật môn,

Quán tâm thanh tịnh pháp thân Phật Đà.

Tự chiếu soi thấy ra chơn tánh,    

Ngộ tánh chơn tức Phật tại tâm.

Khổ công tìm Phật xa xăm,

Tu hành như vậy mê lầm, còn si.

Nay đốn giáo hợp kỳ truyền bá,

Cứu độ người quyết dạ tu hành.

Hỡi ai tâm chánh lòng thành,

Không thông đốn pháp Đạo lành lạc xa “.

 

 

Đại Sư thuyết kệ xong, ân cần dặn:

 

– “Các ông nhớ kỹ, sau khi tôi diệt độ, không nên bắt chước thói thường của người đời, khóc kể, đừng nhận phúng điếu cũng không mặc tang phục. Nếu làm trái lời dặn này, không phải đệ tử của tôi, vì những hình thức đó chẳng phải chánh pháp. Chỉ cần các ông biết tâm, thấy tánh, lòng không động, không tịnh, không sanh, không diệt, không đi, không đến, không phải, không quấy, không ở nhứt định nơi nào, cũng không dời đổi. Tôi lo các ông còn mê, không lãnh hội được ý này, nên ân cần dặn lại, khiến các ông thấy tánh. Sau khi tôi diệt độ, hãy y phép tu như lúc tôi hiện diện. Nếu không tuân những lời dặn này, dầu tôi còn tại thế cũng không ích lợi”.

 

Nghe kệ:

 

 

“Ngơ ngơ chẳng làm lành

Lâng lâng không tạo ác

Vắng lặng hết thấy nghe

Rỗng thông lòng không nhiễm”.

 

 

Đại Sư thuyết kệ xong, ngồi im đến canh ba, bổng gọi môn nhơn:

 

– “Tôi đi đây!”

 

Rồi lặng lẽ viên tịch. Lúc đó hương thơm khắp nhà, mống trắng đầy đất, cây rừng nhượm màu tang, thú cầm kêu thảm thiết.

 

–***–

 

 

Tháng 11, Quảng Châu, Thiều Châu, Tân Châu, quan viên, môn nhơn, tăng, tục đổ về tranh nhau rước chơn thân Ngài, nhưng không ai quyết định được sẽ đưa chơn thân về nơi nào, nên đốt hương khấn nguyện, khói hương bay hướng Tào Khê.

 

Ngày 13 tháng 11, dời thần khám, bên trong xuất hiện một đạo bạch quang xung thẳng lên không, 3 ngày mới tan. Viên huyện Thiều Châu dâng sớ tấu trình lên đức vua. Triều đình sắc phong, lập bia, ghi rõ đạo hạnh của Đại Sư :

 

Đại Sư thọ 76 tuổi, được truyền Y lúc 24 tuổi, thế phát lúc 39 tuổi. Thuyết pháp lợi ích quần sanh 37 năm. Nối pháp cho Ngài được 43 vị, còn số người tỏ ngộ chánh đạo, siêu phàm thoát tục thì vô số. Tín Y của Tổ Đạt Ma truyền lại từ Tây Vực, là thứ vải bố Khuất Uyển. Áo Ma nạp và bửu bát của vua Trung Tôn ban, cùng chơn tượng của Ngài do Phương Biện đắp, với tất cả đạo cụ, đều vĩnh viễn lưu giữ tại đạo tràng Bửu Lâm.

 

Lưu truyền Đàn Kinh này, nhằm mục đích làm sáng tỏ tông chỉ Đức Lục Tổ, cùng phát huy Tam Bảo, hầu làm lợi ích cho bá tánh thập phương.

 

LỤC TỔ ĐẠI SƯ  KINH PHÁP BẢO ĐÀN

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

 

 

HẾT

PHỤ LỤC

— *** —

LỤC TỔ ĐẠI SƯ DUYÊN KHỞI NGOẠI KÝ

Môn nhơn Pháp Hải cùng kết tập

 

 

Đại sư tên Huệ Năng. Thân phụ Ngài họ Lư, tên húy là Hành Thao. Đời Đường Vũ Đức, tháng 9 năm thứ 3, bị giáng chức, đày về Tân Châu. Thân mẫu Ngài là Lý Thị, nằm mộng thấy trước sân hoa trắng đua nở, bạch hạc bay cả đôi, mùi thơm lạ khắp nhà, khi thức dậy có cảm giác thọ thai, lại tinh khiết thanh tịnh trai giới.

 

Bà mang thai 6 năm mới sanh Ngài, nhằm Đường Trinh Quán năm thứ 12, giờ Tý ngày mùng 8 tháng 2 năm Mậu Tuất. Bấy giờ hào quang khắp không trung, mùi hương thơm ngào ngạt. Sáng ra có hai vị tăng đến xin yết kiến thân phụ Ngài, bảo rằng:

 

– “Con ngài sanh đêm hôm nên đặt tên trên Huệ, dưới Năng”.

Thân phụ Ngài hỏi:  “Sao tên Huệ Năng?”  Tăng đáp:

 

– “Huệ là dùng pháp huệ tế độ chúng sanh, Năng là hay làm Phật sự”. Nói xong ra đi, chẳng biết đi nơi nào.

 

Ngài không bú sửa mẹ, ban đêm thần nhơn dùng cam lộ nuôi dưỡng. Đến 3 tuổi, thân phụ Ngài từ trần, táng bên cạnh nhà. Mẫu thân Ngài thủ tiết nuôi dưỡng Ngài.Lớn lên Ngài đốn củi nuôi mẹ. Năm 24 tuổi, Ngài nghe kinh tỉnh ngộ, đến Huỳnh Mai tham lễ Ngũ Tổ, được mật truyền Y Pháp và khiến nối ngôi Tổ đời thứ 6. Lúc ấy nhằm niên hiệu Long Sóc năm Tân Dậu.

 

Ngài về phương Nam ẩn lánh. Đến niên hiệu Nghi Phụng, mùng 8 tháng giêng năm Bính Tý, Ngài gặp Ấn Tông pháp sư, gạn hỏi luận bàn chỗ huyền áo. Ấn Tông khế ngộ ý chỉ của Đại Sư. Rằm tháng giêng, Ấn Tông pháp sư hội tứ chúng, thế phát cho Đại Sư. Ngày mùng 8 tháng 2, Ấn Tông tập hội các danh đức, truyền thọ cụ túc giới cho Đại Sư. Tây Kinh Trí Quang luật sư là thọ giới sư. Tô Châu Huệ Tịnh luật sư là Yết Ma. Kinh Châu Thông Ứng luật sư là giáo thọ. Đa La luật sư Trung Thiên Trúc là thuyết giới sư. Mật Đa Tam Tạng ở Tây quốc là chứng giới. Giới đàn này do Tống triều, Ngài Cầu Na Bạt Đà La Tam Tạng kiến lập, có ghi: “Sau này sẽ có nhục thân bồ tát thọ giới nơi đây”. Đời Lương, niên hiệu Thiên Giám, có Trí Dược Tam Tạng từ Tây Trúc quốc, đi thuyền theo đường biển đến đây, đem cây bồ đề trồng bên cạnh giới đàn này, cũng ghi cho nhớ: ”170 năm sau, có nhục thân bồ tát ở dưới cội cây này, khai diễn Thượng Thừa, độ vô số chúng sanh, là Pháp Chủ Chơn Truyền Tâm Ấn của Phật“.

 

Đại Sư từ khi xuống tóc thọ giới, cùng tứ chúng khai thị tông chỉ đơn truyền, đúng theo lời ghi trước tại bia. (Đời Lương niên hiệu Thiên Giám, năm Nhâm Ngũ đến đời Đường niên hiệu Nghi Phụng, năm Bính Tý, được 175 năm).

 

Mùa xuân năm sau, Đại Sư từ giả đồ chúng về Bửu Lâm, Ấn Tông cùng đồ chúng tiển Đại Sư hơn ngàn người, thẳng về Tào Khê, bấy giờ, Kinh Châu Thông Ứng luật sư cùng học giả lối trăm người theo ở luôn với Đại Sư. Đại Sư đến Tào Khê, chùa Bửu Lâm, thấy chỗ chật hẹp, chẳng đủ dung chứa đồ chúng. Muốn mở rộng thêm ra, nên đến yết kiến chủ đất là Trần Á Tiên, thưa:

 

– “Lão tăng muốn nhờ thí chủ cho chỗ đất trải tọa cụ đặng chăng?”

 

Á Tiên bạch: “Tọa cụ của Hòa thượng ước rộng bao nhiêu?” Tổ đưa tọa cụ ra cho xem, Á Tiên vâng chịu. Tổ liền lấy tọa cụ tung ra trùm bốn cảnh Tào Khê, có 4 thiên vương hiện thân ngồi trấn 4 hướng. Đến nay tại cảnh chùa này có Thiên Vương Lãnh. Nhân đó mới có tên. Á Tiên bạch:

 

– “Biết được Hòa thượng pháp lực rộng lớn, nhưng vì mộ phần cao tổ đều tại nơi đây, ngày sau có tạo tháp, xin chừa lại các ngôi mộ này. Còn bao nhiêu tôi tình nguyện vĩnh viễn cúng làm bửu phường. Tuy nhiên, đất này là nơi sanh long bạch tượng đến kết mạch, chỉ nên bằng trên chớ nên bình nơi đất”.

 

Về sau xây cất chùa theo y lời dặn này.

 

Đại Sư dạo sơn thủy gặp các nơi thắng cảnh ngừng lại nghỉ ngơi, đều trở thành nơi lan nhã, (nơi yên tịnh của nhà tu ở) có 13 chỗ gọi hoa quả viện, đều nhập vào của chùa.

 

Bửu Lâm đạo tràng nguyên trước kia Ngài Trí Dược Tam Tạng ở Tây Vực, từ Nam Hải sang qua cửa Tào Khê, bụm nước lên uống, nghe mùi vị thơm ngon lạ thường, gọi đồ chúng bảo:

 

– “Nước này với nước bên Tây Thiên không khác, trên dòng khe này ắt có thắng địa, sơn thủy xoay quanh phong lân kỳ tú, y như núi Bửu Lâm bên Tây Thiên”. Liền bảo cư dân thôn Tào Hầu:

– “Khá nên kiến lập một cảnh chùa nơi núi này, 170 năm sau sẽ có vô thượng pháp bửu diễn hóa nơi đây, kẻ đắc đạo như rừng, nên để hiệu Bửu Lâm”.

 

Bấy giờ nơi Thiều Châu, quan Châu mục Hầu Kính Trung theo lời này dâng biểu tấu, vua y lời thỉnh cầu, sắc tứ bảng đề là Bửu Lâm Phật điện, thuộc về niên hiệu Thiên Giám đời Lương năm thứ 3. Trước chùa có một sở đầm, rồng thường trồi lặn nơi đó, rung động rừng cây. Ngày nọ rồng hiện hình lớn, nổi sóng sôi vọt, mây mù che lấp, đồ chúng sợ hải.   Tổ nạt rồng, bảo:

 

– “Ngươi chỉ hiện được hình lớn chẳng hiện thân nhỏ, nếu là thần long thì biến hóa lớn nhỏ đều được.”

Rồng hốt nhiên lẩn mất, khoảnh khắc lại hiện nhỏ, vọt nổi lên.  Đại Sư đưa bát thử rồng:

 

– “Người lại không dám vào bát của lão tăng?”

 

Rồng hớn hở bơi đến trước. Đại Sư lấy bát hứng rồng, rồng không thể cử động. Đại sư bưng bát về chùa thuyết pháp cho rồng nghe, rồng liền lột xác thăng mất. Bộ xương dài lối 7 tất, đầu đuôi, sừng, chân đủ cả, lưu truyền tại cửa chùa.  Sau Đại Sư dùng đất và đá lấp đầm này.

 

Nay trước điện bên trái có tháp bằng sắt để trấn tại đó. Đại Sư có viên đá trị yêu, chạm 8 chữ: “Long Sóc nguyên niên Lư cư sĩ chí.” Đá này trước để ở viện Đông Thiền, huyện Huỳnh Mai.Đến Vương Duy đời Đường, Thần Hội đại sư làm bài Tổ sư ký, rằng:

 

– “Đại sư chung lộn với nhóm lao động đến 16 năm, gặp Ấn Tông giảng kinh, nhân đó mới thế phát”.

 

Lại Thứ sử Liễu Tông Nguyên làm bia thụy hiệu Tổ sư: “Sư thọ tín cụ, ẩn nơi Nam Hải trọn 16 năm, đến lúc nên hành đạo, Sư về Tào Khê làm thầy dạy người đời”.

 

Lại Thừa tướng Trương Thượng Anh biên bài ký Ngũ Tổ rằng: “Ngũ Tổ diễn hóa nơi huyện Huỳnh Mai, Đông Thiền viện, vì muốn tiện bề phụng dưỡng mẹ già, nên niên hiệu Long Sóc truyền Y Pháp cho Lục Tổ rồi giải tán đồ chúng, tạo am ở Đông Sơn, có cư dân Phùng Mậu hiến núi cho Ngũ Tổ làm đạo tràng”.

Do đó mà suy, Lục Tổ đến Huỳnh Mai thừa thọ Y Pháp của Ngủ Tổ, thật là niên hiệu Long Sóc năm Tân Dậu, đến Nghi Phụng Bính Tý 16 năm, Sư mới đến chùa Pháp Tánh xuống tóc.

 

 

LỜI BẠT

 

— *** —

 

 

Lúc bình sanh, Lục Tổ Đại Sư thuyết pháp tông chỉ Đại thừa viên đốn, nên gọi KINH. Lời giản dị, ý nghĩa rõ sáng, tông chỉ sâu xa. Người đọc hoặc tụng đều được lợi ích. Minh Giáo Khiết Công thường khen: “Người thông minh thấu rõ được chỗ thâm sâu, người mê dốt thì cũng hiểu được chút ít ”. Lời nói ấy rất thành thật.

 

Tôi – người viết lời Bạt này – mới vào đạo, cảm động về lời nói đó. Nhưng đọc qua 3 bản KINH PHÁP BẢO ĐÀN, thấy có nhiều chỗ sai biệt, thiếu sót, vì bị hư mất, mục hoặc rách nát, nên tôi đối chiếu 3 bản khác nhau, thấy chỗ nào không ổn thì hiệu chính, chỗ nào sơ lược quá thì viết rõ ra. Dịp này nhờ cơ duyên, tôi được vị Án Sát Vân Công, quí danh Tùng Long, thâm hiểu về tông chỉ Tào Khê, dẫn giải thêm. Ngày nọ, qua sơn phòng, chỗ các vị biên chép, Tùng Long xem bản của tôi, thấy được toàn bộ ĐÀN KINH, Ông rất cảm kích, nên xin cho phổ biến, để Tông phái Tào Khê không đoạn tuyệt. Có người cho rằng: “Đạt Ma Tổ Sư không lập văn tự, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”, và ngài đã nói: “Một hoa sanh 5 cánh là chánh truyền”, đó không phải văn tự sao? Tôi nói Kinh này phi văn tự vậy. Tổ Đạt Ma đơn truyền tông chỉ là chỉ thẳng, và Nam Nhạc, Thanh Nguyên, nhị vị đại lão sư dùng tông chỉ này làm sáng tỏ tâm của mình mà còn mở sáng cho hai vị Mã Tổ, Thạch Đầu. Nay Thiền Tông được truyền bá khắp thiên hạ là xuất phát từ tông chỉ này.

 

Từ nay về sau, người đời há không phải nhờ Tông Chỉ này mà được minh tâm kiến tánh sao? Ai hỏi, chỉ bái tạ, đáp: “Tôi chẳng dám, chỉ xin giới thiệu thôi”.

 

Chí Nguyên, Tân Mão, mùa Hạ. Nam Hải Thích Tông Bửu,

 

 

BẠT.

 

 

LỊCH TRIỀU SÙNG PHỤNG SỰ TÍCH

 

 

 

*- Đường Hiến Tông Hoàng đế, Ích Đại sư gọi Đại Giám thiền sư.

 

*- Tống Thái Tông Hoàng đế, Gia Ích Đại Giám Chơn Không thiền sư, chiếu biên tên tháp của Sư: Tháp Thái Bình hưng quốc.

 

*- Tống Nhơn Tông Hoàng đế, Thiên Thánh năm thứ 10, nghinh chơn thân Sư cùng Y Bát vào đại nội thành cúng dường, Gia Ích Đại Giám Chơn Không Phổ Giác thiền sư.

 

*- Tống Thần Tông Hoàng đế, Gia Ích Đại Giám Chơn Không Phổ Giác viên minh thiền sư.

 

 

 

                       TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

 

– Kinh Pháp Bảo Đàn: 3 bản trong kinh Đại tạng (Hán ngữ)

– Phật học Đại tự điển của Trọng Hỗ Đinh Phước Bảo (Hán ngữ)

– Phật học tự điển của Đoàn Trung Còn (Việt ngữ)

– Hán Việt tự điển của Thiều Chửu

– Hán Việt tự điển của Đào Duy Anh

– Cổ kim Hán Việt Ngữ tự điển của Trần Văn Chánh

– Các bản dịch Kinh Pháp Bảo Đàn của các dịch giả sau đây:

* – Đoàn Trung Còn, Tịnh độ cư sĩ

* – Giáo sư Từ Quang

* – Thiền sư Minh Trực

* – Tạp chí Từ Bi Âm, Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học

* – Tạp chí Pháp Âm Phật học, Trà Vinh

* – Hoà thượng Thích Mẫn Giác

* – Hoà thượng Từ Quang

* – Hoà Thượng Thích Thanh Từ

* – Tỳ Kheo Thích Duy Lực

* – Tỳ Kheo Thích Nguyên Ngôn (Anh quốc)

* – Trí Hải

* – Cư Sĩ Mai Hạnh Đức

* – Cư Sĩ Đinh Sĩ Trang

* – Thiều Chủ

           XIN CHÚ Ý

— *** —

 

– Kinh PHÁP BỬU ĐÀN chỉ kính biếu.

– Bản gốc có chữ ký của người dịch, được lưu trữ tại hội sở

PGHH hải ngoại dùng làm tài liệu tham khảo và đối chiếu.

– Mọi trích đoạn, sửa chữa, yêu cầu chú thích rõ.

– Địa chỉ liên lạc:

Mr. Hồ Minh Châu

50, rue des Chalets

94450 Limeil Brevannes

FRANCE

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

  Môn Học: BUD400-TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO I.       Tác phẩm: SẮC TƯỚNG VÀ THẬT TƯỚNG,

  Môn Học: BUD400-TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO I.

     

Tác phẩm: SẮC TƯỚNG VÀ THẬT TƯỚNG,

Vấn Đề Nhị Đế Trong Tứ Đại Thuyết Phái của Phật Giáo
APPEARANCE & REALITY,

The Two Truths in the Four Buddhist Tenet Systems

Tác giả: Prof. Guy Newland, Ph.D., 2000

Khoa Trưởng Phân Khoa Triết Học và Tôn Giáo, Ðại Học Michigan/USA
Dịch giả: Tâm Hà Lê Công Ða, 2002.

 

 

CHƯƠNG 1

VẤN ĐỀ NHỊ ĐẾ TRONG TỨ ĐẠI THUYẾT PHÁI

 

Nhị Đế bao gồm Chân Đế (don dam bden pa – paramarthasatya) và Tục Đế (kun rdzob bden pa – samvriti satya). Những kiến giải liên quan đến vấn đề phân biệt giữa Nhị Đế giữ một vị thế quan trọng trong sự khẳng định nội dung của  mỗi một trong bốn tứ đại thuyết phái mà Hoàng Mạo phái của Phật giáo Tây Tạng nhìn nhận như là những phát biểu có hệ thống và chân xác nhất của giáo lý Phật đà. Cũng giống như một nhà công chứng đóng dấu vào một văn kiện công nhận giá trị chân thực của nó, mỗi một bốn tứ đại thuyết phái này đều mang đầy đủ những dấu ấn được coi như phản ảnh một cách trung thực giáo lý Phật đà, đó là tứ pháp ấn:

1.  Vô thường: Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường.
2.  Khổ: Chư hành là khổ.
3.  Vô Ngã : Chư pháp đều vô ngã.
4.  Niết Bàn: Niết bàn là tịch tỉnh.

Xếp hạng từ cao -tức là mức độ sâu sắc uyên áo nhất- cho đến thấp, bốn đại thuyết phái cùng chia xẻ những quan điểm này, gồm:

Các truyền thống Đại thừa :
1.  Trung Quán tông (Madhyamika);
2.  Duy Thức học (Cittamatra).

Các truyền thống Tiểu thừa :
1.  Kinh Lượng Bộ (Sautrantika);
2.  Phân Biệt Thuyết hay Đại Tì Bà Sa (Vaibhasika).

 

Trung Quán tông cũng được chia ra thành hai bộ phái là Độc Lập Biện Chứng phái và Quy Mậu Biện Chứng phái và Kinh Lượng Bộ cũng được chia thành hai phái là Kinh Thủ và Luận Lý, v.v… Hoàng Mạo phái cho rằng bất cứ ai cho là mình đi đúng theo giáo lý Phật đà đều có thể được xem như thuộc về một trong bốn đại thuyết phái nói trên. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là nó bao gồm tất cả những người theo đạo Phật, bởi vì có rất nhiều người có niềm tin sâu xa vào Tam Bảo -và dĩ nhiên họ là những Phật tử thuần thành- nhưng không tự xem mình thuộc về một thuyết phái nào. Và một điều cũng nên biết rằng để được coi như là hành giả của một thuyết phái, điều cần thiết là phải thực chứng được lý vô ngã giảng dạy bởi tông phái đó. Một cách cụ thể, chẳng hạn như một người không thể trở thành một hành giả của Trung Quán tông cho đến khi nào họ thực chứng được tánh không theo cách lý giải của Trung Quán.

Thế nên danh từ được diễn dịch như là “thuyết phái” ở đây hàm chứa ý nghĩa thành tựu rốt ráo, và bởi vậy, để được coi là hành giả của một thuyết phái không phải là người chỉ có thiện cảm với một vài quan điểm của thuyết phái đó mà phải là người nhận thức được  rằng đó là chân lý đúng đắn và quyết theo đuổi cho đến cùng. Tuy nhiên những kiến giải được xem như là nền tảng và là kiến thức cơ bản của một thuyết phái lại có thể bị xem như là nông cạn hoặc thậm chí là sai lầm đối với cái nhìn của một thuyết phái cao hơn. Cái ẩn dụ chính đằng sau công cuộc nghiên cứu của Hoàng Mạo phái về các thuyết phái Phật giáo không theo cách nhìn theo lối nhà trường của Tây phương -nghĩa là đi theo một trình tự thời gian từ thấp đến cao- mà xem đó như là một  cái thang mà những bậc thang là những thuyết phái. Mỗi nấc thang cao hơn cho ta một cái nhìn rõ ràng bao quát hơn là những nấc thang dưới thấp, tuy nhiên chỉ khi nào ta đạt đến nấc thang cao nhất – Quy Mậu Biện chứng phái của Trung Quán- ta mới có thể thấy được sự vật hiện hữu như chính nó. Nói một cách khác, dù đứng trên bất cứ nấc thang nào cũng đều cho ta một cái nhìn rõ ràng hơn là đứng trên mặt đất. Những thuyết phái thấp hơn, cũng giống như những bậc thang, giúp cho ta phương tiện để vươn đến những bậc thang cao hơn.

Có thể đẩy cái ẩn dụ này xa hơn một chút: Những nấc thang cao hơn có thể nguy hiểm cho những ai chưa được chuẩn bị để đón nhận. Đối với một số người, ở một thời điểm nào đó, có thể điều tốt nhất cho họ là nên an trúvới một thuyết phái thấp hơn. Tuy vậy cũng không phải là điều cần thiết để mọi người phải tiến từng bước một từ những nấc thang thấp đến cao của thuyết phái. Khi ta đi sâu vào việc học hỏi những thuyết phái, ta bước từ một thuyết phái này đến một thuyết phái khác, quán chiếu về những gì mà mình đã lãnh hội được từ mỗi mức độ khác nhau. Tuy nhiên, khi đã sẵn sàng để chọn lựa cho mình một thuyết phái và cố gắng triển khai con đường thực chứng tâm linh theo quan điểm của thuyết phái này, một lời khuyên rất cổ điển là bạn nên chọn lựa cái cao nhất có thể được, dĩ nhiên là trong khuôn khổ mà bạn giữ được niềm tin tưởng một cách vững chắc vào nghiệp lực, và nhân quả. Bạn không nên hành trì theo những thuyết phái thấp hơn vì lý do đơn giản là bạn cảm thấy khiêm tốn.

Chúng ta cần phải phát triển và giữ vững niềm tin rằng tất cả những hành động của chúng ta đều gây ra hậu quả, những gì mà chúng ta đang làm tạo nên những nghiệp quả khác nhau, rằng có không biết bao nhiêu người đang trầm luân trong bể khổ, v.v… Những giáo lý này ai cũng có thể cảm nhận được là cơ bản đối với Phật giáo hơn là giáo lý về tánh không. Nếu chúng ta thử để mắt nhìn vào đời sống thực tế để nhìn xem người Phật tử thực sự đang  hành trì cái gì nhất, chúng ta sẽ thấy rằng đa số đang hành trì theo các pháp ba la mật bố thí, trì giới, nhẫn nhục, và tinh tấn do thúc đẩy bởi một ý nguyện đơn giản là giúp đỡ tha nhân và hoặc là để cải thiện chính nghiệp qủa của mình trong dòng luân hồi.  Ý hướng muốn vượt thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử và nỗ lực thực sự để thực chứng tánh không quả thật rất hiếm hoi. Điều này cũng dễ hiểu bởi vì con người thường có khuynh hướng thiên về những gì cụ thể hơn là vô hình, trừu tượng, thế nên niềm tin của một người Phật tử bình thường vào con người, nghiệp quả, giới hạnh, từ bi v.v… đều được trộn lẫn với khuynh hướng cụ thể hóa.
Nhà du già sư như thế phải tìm cách thế để loại bỏ những yếu tố cụ thể này mà không làm thương tổn đến niềm tin vào con người, nghiệp quả, v.v… Nếu đưa người ta vào một pháp tu đặc biệt nào đó đồng thời cũng có nghĩa là thúc đẩy họ vào niềm tin rằng chẳng có gì là quan trọng, chẳng có gì hiện hữu, chẳng có gì thay đổi, ta có hành động hay không cũng vậy… chắc chắn là họ sẽ bỏ đi ngay để tìm đến một thuyết phái “thấp” hơn. Những nấc thang cao hơn nguy hiểm là vậy, bởi vì nó phủ nhận ngay cả những trạng thái vi tế nhất của thực tế và do đó rất dễ có nguy cơ bị rơi vào chũ nghĩa hư vô, đoạn kiến.

Những “quan điểm”  kiến giải khiến cho một thuyết phái này được xem như cao hơn một thuyết phái khác  bao gồm rất nhiều vấn đề liên quan đến triết học, tâm lý học, mà vấn đề quan trọng nhất là câu hỏi liên quan đến cái gì tạo nên vô ngã, hay Không tánh. Bởi vậy, ta không nên lầm lẫn giữa tứ đại thuyết phái và bốn tông phái của Phật giáo Tây Tạng: Hoàng Mạo, Lam Thổ, Cổ Mật và Bố Y phái vốn được phân biệt do các nghi lễ và cách thức thiền định khác nhau. Kensur Yeshe Tupden giải thích rằng trong mỗi tông phái của Phật giáo Tây Tạng vẫn có những người theo đuổi các thuyết phái khác nhau, cũng như một số lớn Phật tử không theo một thuyết phái nào cả.

Trong những chương kế tiếp chúng ta sẽ tìm hiểu nội dung của vấn đề Nhị đế được trình bày bởi tứ đại thuyết phái, bắt đầu bằng giáo lý của trường phái Phân Biệt Thuyết (Đại Tỳ Bà Sa) cho đến Trung Quán tông. Tuy nhiên, một điều cũng nên lưu ý rằng, chỉ có thuyết phái cao nhất, Trung Quán tông mới cho ta một cái nhìn sâu sắc nhất về vấn đề Nhị đế. Phái Phân Biệt Thuyết và Kinh Lượng Bộ đặt nặng sự quan tâm vào Tứ Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), trong khi đó phái Duy Thức chú trọng đến “tam tính”  (viên thành thật tính, y tha khởi tính, và biến kế sở chấp tính). Do Trung Quán tông đã có những kiến giải sâu sắc và chi tiết liên quan đến Nhị Đế thế nên khi xoáy sâu vào việc tứ đại thuyết phái đã kiến giải như thế nào về vấn đề Nhị đế, ở một mức độ nào đó ta không thể tránh được việc áp đặt cái nhìn của Trung Quán tông lên trên ba thuyết phái thấp hơn. Điều này có nghĩa là chúng ta sẽ tiếp cận những thuyết phái thấp hơn qua góc độ lăng kính của Trung Quán tông, và bằng cách này chúng ta như dựng lên một tấm “phông” phản chiếu để có thể đánh giá một cách tốt hơn về những kiến giải của Trung Quán tông liên quan đến Nhị đế.

Thánh giả Long Thọ, nhà triết gia tiên khởi của Trung Quán tông, trong tác phẩm Trung Quán Luận của Ngài đã nêu bật tính cách quan trọng của Nhị Đế:

8. Chư Phật y Nhị đế
Vi chúng sanh thuyết pháp
Nhất dĩ Thế tục đế
Nhị Đệ nhất nghĩa đế

9. Nhược nhân bất năng tri
Phân biệt ư Nhị Đế
Tắc ư thâm Phật pháp
Bất tri chân thật nghĩa
(Trung Luận XXIV. 8, 9)

8.  Vì chúng sanh, chư Phật đã y cứ vào Nhị đế  (hai chân lý) để thuyết giảng giáo pháp. Nhị Đế đó là Thế tục đế và Đệ Nhất nghĩa đế (Chân đế).


9.  Nếu người nào  đối với Nhị Đế mà không có khả năng tri nhận, phân biệt (để liễu giải toàn vẹn sự hổ tương quan hệ của nó) thì kẻ đó không thể tri nhận được ý nghĩa chân thật của giáo pháp sâu xa vi diệu (thậm thâm) của chư Phật (Phật pháp).(1)

 

Trong nỗ lực đi đến một nhận thức thấu đáo về sự phân biệt giữa Nhị đế, người ta bắt đầu bằng một câu hỏi: Hai loại Nhị đế là gì?  hay một cách khác hơn, Cái gì khi được phân chia ra thì trở thành Nhị Đế? Jamyang Shayba, tác giả một cuốn sách quan trọng về Trung Quán tông đã đưa ra nhận xét rằng, muốn hiểu được nét cá biệt giữa Nhị Đế mà không có một kiến thức về nền tảng của sự phân chia cũng chẳng khác gì  đang trèo trên những nhánh cây không rễ. Đã có rất nhiều ý kiến khác nhau về nền tảng của sự phân chia này, tuy nhiên đối với truyền thống Hoàng Mạo phái, tất cả đều đồng ý rằng  nền tảng của sự phân chia chính là sở tri (jneya), tức là những đối thể của nhận thức. Những luận điểm của Hoàng Mạo phái đưa ra sẽ được bàn đến sau này, được trình bày trên quan điểm của Trung Quán tông, tuy nhiên kết luận của nó -những sở tri là nền tảng của sự phân chia của Nhị đế- có thể truyền tục vào cả ba hệ thống thuyết phái khác.

Một điểm rất quan trọng cũng cần phải lưu ý là Tục đế và Chân đế không phải là hai loại quan điểm hay bối cảnh về hiện tượng giới, càng không phải là hai “mức độ khác nhau của thực tại”, cũng như không phải là hai loại chân lý -như mọi người thoạt tưởng. Chúng là những đối thể và do đó có thể được nhận biết. Hữu thể và sở tri là tương đương -có nghĩa là bất cứ cái gì thuộc về cái này cũng đồng thời thuộc về cái kia. Một khi tất cả những gì hiện hữu đều là đối thể của nhận thức, mọi hữu thể phải thuộc về hoặc Tục đế hoặc Chân đế. Nhị đế vì thế không hề bị gò ép vào trong khuôn khổ của những cảnh giới lý tưởng, trừu tượng như chúng ta thường được nghe qua những thành ngữ quen thuộc chẳng hạn như “chân, thiện, mỹ” hay “vén màn chân lý”… Ngược lại chúng ta có thể nắm bắt bất cứ cái gì hiện hữu và nêu lên câu hỏi, Cái này là Tục đế hay Chân đế? Một cái bàn chẳng hạn, đối với các trường phái Trung Quán tông, Duy Thức, và Phân Biệt Thuyết là Tục Đế nhưng là Chân đế đối với trường phái Luận Lý của Kinh Lượng Bộ.

Từ sự khẳng định rằng những sở tri là nền tảng của sự phân chia của Nhị đế, các vị đại sư của Hoàng Mạo phái đưa ra quan điểm rằng ta có thể biết, có thể lãnh hội được Nhị đế. Một vài trường phái thường cho rằng có những bí mật quá thâm diệu, những chân lý quá uyên áo mà tâm của ta, cho dù được rèn luyện và thanh lọc thế mấy đi nữa, cũng sẽ không bao giờ có thể nhận thức thấu đáo được. Đối với Hoàng Mạo phái, không hề có chuyện như vậy. Ngay cả một số vấn đề quan trọng nhất, chẳng hạn như tánh không, được biết là cực kỳ khó khăn để thành tựu, cũng như một số vấn đề khác chẳng hạn như những chi tiết vi tế nhất về mối liên hệ giữa một hành động nào đó với hệ quả luân lý của nó mà chỉ chư Phật mới có thể thấu hiểu được. Tuy nhiên, ngay cả một người trước khi trở thành Bồ tát, điều hiển nhiên là họ phải thành tựu rốt ráo tánh Không, thực chứng được Chân đế thông qua phương tiện thiện xão của thiền quán phân tích. Hơn thế nữa, mỗi chúng sanh hãy nên mang ý nguyện, cũng như có khả năng chuyển hóa tâm thức của mình thành tâm nhất thiết trí của Phật, tức là tâm thức có khả năng hiểu biết trực tiếp và đồng thời những gì đang hiện hữu -tất cả Chân đế lẫn Tục đế. Và Nhị Đế như thế chính là hai loại hình sự vật mà mỗi một người Phật tử chúng ta đều có thể nhận ra và nên khao khát tìm cầu học hỏi.
CHÚ THÍCH:

(1)  Madhyamakasastra (Treatise on the Middle Way), P5224, Vol. 95, ch. 24, vs. 8-9.
Có thể đọc thêm một bản dịch mới với những chú giải triết học của một triết gia Tây phương: The Fundamental Wisdom of the Middle Way. Jay Garfield. New York: Oxford, 1995. 
Đoạn trích dẫn ở trên là bản Việt dịch Trung Luận của TT Thích Viên Lý.
TOP    BACK (MUCLUC)     NEXT (CHƯƠNG 2)

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Vượt Khỏi Giáo Điều

Vượt Khỏi Giáo Điều
Beyond Dogma)
Nguyên tác: His Holiness Dalai Lama
Việt dịch Tâm Hà Lê Công Đa

—o0o—

Hy vọng rằng cuốn sách này sẽ đóng góp thêm vào mối thông cảm chung vượt ra ngoài biên giới của giáo điều học thuyết, và cho cả bình an của tâm hồn và hoà bình thế giới.

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma
France, 1993

Mục Lục

LỜI NGƯỜI DỊCH
Tâm Hà Lê Công Hà

LỜI NÓI ÐẦU
Steven D. Goodman

PHẦN THỨ NHẤT
Những Quán Tưởng Về Tân Thiên Niên Kỷ

PHẦN THỨ HAI
Tâm Linh và Chính Trị

PHẦN THỨ BA
Bất Bạo Ðộng: Một Tâm Gương Ðể Noi Theo

PHẦN THỨ TƯ
Vượt Khỏi Giáo Ðiều

PHẦN THỨ NĂM
Duyên Khởi và Tánh Không

 

Lời Người Dịch

Thế giới bước vào thiên niên kỷ mới mang theo cùng với nó những vấn nạn lớn của con người muôn thuở trên khắp các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, môi sinh, như là những hệ quả tiếp nối của một thế kỷ đầy biến cố sôi động. Bên cạnh đó, khoa học kỹ thuật với tốc độ phát triển nhanh chóng đã mang đến cho nhân loại những thành tựu vượt bực, nổi bật nhất là trong hai bộ môn Tin học và Sinh học. Tất cả đã góp phần làm thay đổi khuôn mặt thế giới cả trên hai bình diện nhận thức lẫn cơ cấu. Các quốc gia, các cấu trúc xã hội kể cả tôn giáo hiện đang rung chuyển, và tùy theo mức độ của mình đang cố gắng chuyển mình để bắt kịp tốc độ thay đổi nhanh chóng đó. Những đổi thay này cũng mang đến cho con người của thiên niên kỷ mới những khủng hoảng mang tính thời đại. Ðó là các cuộc khủng hoảng về tâm linh, về bản sắc và cơ cấu. Ðối diện với các cuộc khủng hoảng sâu sắc này, những người tự thấy có ý thức trách nhiệm góp phần mở ra những phóng lộ cho tương lai không thể không quay trở về với những giá trị tinh thần đã được thử thách với thời gian, trong đó có Phật giáo, và họ đã tìm đến một khuôn mặt có trọng lượng, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma.

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đời thứ mười bốn là một trong những nhà lãnh đạo tinh thần được thế giới tôn kính, không phải chỉ do những kiến thức uyên thâm của Ngài về giáo lý mà còn là những hiểu biết sâu sắc của Ngài về những khía cạnh của cuộc sống đời thường được nhìn qua lăng kính Phật giáo. Với kiến thức quảng bác và một tầm nhìn rộng mở, không biên kiến, Ngài được xem như là một vị cố vấn tinh thần của nhân loại trong thời đại ngày nay. Trong chuyến viếng thăm nước Pháp vừa qua, một xứ sở từ lâu vẫn được coi như là một trong những chiếc nôi của tư tưởng nhân loại, Ngài đã có dịp gặp gỡ, trao đổi quan điểm với giới trí thức Âu Châu, cụ thể là trí thức Pháp, liên quan đến tất cả các vấn đề đương đại. Tác  phẩm ”Vượt Khỏi Giáo điều” của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma được ra đời trong khung cảnh này. Ðó là một tập hợp những bài nói chuyện, thuyết giảng, và đặc biệt là những cuộc đối thoại phản ánh hầu hết những  suy nghĩ , những lý giải về các vấn nạn đang chi phối nhân loại trong thiên niên kỷ mới. Từ những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống cá nhân con người như tình dục, ngừa thai, phá thai, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã đề cập đến những vấn nạn ở tâm mức cao hơn liên quan đến những bất công trong xã hội, hố sâu ngăn cách giữa người giàu và người nghèo, giữa các quốc gia nhược tiểu và tiên tiến và đây chính là đầu mối của các cuộc xung đột chính trị, hoặc đôi khi được núp bóng dưới danh nghĩa tôn giáo, như đang xảy ra trên thế giới hiện nay.

Như một vị lương y nhìn rõ được bệnh thái, thấy được nguyên nhân sâu xa những khổ nạn của con người, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, với tư cách là một Phật tử có trách nhiệm, cũng đã cống hiến cho nhân loại những phương thức trị liệu mà Ngài nghĩ rằng Phật giáo có thể chia xẻ, góp phần để giải quyết những vấn nạn, khủng hoảng này. Giải pháp mà Ngài đưa ra được xây dựng trên tinh thần nhân bản và khai phóng của Phật giáo, lấy Ðại Từ Bi làm nền tảng, Trung Ðạo là hướng đi chủ yếu, và Bất Bạo Ðộng là phương châm hành động. Ðây là thông điệp chính mà Ðức Ðạt Lai Lạt Ma muốn rao truyền cho con người thời đại, là sợi chỉ vàng xuyên suốt tác phẩm ”Vượt Khỏi Giáo điều”. Từ Bi, Trung Ðạo và Bất Bạo Ðộng như thế phải được thể hiện ở mọi cấp độ của cuộc sống, trong nhận thức lẫn hành động ngõ hầu xây dựng được sự bình an nội tâm trong mỗi con người để tiến đến việc kiến tạo một thế giới an lạc. Tin tưởng một cách vững chắc vào bản chất thiện lương vốn có của con người, Ngài hy vọng tâm thức của nhân loại sẽ chuyển hoá theo hướng tốt lành. Ðó cũng là hy vọng của mỗi chúng ta, những người Phật tử đang thực hành Bồ Tát Ðạo trong tâm nguyện chuyển hoá nhân gian thành Tịnh Ðộ.

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma qua ”Vượt Khỏi Giáo điều”  cũng đã phân tích một cách rõ ràng tinh thần Bất Bạo Ðộng của Phật giáo và khẳng định rằng tìm kiếm hoà bình qua đường lối bất bạo động chính là sự kết hợp giữa trí tuệ và các phương tiện thiện xảo, đó là lý do giải thích tại sao Ngài đã áp dụng phương sách này trong cuộc đấu tranh chính nghĩa dành độc lập cho Tây Tạng hiện nay. Nhiều người có thể không đồng ý với Ngài về phương thức đấu tranh bất bạo động, nhưng một điều ta không thể không đồng ý với Ngài là dưới chính sách diệt chủng và hủy diệt văn hoá của Trung Cộng, quốc gia Tây Tạng hiện đang đứng bên bờ vực thẳm của nạn diệt vong. Dưới sự thống trị của Trung Cộng, Tây Tạng hiện đang xuống cấp trầm trọng trên các lãnh vực môi sinh, nhưng điều tệ hại nhất theo Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, là việc Trung Cộng đã sử dụng toàn bộ đất nước này trở thành kho chứa vũ khí nguyên tử, biến Tây Tạng thành  một bải rác chứa các chất thải nguyên tử của họ. Trước tình hình này, Ngài đã lên tiếng cảnh báo cùng dư luận thế giới về hiểm hoạ ô nhiễm các giòng sông lớn tại Á Châu do tình trạng nhiễm độc tại đầu nguồn, nói rõ ra là tại Tây Tạng do Trung Cộng gây ra cho toàn khu vực và các quốc gia sống dọc theo những dòng sông này, kể cả Ấn Ðộ, Bangladesh, Hồi Quốc, Thái Lan, Lào, và như một định mệnh lịch sử ,Việt Nam sẽ là một quốc gia nạn nhân nằm ở điểm cuối của một trong những dòng sông lớn này, Cửu long giang.

”Vượt Khỏi Giáo điều” không phải chỉ đề cập đến những vấn nạn đời thường, nó còn tiến xa hơn một bước nữa là vạch ra cho con người một hướng đi, một hành trình tu tập tâm linh hầu có thể đạt đến cứu cánh giác ngộ giải thoát ngay trong kiếp sống này. Bằng một ngôn ngữ trong sáng và giản dị, trong tác phẩm này Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã triển khai hai lý thuyết triết học căn bản của Phật giáo là Duyên Khởi và Tánh Không, đối chiếu và lý giải chúng dưới ánh sáng khoa học, làm nổi bật được yếu tính của Phật giáo như là một tôn giáo được xây dựng trên cơ sở thuần lý, không phải là một tôn giáo dựa trên những niềm tin mù quáng. Ngài cũng vạch rõ cho ta thấy những tác hành của nghiệp báo và luật nhân quả, những nguyên nhân đưa đến phiền não khổ đau, của vòng luân hồi sinh tử không bao giờ chấm dứt. Và cuối cùng, bằng hiểu biết và kinh nghiệm bản thân của một đời người hành trì, tu tập cả Hiển giáo lẫn Mật giáo, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã chỉ cho ta con đường vượt thoát vô minh để tự giải phóng mình. Với bồ đề tâm kiên cố, bằng quán chiếu và thiền định không mỏi mệt, con người cuối cùng sẽ tìm thấy được bản tánh chân thật của mình, đó là nguồn linh quang trong suốt, đó là sự thực rốt ráo, là thực chứng Niết Bàn, là đạt thành Phật quả.

Như đã trình bày, tác phẩm này đã ghi lại một cách trung thực những buổi nói chuyện, những cuộc đối thoại của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma. Do chủ đích của người ghi chép muốn cố gắng giữ đúng nguyên văn và tính cách sống động của cuộc đối thoại nên người đọc có thể bắt gặp những đoạn có ý tưởng trùng lặp, hoặc đôi khi có những chuyển ý đột ngột từ ý tưởng này qua ý tưởng khác mà người ta thường gặp phải trong khi nói chuyện. Ngoài ra, vì bối cảnh của cuộc nói chuyện diễn ra tại Pháp, thế nên khi Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đề cập đến các khái niệm Ðông – Tây ta nên hiểu đó là hai khối Ðông Âu và Tây Âu (tức cộng sản và tự do trước thời chiến tranh lạnh), và Nam – Bắc tức là các quố c gia Âu Châu phát triển so với các quốc gia chậm tiến Phi Châu.

Bản dịch này được ra đời trong khuôn khổ chương trình dịch thuật của Ðạo Phật Ngày Nay do ÐÐ. Thích Nhật Từ chủ trương. Dịch giả nhân đây xin được chân thành cảm tạ ÐÐ Nhật Từ cùng một số đạo hữu, đặc biệt ÐH Hoa Ngọc, đã tạo điều kiện và thuận duyên để dịch phẩm này sớm được hoàn tất. Nếu dịch bản này có những khiếm khuyết nào xin chư tôn đức, cùng qúy thiện hữu trí thức hoan hỷ góp ý kiến để sửa chữa cho lần xuất bản tới được hoàn chỉnh hơn. Ngoài ra nếu có được chút công đức nào trong việc dịch thuật này, dịch giả xin được hồi hướng đến muôn loài chúng sanh để không còn oan trái lẫn nhau, nguyện cầu cho đất nước và Phật giáo Tây Tạng sớm vượt qua khổ nạn, và riêng đối với cá nhân, xin được cầu nguyện đến cửu huyền thất tổ được siêu sinh tịnh độ.

Tâm Hà Lê Công Ða
20-02-2002
Email: lecongda@aol.com

—o0o—

 

LỜI NÓI ÐẦU  

Tenzin Gyatso tức Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, có thể được xem như là một Phật tử nổi tiếng nhất trên hành tinh của chúng ta. Người “tăng sĩ bình thường” này, Ngài thường tự gọi mình như thế, đã trở thành một nhân vật nổi bật trên trường quốc tế kể từ thập niên 1950, khi mà hàng ngàn dân Tây Tạng, trẻ già trai gái đã phải chạy trốn khỏi nơi chôn nhau cắt rốn để chấp nhận cuộc sống lưu vong trên đất Ấn cũng  như những nơi khác.  Ðoạt giải thưởng Nobel Hoà Bình năm 1989, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã được hàng chục ngàn người từ Á châu, đến tận vùng đất Sô Viết cũ cũng như cả phương Tây coi như là vị Phật sống của thời đại.

Vượt Khỏi Giáo Ðiều (Beyond Dogma) là một tuyển tập gồm những bài nói chuyện, trao đổi đối thoại của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma trong chuyến viếng thăm Pháp quốc năm 1993. Ðược hiệu đính lại để có thể giữ nguyên được tính chất sống động và bầu khí cởi mở của những buổi gặp gỡ giữa Ngài và các nhóm tiếp xúc, cuốn sách này đã đưa người đọc tiếp cận với tính cách đa dạng của những quán chiếu sâu sắc liên quan đến các vấn nạn mà nhân loại có thể sẽ phải đương đầu trước ngưỡng cửa của tân thiên niên kỷ.

Cuốn sách này được phân bố thành năm phần chính.  Trong bốn phần đầu của cuốn sách, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma phản ánh những suy nghĩ của Ngài về tất cả những vấn nạn xã hội, chính trị mà nhân loại hiện đang phải đối diện, và trong phần cuối của cuốn sách, Ngài trả lời những câu hỏi liên quan đến bản chất rốt ráo của thực tại cũng như vị trí của con người trong vũ trụ. Tuy nhận thức được những thách đố khó khăn mà mọi công dân cũng như các nhà lãnh đạo thế giới hiện phải đối đầu, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma cũng giúp cho ta nhìn về tương lai với niềm hy vọng, trên căn bản của một tâm hồn tỉnh thức biết tận dụng mọi cơ hội để chuyển hóa và bảo tồn các giá trị tốt đẹp, cao qúy nhất. Ngài cũng cho ta thấy bằng cách nào mà mọi chiều kích của hiện thể duyên sinh của chúng ta đã tham dự một cách hoà điệu vào khúc luân vũ của sự sống còn và phục hưng, sự hoà điệu của tinh thần con người được khúc xạ thông qua lăng kính của các thói tục: tâm lý, văn hoá và chính trị.

Trong Phần thứ nhất, “Những Quán tưởng về Tân Thiên niên kỷ”, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma là một nhà khoa học chính trị nắm bắt được các thách đố của thời hậu Chiến Tranh Lạnh. Bắt đầu với một nhận xét đơn giản: Giống như tất cả mọi con người đang sống trên trái đất này, thỉnh thoảng Ngài cũng bị vây bủa bởi những nỗi khó khăn, đối diện với những phiền muộn, lo lắng, hoang mang. Và bởi vì không có một giải pháp rốt ráo nào cho nỗi khổ đau, con người thường phải chấp nhận những vấn nạn này, thế nên Ngài có thói quen thường nhấn mạnh đến tầm quan trọng của hạnh phúc và sự thành đạt, mà Ngài xem đó như là “ cứu cánh của đời người”.

Trong Phần Thứ Hai, “Tâm Linh và Chính Trị”, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma khảo sát tỉ mỉ về vai trò của lòng từ ái và xem đó như là nền tảng cho một xã hội có đạo lý. Cùng với sự tu dưỡng hạnh nhẫn nhục, lòng từ  ái tạo ra một bối cảnh hài hoà cho nền giáo dục khoa học kỹ thuật đi đôi với đạo đức học. Áp dụng vào lãnh vực nhân quyền trên bình diện quốc tế, những phẩm chất tốt đẹp của từ bi và nhẫn nhục có thể  được kết hợp với việc thực hành tinh thần bất bạo động trên căn bãn của lòng nhân đức và vị tha. Những thái độ này là một cách thế giải trừ mầm móngï cạnh tranh độc hại hiện nay, hậu qủa của sự tích lũy những cái nhìn thiển cận.

Trong Phần Thứ Ba, “Bất Bạo Ðộng: Một Tâm Gương Ðể Noi Theo“, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thảo luận một cách thẳng thắn cùng chúng ta về những bài học được rút ra từ lịch sử đau thương của quốc gia Tây Tạng, tương lai của quốc gia này trong mối quan hệ với Trung quốc, cũng như những đổi thay trong vai trò của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma.  Là một nhà tư duy luôn luôn mang tinh thần độc lập, Ngài cũng đề cập đến khả năng có thể có một vị nữ Ðạt Lai Lạt Ma trong tương lai, và phát biểu về vấn đề này một cách giản đơn: “Không có trở ngại nào trên mặt lý thuyết”. Liên quan đến những khát vọng đấu tranh vũ trang dành độc lập mà giới trẻ Tây Tạng đang bày tỏ hiện nay, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã tỏ ra thông cảm những tình cảm bức xúc của họ nhưng đồng thời cũng lên tiếng cảnh giác chống lại thái độ bạo động. Phần này được kết thúc bàng bài thơ “Ngôn Ðế” do Ðức Ðạt Lai Lạt Ma sáng tác như một lời nguyện cầu chấm dứt những đau thương, thống khổ của đất nước Tây Tạng.

Trong Phần Thứ Tư, “Vượt Khỏi Giáo Ðiều,” Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã phác thảo một phương thức tiếp cận với cái mà chúng tôi tạm gọi là “Chủ thuyết tâm linh hoàn vũ”, đồng thời đề nghị một số phương thức giúp chúng ta cảnh giác chống lại sự cám dỗ của hình thức tôn giáo kinh viện mang tính xơ cứng, giáo điều, thường là mảnh đất ươm mầm tinh thần bất khoan dung trong tôn giáo. Trong khi nhấn mạnh đến tính cách quan quan trọng của sự hoà đồng tôn giáo, Ngài đồng thời cũng nêu rõ rằng mỗi tôn giáo đều có nét độc đáo riêng, những phẩm chất đặc biệt của nó. Như vậy tất cả mọi truyền thống tôn giáo đều có cùng chung một mục tiêu, đó là mang niềm hạnh phúc chân thật đến cho con người. Vấn đề là làm thế nào  để ta có thể sống một cuộc sống hạnh phúc vượt qua khỏi giáo điều ràng buộc? “Bạn phải luôn luôn giữ cho tâm hồn mình hạnh phúc và biết mĩm cười!“

Phần Thứ Năm, “Duyên Khởi và Tánh Không,” chứa đựng những quán chiếu tinh tế và khoa học mà các nhà khoa học và triết gia đã chất vấn Ngài trong các cuộc trao đổi, gặp gỡ. Trong phần này Ngài đã vận dụng nguồn mạch phong phú của triết học và luận lý học Phật giáo, cùng với những kiến thức đáng kể của Ngài về khoa học kỹ thuật Tây phương, để soi chiếu vào tận cùng các bí ẩn của kiếp nhân sinh và vũ trụ. Ði đến cốt lõi của vấn đề, các nhà vật lý lượng tử và Phật tử cùng đồng ý với nhau rằng, thực tại là nghịch lý. Nhưng làm thế nào để các nguyên lý của vật lý học cùng với những tuệ giác bí truyền của các nhà du già có thể bổ túc cho nhau và bằng cách nào thức giác trở thành phần cấu trúc cơ bản của vũ trụ?

Bằng những quán sát được rút ra một cách chọn lọc từ giáo lý căn bản của Phật giáo, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma cũng giải thích cho chúng ta làm thế nào mà những năng lực của trùng trùng duyên khởi chính là sự hiển lộ của trí tuệ sâu sắc không còn bị giới hạn, thành kiến trói buộc. Như thế, điểm cốt lõi nhất của bí mật giáo truyền, là pháp vượt ra ngoài mọi giáo điều, học thuyết, pháp không là thực thể để có thể được tàng trữ, cất giữ. Quả là tin mừng. Một tâm thức hoàn toàn rộng mở giúp chúng ta lý do để hy vọng, không cần biết bao nhiêu lần chúng ta bị tách rời khỏi nguồn linh quang trong suốt, tri kiến về nó vẫn luôn luôn hiện hữu. Nguồn linh quang này chính là nhịp đập tuôn chảy không ngừng như một biểu hiện của lòng từ ái. Nó hiện hữu trong tất cả mọi dạng của đời sống, trong mọi tâm hồn mà các triết gia, nhà khoa học, thánh nhân đều có thể nhận biết được.

Vượt Khỏi Giáo Ðiều chứa đựng một thông điệp phổ quát. Trong thời buổi đói khát tinh thần này, những cuộc đối thoại, những bài nói chuyện của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, một con người mà mối quan tâm chính là muốn rao truyền thông điệp của lòng hy vọng và từ ái, giúp cho ta cảm giác như được vỗ về, nuôi dưỡng. Là một người giàu óc khôi hài tế nhị, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã cống hiến trọn cả đời mình để mang lại an ủi, hiểu biết cho bất cứ ai muốn tìm kiếm một cuộc sống mãn nguyện và hạnh phúc.

Steven D. Goodman
Institute of  Buddhist Studies
Berkley, California
May, 1996

[MUCLUC] [CH1] [CH2] [CH3] [CH4] [CH5] [BUD411]

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Thần đồng tiên tri Ấn Độ tiết lộ: Tháng 12 đại nạn đang chờ nhân loại

Thần đồng tiên tri Ấn Độ tiết lộ: Tháng 12 đại nạn đang chờ nhân loại

San San | ĐKN 28/07/2020 35,076 lượt xem
Cậu bé Ấn Độ tiên tri tháng 7: Cuối năm 2020 xảy ra nạn lớn, kêu gọi mọi người giúp đỡ người yếu thế
Ảnh: Đại Kỷ Nguyên Tổng hợp
Ngày 12/7 gần đây, cậu bé chiêm tinh Ấn Độ Abhigya Anand đã đưa ra những dự đoán mới nhất của mình về những biến động sẽ xảy ra trong tương lai. Cậu cho biết, tình hình xung đột giữa Ấn Độ và Trung Quốc không phát sinh leo thang, tuy nhiên thời điểm cuối năm thảm họa sẽ liên tiếp xảy ra như chiến tranh trên quy mô lớn, ôn dịch hoành hành hoặc nền kinh tế rơi vào khủng hoảng. Cậu cũng khuyên mọi người chuẩn bị tinh thần trước, hơn nữa cậu cũng hy vọng mọi người có thể cùng nhau bảo vệ nhóm người chịu ảnh hưởng nặng nề trong thảm họa. 

Cậu bé Abhigya Anand mới 14 tuổi. Năm ngoái cậu đã sử dụng thuật chiêm tinh để dự đoán sự bùng phát của dịch bệnh viêm phổi Vũ Hán hay COVID-19. Sau khi đăng tải lời tiên đoán lên Youtube, chỉ trong thời gian ngắn video của cậu đã thu hút sự chú ý của đông đảo dư luận. Trong video, cậu không ngừng đưa ra những dự đoán về những gì sẽ xảy ra trong tương lai.

Trong video mới đây, Abhigya Anand tin rằng cuộc xung đột phát sinh giữa Ấn Độ và Trung Quốc chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn liền chấm dứt và sẽ không leo thang thêm. Hơn nữa, tình hình dịch bệnh trong thời gian này đã có dấu hiệu chuyển biến tốt đẹp. Cậu nói: “Tôi nói rằng mọi thứ sẽ trở nên tốt hơn, nhưng điều đó không có nghĩa là mọi người có thể tụ họp ăn mừng. Thực tế thì tình hình dịch bệnh đang từng bước giảm bớt và dần hồi phục. Những thứ làm tổn thương nhân loại trong thời gian qua sẽ không tự nhiên biến mất trong vài phút”.

“Những gì tôi được biết là tới tháng 12 mới có chiến tranh. Nếu trong thời điểm đó có phát sinh bất kể sự việc gì, nó không giới hạn ở Ấn Độ và Trung Quốc hoặc chỉ liên quan đến hai quốc gia này. Theo nhìn nhận của tôi, đây là sự việc diễn ra trên toàn cầu”.

Anand nhấn mạnh rằng, thời điểm cuối năm là lúc sao Mộc và sao Thổ tiến lại gần với nhau nhất. Điều này cho thấy lúc đó sẽ có tai nạn rất lớn phát sinh. Anand nói: “Xin nhớ kỹ lời nói này của tôi: Bắt đầu từ ngày 20/12/2020, thực tế thì từ 20/11/2020, sao Mộc tiến vào cung Ma Kết, tiếp theo là điều nguy hiểm lớn hơn sẽ xảy ra”.

Cung Ma Kết được vẽ bằng các đường chòm sao có thể nhìn thấy được bằng mắt thường (ảnh: Till Credner / AlltheSky.com, CC BY-SA 3.0).

Anand cho biết, các cuốn sách chiêm tinh cổ đại ghi chép rất rõ ràng. “Khi Sao Mộc và Sao Thổ đi vào cùng một chòm sao, lúc (hai hành tinh sẽ ở gần nhau nhất vào ngày 21/12, chúng dường như chỉ cách nhau 6 phân). Thời điểm này rất có thể sẽ phát sinh một trong các sự kiện như bệnh dịch tả, nạn đói, tử vong, ôn dịch… Đây là sự việc quan trọng nhất”.

Abhigya Anand cũng nói rằng, video về tiên đoán của cậu bị Youtube xóa 2 lần. Anand chia sẻ: “Nội dung video không có vấn đề gì. Tôi chỉ nói lên sự thật, đây là chuyện sắp xảy ra. Tôi nhắc lại lần nữa, tại thời điểm này rất có thể phát sinh bất cứ chuyện gì, có thể là chiến tranh, cũng có thể là nền kinh tế sụp đổ, cũng có thể là một thảm họa nặng nề khác, rất có thể liên quan đến sức khỏe của hàng trăm triệu người, sự việc này rất có khả năng sẽ xảy ra. Thậm chí xa hơn nữa, từ 20/12 đến tháng 3 năm sau (tức năm 2021), đặc biệt là vào thời điểm tháng 2 cần phải cẩn thận, vì có rất nhiều ngôi sao tụ lại một chỗ”.

Nói về thảm họa sắp xảy ra này, Anand kêu gọi mọi người chú ý giúp đỡ nhiều hơn nữa đối với những nhóm người chịu nhận tổn thương trong dịch bệnh. Cậu nói: “Tất cả chúng ta phải làm hết sức mình để giúp đỡ người nghèo có thu nhập thấp, cần phải trợ giúp họ. Mỗi người chúng ta đều có cơ hội đưa tay ra để giúp đỡ. Họ đang cố gắng hết sức để sống sót, vì vậy mỗi người đều nên ủng hộ họ, có như thế chúng ta mới có thể phục hồi nền kinh tế thế giới”.

Ngoài ra, cậu cũng kêu gọi người dân của tất cả các nước cần bình tĩnh, không bị chính quyền và giới truyền thông thao túng, đối xử với nhau một cách hòa bình và lý tính. Cậu nói: “Chúng ta đều là một phần tử của nhân loại, vì vậy chúng ta cần phải từ bi với nhau, đồng thời yêu thương cả sinh vật khác vì chúng đều là Chúa sáng tạo ra”.

“Cho dù bạn đọc loại kinh sách nào, dù là Hồi giáo, Kitô giáo hay Ấn Độ giáo, không tôn giáo nào thúc đẩy bạo lực, bởi vì bạo lực là mặt tiêu cực trong suy nghĩ của con người. Tất cả tôn giáo đó đều ủng hộ hòa bình. Đây là điểm mấu chốt giúp cộng đồng sống không bạo lực, để cho chúng ta cùng nhau đón nhận”.

Theo Sound Of Hope
San San biên dịch

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Nỗi nhục nhã, nhức nhối đến muôn đời ?

Nỗi nhục nhã, nhức nhối đến muôn đời

Dương Tự Lập

25-7-2020

Khi thế hệ tôi ra đời, cũng là lúc ông cố thủ tướng Phạm Văn Đồng của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã vừa dâng Công Hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 cho Trung Cộng.

Công Hàm này trả lời đồng ý với Công Hàm của phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố, do cố Thủ tướng đương nhiệm khi đó là Tổng lý Quốc vụ viện Chu Ân Lai, gửi Việt Nam trước đó mười ngày, vào ngày 4/9/1958, về vấn đề chủ quyền 12 hải lý, thuộc quyền sở hữu của Trung Quốc ngoài biển Đông. Vùng biển có chung với nhiều nước Đông Nam Á.

Suốt thời đi học hết cấp phổ thông, khi vào môn học địa lý, chúng tôi không hề được nghe thầy cô giáo nào giảng dạy hay nói gì về đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngoài biển Đông của quê hương Việt Nam mình. Mà trong sách học cũng không thấy viết về những đảo đó.

Tôi nhớ khoảng năm 1974-1975, trong sách địa lý cấp III mới, có in bài nói về những đảo này nhưng với tên gọi đã được phiên âm khác đi, lại nói là của Trung Quốc. Sách giáo khoa của Bộ Giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa in thế này: “Chuỗi đảo từ Nam Sa và Tây Sa đến Hải Nam, Đài Loan, Bành Hồ, Chu San tạo thành hình giống như một cây cung và cấu thành nên bức tường vĩ đại bao quanh lục địa Trung Hoa“.

Thậm chí năm 1974, khi Trung Quốc cướp mất Hoàng Sa từ tay những người lính Việt Nam Cộng hòa, người dân cũng chẳng được biết. Rồi đến năm 1988 bọn Trung Quốc cướp trắng bãi Gạc Ma cũng có người dân nào được biết đâu. Mãi sau này mới biết Nam Sa (Nansha) ta gọi là Trường Sa, Tây Sa (Xisha) là Hoàng Sa.

Sự thật chỉ vào khoảng hơn mười năm trở lại đây vấn đề biển đảo giữa ta và Tàu ngày càng nóng lên bởi bọn giặc Trung Quốc gây hấn, leo thang, lấn chiếm mở rộng, lộng hành tác oai tác quái, tự ra luật lệ cấm đoán ngang ngược ngoài biển Đông. Chúng cắt cáp, đâm chìm Tàu, cướp bóc, bắn giết ngư dân. Các hợp đồng khai thác dầu khí với đối tác của Việt Nam bị nghiêm cấm, có hợp đồng đã ký đành phải bỏ dở gây thiệt hại lên đến nhiều tỷ USD. Chúng coi thường tiếng nói của Bộ Ngoại giao, coi khinh lãnh đạo chóp bu Đảng Cộng sản Việt Nam, người dân nước Việt căm phẫn thấy bị tổn thương xúc phạm nặng nề.

Trước nguy cơ nước mất, nhà tan, người dân từ Bắc chí Nam cùng xuống đường biểu tình, phản đối giặc Trung Quốc. Thế nhưng, hành động yêu nước của họ đã bị liệt vào “thế lực thù địch”, những kẻ phản động, hành vi phản quốc. Bọn công an, côn đồ đã đàn áp, đánh đập nhiều người một cách dã man tàn bạo, những chiếc giầy đế cứng đạp thẳng vào mặt, những cú đấm, roi điện quật thẳng vào đầu, có người được đưa vào viện thì chết, có người bị thương tật tàn phế cả đời.

Cũng may, gần hai mươi năm nay nhờ có hệ thống Internet nên giới cầm quyền lãnh đạo không thể bưng bít, bịp bợm được dân ta, chứ nếu không thì những Vân Đồn (Quảng Ninh) Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) Phú Quốc (Kiên Giang) đã rơi vào tay bọn Trung Quốc cả rồi.

Đại họa mất nước không thể tránh khỏi. Tháng 7 năm 2011 báo Đại Đoàn Kết, cơ quan ngôn luận của Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam lên tiếng phản bác hành vi ngang ngược của Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền mới có một tờ báo chính thống dám ra mặt phản đối.

Hai mươi lăm năm trước, khi có dịp đi qua các nước như Pháp, Hà Lan, Ý, Áo, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… Tôi thường hay nhờ người quen đưa vào các thư viện lớn để tìm xem những quyển sách hội họa tôi cần, những cuốn từ điển Bách khoa toàn thư (Encyclopaedia) để tra cứu, bổ sung thêm một số sự kiện trong công việc đang làm của mình.

Tôi thấy có cuốn từ điển trước năm 1975. Sở dĩ tôi nói trước năm 1975 là vì ở nước ngoài những cuốn Bách khoa toàn thư này cứ vài ba năm người ta lại tái bản và bổ sung thêm vào sách các nhân vật, sự kiện nổi tiếng mới của thế giới xảy ra nên nó có rất nhiều tập dầy đồ sộ. Sau này khi chính thức định cư ở Đức, tôi có vài lần tới thư viện lớn nhất của thành phố Munich, nằm ở 16 Ludwig Straß, cũng tìm thấy cuốn Bách khoa toàn thư, tiếng Đức gọi (Lexikon). Cuốn trước năm 1975 này có in và nói giống như các cuốn tôi đã thấy ở các nước tôi qua.

Năm 1954, ông Hồ Chí Minh làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc. Ông Ngô Đình Diệm làm Tổng thống nước Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam. Bắc Việt và Nam Việt (North Vietnam – South Vietnam) đều có cờ của hai quốc gia, tương tự như Bắc Hàn và Nam Hàn, hay Đông Đức và Tây Đức.

Thực tế, khi đó nhiều nước trên thế giới đã thừa nhận sự tồn tại song song của hai tiếng nói Bắc Việt và Nam Việt. Ở mục biển đảo thì vùng biển Đông ghi: South China Sea có nghĩa là vùng biển Nam Trung Quốc, không thấy ghi đảo. Chỉ có những cuốn sách sau năm 1975 in hình bản đồ thế giới có ghi chú thêm Paracel Islands South China Sea mà dịch ra là đảo Hoàng Sa nằm ở biển Nam Trung Quốc. Nói như vậy cũng chưa chính xác bởi vì vùng biển này ngoài Trung Quốc, Việt Nam, còn có các nước Đông Nam Á khác như Đài Loan, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei…

Khi Hiệp định Genève (Thụy Sĩ) năm 1954 chia cắt Việt Nam thành hai quốc gia riêng biệt, lấy danh giới từ vĩ tuyến 17, thì rõ ràng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nằm dưới vĩ tuyến 17 thuộc phía Việt Nam Cộng hòa quản lý, trên thực tế họ vẫn trấn giữ tới năm 1974 thì bị Tàu cộng cướp mất. Vậy hà cớ gì ông Thủ tướng Phạm Văn Đồng đồng ý cái không phải của mình, đem dâng cho kẻ khác?

Như vậy đây là một chuyện phi lý, không thể chấp nhận bởi thằng xin là một thằng xin đểu (Trung Quốc), còn kẻ cho là một kẻ gian tà (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Chẳng trách một chuyện quốc gia đại sự như vậy mà chỉ sau mười ngày đã đồng ý gật đầu cho giặc.

Mặc dù Công hàm phía Trung Quốc ra điều kiện mười hai hải lý nghe tưởng đơn giản, nhưng trong đó cái không đơn giản là nó có ghi tên các hòn đảo lẫn lộn tiếng Hán-Việt, tiếng Anh, phiên âm lằng nhà lằng nhằng, rối tinh rối mù, chỉ nhằm mục đích ngụy tạo, lừa đảo đối phương như Penghu (Bành Hồ), Dongsha (Đông Sa), Xisha (Tây Sa), Zhongsha (Trung Sa), Nansha (Nam Sa)… Lẽ nào đầu mấy ông Cộng sản Bắc Việt nhà ta thời đó khi đọc bức Công hàm của Trung Quốc ra điều kiện lại ngu muội thế sao? Các ông ấy rất thông chữ Hán thì làm sao mà bị lừa được?

Tôi muốn nêu lên ở đây một bằng chứng mà ai cũng thấy rõ là ông Hồ chủ tịch từng viết cuốn thơ: Nhật Ký Trong Tù (Ngục Trung Nhật Ký) hoàn toàn bằng chữ Hán. Thậm chí khi ra tù ông vẫn có những bài thơ, câu thơ trong đó nếu giấu tên ông thì ta cứ ngỡ thơ của các nhà thơ Trung Hoa cổ: “Bồi hồi độc bộ Tây Phong Lĩnh / Dao vọng Nam thiên ức cố nhân – Bùi ngùi dạo đỉnh Tây Phong / Trông về cố quốc chạnh lòng nhớ ai“.

Trang đầu trong cuốn thơ Nhật Ký Trong Tù của ông Hồ Chí Minh. Ảnh trên mạng

Các hình ảnh tư liệu lưu giữ về ông Mao khi tiếp kiến với ông Hồ tại Bắc Kinh đều không cần thông qua phiên dịch. Thế hệ đàn em ông Hồ như cựu Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh ở Mật ước Thành Đô – Trung Quốc 1990 trở về nước còn cảm khái được mấy câu thơ chữ Hán: “Huynh đệ chi giao sổ đại truyền / Oán hận khuynh khắc hóa vân yên / Tái tương phùng thời tiếu nhan triển / Thiên niên tình nghị hựu trùng kiến“. Dịch: “Anh em chơi với nhau đã mấy thế hệ / Oán hận trong khoảnh khắc đã biến thành mây khói / Khi gặp lại nhau cười rạng rỡ / Tình nghĩa ngàn năm lại dựng xây“.

Những hình ảnh Mao Trạch Đông tiếp Hồ Chí Minh được đăng trên mạng tiếng Trung và tiếng Việt

Đoạn thơ này rút trong Hồi ký của Trương Đức Duy, cựu Đại sứ Trung Cộng tại Hà Nội dưới thời ông Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Duy chính là kẻ đi đêm, môi giới cho tướng độc nhãn Lê Đức Anh, dẫn đến gian manh Thành Đô – Trung Quốc. Chứng tỏ thế hệ đi theo ông Hồ là thế hệ thân Hán và am tường chữ Hán. Không vì lý do gì mà không am hiểu bức Công hàm ma quỷ của giặc Tàu yêu cầu. Đặt trường hợp bí bách nhất các ông vẫn có thể cho gọi được phiên dịch tới làm rõ nội dung bức Công hàm trước khi ký.

Vấn đề ta hiểu ở đây mục tiêu lẫn ý tưởng của mấy ông chóp bu Cộng sản nhà ta lúc đó chỉ tập chung vào việc lật đổ Quốc gia Việt Nam Cộng hòa của chế độ Ngô Đình Diệm và đánh đuổi đế quốc Mỹ “xâm lược” tiếp theo. Chuyện biển đảo chỉ là vặt vãnh, hơn nữa giới lãnh đạo nước Việt khi ấy rất tin tưởng tuyệt đối vào lòng hảo tâm hữu nghị của người anh cả Trung Quốc.

Từ ông Hoàng Tùng, Tổng biên tập báo Nhân Dân; tới ông Lê Đức Thọ, trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng. Từ Chủ tịch nước Trường Chinh, đến Tổng Bí thư Lê Duẩn, đi tới đâu nói chuyện cũng vui mừng giáo huấn một điều rằng nước bạn vĩ đại Trung Hoa lấy được đảo Hoàng Sa của “bọn ngụy quân ngụy quyền” Sài Gòn, sau này họ sẽ trao trả lại cho chúng ta, ta cứ yên tâm như thế đi. Nhiều ngàn năm chứ không phải nhiều trăm năm, nước Việt triền miên bị bọn giặc Trung Quốc chơi cho sát ván nhưng chỉ đến thế hệ Cộng sản của ông Hồ Chí Minh dựng lên, mới cứ u u mê mê bọn Bắc Kinh như những con nghiện thuốc phiện.

Trong các sách học phổ thông của Trung Quốc từ xưa tới nay học sinh đều được giảng dạy về hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa là của Trung Quốc cho trò học rất đỗi tự hào, thì ở Việt Nam việc đó lại quá mờ nhạt trong trường học. Tôi biết, bởi tôi làm cùng với thằng bạn người Tàu Quách Gia Lưu hơn tôi hai tuổi. Hồi mới chơi, khi tranh luận chuyện biển đảo thuộc Việt Nam, hai đứa suýt choảng nhau, không ngờ cái máu dân tộc đại Hán trong nó mà ghê đến vậy. Nó thường kể về tuổi thơ của nó mà tôi nghe cứ như tuổi thơ của tôi. Nó kể chuyện đất nước nó mà tôi nghe cứ như chuyện đất nước mình.

Có lần, Quách Gia Lưu hát bài hát tiếng Trung: Bài ca hữu nghị Việt Nam – Trung Hoa của nhạc sĩ Đỗ Nhuận “Việt Nam Trung Hoa / Núi liền núi, sông liền sông / Chung một biển Đông mối tình hữu nghị sáng như rạng đông” rồi hỏi lại tôi: Mày có biết bài này không? Tôi lắc đầu. Nó cười bảo tôi nói dối. Những bài viết của chúng mày ngợi ca đất nước Trung Hoa của bọn tao đều được nước tao dịch ra tiếng Anh để cho thế giới biết rằng chính phủ nước tao đối xử với chính phủ nước Việt Nam mày tốt đẹp đến chừng nào, thì người dân chúng mày mới ca ngợi chúng tao hết lời đến như vây. Tôi càng hiểu thêm dã tâm thâm độc của giặc Tàu mà không lúc nào bọn chúng không nghĩ đến chuyện ăn sống nuốt tươi nước Việt của ta.

Thời Cộng sản Việt Nam thật lạ lùng, cứ hễ bất kỳ chuyện tày trời xảy ra đều né tránh nói tên lãnh tụ Hồ chủ tịch trong đó, như vụ Cải cách ruộng đất năm 1953, họ đem bà Nguyễn Thị Năm, người phụ nữ đầu tiên ra giết hại tàn bạo. Bà là người nhân hậu, mang tiếng địa chủ nhưng có nhiều đóng góp lớn lao cho Cộng sản Việt Nam thời kỳ tiền khởi nghĩa. Hay vụ án Văn học Nhân văn – Giai phẩm 1958. Vụ án Xét lại chống Đảng 1967… cũng vậy.

Khi ông thủ tướng Phạm Văn Đồng ký công hàm trả lời Chu Ân Lai năm 1958 thì ta hiểu ông Hồ còn khỏe mạnh và minh mẫn lắm. Mỗi độ xuân về ông vẫn làm thơ chúc tết đồng bào miền Bắc tới năm 1969. Ông Đồng không thể tự quyền làm được chuyện này. Ở đây ta còn hiểu thế hệ ông Đồng là thế hệ trực tiếp do chính ông Hồ đào tạo mà ông Đồng đặc biệt hơn những kẻ khác ở chỗ, ông luôn là người được ông Hồ tin cậy, gần gũi. Kể cả khi đi dự Hội nghị Fontainebleau ở Pháp năm 1946, ông Hồ cũng cho ông Đồng theo hầu.

Thời ông Tổng – Chủ Nguyễn Phú Trọng cũng vậy. Vụ ký cho thành lập nhà máy Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh tàn phá hủy hoại môi trường miền Trung; vụ cướp đất của dân Thủ Thiêm – Sài Gòn kéo dài hàng chục năm; vụ công an tấn công trấn áp cướp đất dân Đồng Tâm – Hà Nội, bắn chết đồng chí Đảng viên lão thành cách mạng Lê Đình Kình… Nhưng trên hết là biên giới phía Bắc nước Việt, tới các hòn đảo lớn nhỏ ngoài biển Đông, hay Bãi Tư Chính những năm sau này cứ ngày một mất dần vào tay bọn cướp Bắc Kinh mà vẫn phải nín im thin thít… lỗi đều đẩy cho kẻ khác, chứ ông Trọng thì vô can.

Nước Mỹ lúc xảy ra vụ khủng bố Al – Qaeda đánh sập tòa nhà tháp đôi Trung tâm Thương mại thế giới năm 2001 tại New York. Ngay sau vụ việc, dân biểu Mỹ đòi Tổng thống đương nhiệm George W. Bush phải ra điều trần trước Quốc hội và người dân Mỹ, chứ không được đùn đẩy cho ai, kể cả không được đùn đẩy trách nhiệm cho Bộ trưởng Quốc phòng Donald Henry Rumsfeld dưới thời ông Bush khi đó.

Năm 1958, khi ông Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký Công hàm đồng ý với Công hàm phía Trung Quốc trao. Trên ông còn có ông Hồ Chủ tịch, thế thì dân cứ xúm vào chửi rủa ông Đồng là sao: Cũng như ngày nay vụ Formosa – Hà Tĩnh gây ô nhiễm khí hậu cùng cá chết suốt các tỉnh vùng biển miền Trung, dân chỉ biết nguyền rủa Võ Kim Cự, nhưng nếu không có sự đồng ý của các lãnh đạo cấp cao hơn, liệu Cự có rước Formosa vào được không?

Công hàm của ông cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đồng ý với yêu sách Trung Quốc đưa ra, là vô cùng phi lý mà ai cũng thấy. Đủ tư cách pháp lý nói chuyện này lúc đó chỉ duy nhất thuộc quyền của quốc gia Việt Nam Cộng hòa mà thôi. Nhưng ngay sau khi có chữ ký xác nhận của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lập tức phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa lưu giữ, sao chụp, gửi lên Liên Hiệp quốc như một bằng chứng hùng hồn và họ luôn lặp đi lặp lại Công hàm này mỗi dịp có cơ hội đứng trên các diễn đàn quốc tế suốt 60 năm qua. Nhất là những lúc cơm chẳng lành canh chẳng ngọt với Việt Nam hoặc Việt Nam trở mặt, ăn cháo đá bát với người anh cầm lái vĩ đại phương Bắc.

Trong khi đó phía đảng Cộng sản Việt Nam viện cớ đưa ra những lời nói suông đối với người dân Việt, lý lẽ yếu ớt không thể chấp nhận, rằng đây là bức Công hàm vô giá trị, nó chỉ có tính chất ngoại giao chứ không có giá trị pháp lý. Rằng ta chỉ chấp nhận mười hai hải lý chứ không có Hoàng Sa, Trường Sa nào trong đấy, rằng khi đó ta chủ trương thống nhất đất nước nên lùi bước tạm ký cho yên chuyện để sau này tính tiếp. Rằng lịch sử Việt Nam thời nhà Lê thế kỷ 15 đã có ghi chép về hai quần đảo này. Đến thời vua Gia Long cũng đã chính thức thu nhận quần đảo Hoàng Sa, vào năm 1816, khi người Pháp đặt nền bảo hộ trên toàn cõi Đông Dương…

Mao Trạch Đông (giữa) tiếp Phạm Văn Đồng (trái) và Lê Thanh Nghị tháng 1/1961. Nguồn: ChinaFotoPress

Còn ở tại các diễn đàn Quốc tế thế giới hay Hội nghị Thượng đỉnh châu Á – Thái Bình Dương, như hội nghị cấp cao an ninh châu Á – Đối thoại Shangri La ở Singapore, phía Việt Nam ngồi im thin thít mỗi khi phía Trung Quốc hay nước nào đó nhắc tới tình hình biển Đông. Hoặc phía Việt Nam lên phát biểu cũng tránh không dám nói đến tên Trung Quốc. Hay các cuộc họp giữa hai nước Việt – Trung, dù song phương hay đa phương, phía Trung Quốc nói thẳng Hoàng Sa là của họ thì các tướng lĩnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam cũng ngồi câm họng, kết thúc hội họp còn vỗ tay ầm ầm.

Những năm tháng này, nước Mỹ và châu Âu, hàng loạt các trường đại học trên thế giới, hay tại Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan, Pháp, Bỉ… đã cấm mở thêm và bắt đóng cửa các Viện Khổng Tử đã mở, vì họ phát hiện ra mưu đồ chính trị của Trung Quốc sẽ dùng thế hệ trẻ can dự vào chính trường các nước sở tại. Đại dịch cúm virus corona bùng phát từ ổ bệnh Vũ Hán – Trung Quốc đầu năm 2020 gây cho thế giới thiệt hại về người và của. Cả thế giới căm phẫn, tẩy chay Trung Cộng.

Viện Khổng Tử ở Đại học Stockholm, Thụy Điển, là viện đầu tiên của châu Âu đã bị đóng cửa năm 2015. Ảnh: Ui.se/ Viet Times

Đảng CSVN đã sợ hãi, im tiếng sáu mươi năm qua. Đây sẽ là cơ hội cuối cùng cho họ sám hối trước cha ông, tổ tiên và dân tộc mình. Cơ hội đưa bọn Cộng sản Trung Quốc ra tòa án Quốc tế về tranh chấp biển đảo, rạch ròi về bức Công hàm phi lý của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng phải được quyết định, phân giải rõ ràng. Người ta không thể cho ai cái gì khi mà cái đó không phải của mình, càng không thể cho ai khi mà cái đó không có trong tay mình, thuộc quyền mình.

Nếu thực sự như Đảng Cộng sản Việt Nam tự sướng huênh hoang tuyên bố “có đầy đủ cơ sở pháp lý chủ quyền” thì hà cớ gì phải sợ, hà cớ gì không phanh phui trước công luận và nhân dân thế giới về hành động ăn cướp la làng của bè lũ Bành trướng Bắc Kinh? Dẫu biết nếu xảy ra chiến tranh dù phe nào thắng lợi thì kẻ thiệt hại mất mát lớn nhất vẫn là nhân dân. Song đối với bọn cướp nước Trung Cộng, nhân dân Việt Nam quyết không sợ như chưa hề sợ hãi hơn bốn ngàn năm chứ không phải bây giờ.

Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam hèn hạ, luôn tìm cách tranh giành quyền lực, chém giết nội bộ, đàn áp, cướp bóc dân lành, né tránh viện hết cớ này, lấy lý do kia để bao biện sự đốn mạt của mình. Lịch sử giữ nước của ông cha chưa có thời kỳ nào nhục nhã làm mất nhiều đất đai biển đảo vào tay Trung Quốc như thời Cộng sản nắm quyền. Dân Việt đã nghe quá nhàm tai hàng chục năm nay những từ ngữ cũ rích lặp đi lặp lại mà đài báo Đảng, cũng như Bộ Ngoại giao Việt Nam lải nhải:

– Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý chủ quyền về hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

– Việt Nam phản đối Trung Quốc về yêu sách biển Đông.

– Việt Nam lấy làm quan ngại trước tình hình diễn biến ngày một phức tạp tại biển Đông.

– Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi Công hàm cho Bộ Ngoại giao Trung Quốc phản đối Tàu Trung Quốc xâm phạm lãnh hải và đâm chìm tàu ngư dân Việt Nam.

– Trung Quốc nên tôn trọng Công ước về Luật biển Quốc tế năm 1982…

Suốt ngày đảng Cộng sản Việt Nam chỉ dám lèm bèm ở trong nước, chứ ngoài nước, đố dám động đến Trung Quốc. Chẳng thế, trong đất liền, từ Đảng, Chính phủ, Nhà nước, Quốc hội Việt Nam hết tháng này đến năm khác, từng đoàn lũ lượt kéo nhau sang thăm viếng Bắc Kinh, ngược lại trên biên giới và ngoài biển Đông bọn Trung Cộng dùng chiến thuật bóc lá cải, cứ từ từ bóc dần bóc dần, gặm nhấm từng nắm đất hòn đá. Tình hữu nghị kiểu trò hề ma bùn ma mãnh, chó vờn chuột này thì trên thế giới chắc chỉ có hai quốc gia Cộng sản Trung – Việt mà thôi.

Thời gian mấy năm trở lại đây có một số phần tử phản động, thế lực thù địch, trong cũng như ngoài nước với ý đồ gian manh, đổi chữ Công hàm Phạm Văn Đồng thành chữ Công thư nghe cho nhẹ tội hơn. Người ta phát hiện ra chữ Công thư đầu tiên được phun ra từ mồm ông Lê Hải Bình, kẻ phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, trả lời báo chí vào tháng 5/2014, đỉnh điểm cả nước xuống đường chống Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 hạ vào hải phận Việt Nam. Chưa biết nhẹ tội ở đâu chứ phá hỏng tiếng Việt thì quá rõ, xảo ngữ tùy tiện, ngôn từ bừa bãi.

Bài báo đăng tháng 3/1988, Bộ Ngoại giao VN dùng cụm từ “công hàm” gửi phía Trung Quốc

Tôi đố ai tìm được chữ “Công thư” trong bất cứ cuốn Từ điển Tiếng Việt nào từ trước tới nay đã được in ấn tái bản phát hành. Với sự hiện đại ngày nay dám đố ai vào Google tra ra được chữ Công thư. Nếu có từ này ở bài viết nào đó thì hẳn cũng phải liệt vào kẻ phá hỏng tiếng Việt, bởi với cái kiểu xỏ lá xỏ xiên như thế thì có lúc bọn chúng ngán gì không sửa đổi, gọi Di chúc Hồ Chủ tịch thành “Chúc thư” ông Hồ.

Tôi còn tìm ra thêm phần tử nỗ lực phá hoại tiếng Việt này chính là tay “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản” Hoàng Duy Hùng ở Mỹ, hắn từng là cựu đảng viên Đại Việt Quốc dân đảng, một tổ chức người Việt ở Mỹ, đã bị đảng này sa thải, cùng câu kết với các thành phần bất hảo trong nước để bóp méo từ “Công hàm” nguyên chữ quốc tế “Diplomatic note”. Hắn vỗ ngực xưng danh hắn là luật sư, nhưng chắc hắn khoác áo sư hổ mang hay sư quốc doanh, đã bị đảng CSVN chiêu dụ, dù trước kia hắn từng có lần về nước, mưu đồ lật đổ đảng CSVN nhưng bất thành. Mời xem clip:

Trên thế giới có người lúc sống đã rất nổi tiếng nhưng khi chết lại càng nổi tiếng hơn, đó là John F. Kennedy, vị Tổng thống Mỹ thứ 35, trẻ tuổi nhất trong các đời Tổng thống Mỹ. Ông bị ám sát chết, đã tốn kém không biết bao nhiêu giấy mực, viết về ông sau này, sau nữa, sau mãi, nhưng không nhục. Còn ở Việt Nam chuyện đó lại rơi vào thân phận ông cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, dù ông ta không bị ám sát như Kennedy, nhưng sống nhục, nhục tới hai lần.

Phạm Văn Đồng là một Thủ tướng già cỗi nhất, tai tiếng nhất, tại vị lâu nhất, tới hơn 32 năm. Tháng 9 năm 1958, khi đặt bút ký cam kết đồng ý với Công hàm phía Trung Quốc yêu cầu, đã là một nỗi nhục, mãi đến tháng 9 năm 1990 tức là 32 năm sau, ở tuổi 84, ông còn lọ mọ theo các đàn em Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, vác mặt sang Bắc Kinh nhúng chàm vào Mật ước Thành Đô, thêm một nỗi nhục nữa.

Một Thủ tướng gần kề miệng lỗ mới tự nhận ra mình dại dột (theo Hồi ký của thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Quang Cơ). Lần bị lừa sang Thành Đô – Trung Quốc với mong ước cuối đời được diễm phúc gặp mặt “đồng chí” Đặng Tiểu Bình kính mến như lời ông ta nhắn gửi với Đại sứ Trung Cộng Trương Đức Duy trước khi đến với Mật ước Thành Đô, Đặng có hứa cho gặp nhưng sau đó đã khinh thường lánh mặt.

Bức Công hàm mà ông Đồng để lại ngày nay nhục hơn nỗi nhục Cột đồng Mã Viện. Thực hư Cột đồng Mã Viện đã bị nhân dân chôn vùi từ lâu. Và cũng chính những vị vua anh minh đồng cam cộng khổ với nhân dân ta quyết rửa gột nỗi nhục này trên biển Đông bằng những trận chiến oanh liệt: Đằng Giang Tự Cổ Huyết Do Hồng, tức ‘Sông Bạch Đằng thuở trước máu thù còn loang’. Câu đối trên được sứ thần Giang Văn Minh, mấy thế kỷ trước đứng giữa cung đình Trung Hoa quát thẳng vào mặt lũ thiên triều Bắc Kinh, làm ông rơi đầu sau đó nhưng mãi rạng danh trong sử Việt nước nhà.

Nay muốn gột rửa, chôn vùi bức Công hàm của ông cố nội Phạm Văn Đồng, một chiến sĩ trung kiên, một đảng viên ưu tú, một Thủ tướng lẫn lú, thì duy chỉ có Đảng trưởng cùng đảng Cộng sản Việt Nam tâm huyết mới làm được việc này mà thôi và phải làm. Nếu không, sẽ còn tốn kém nhiều giấy mực để thế hệ các đời sau này phỉ bang, nguyền rủa bức Công hàm bán nước phi lý đểu cáng này. Chẳng những bị nguyền rủa mà nó còn là nỗi đau, nỗi nhục nhã nhức nhối đến muôn đời.

_____

Ghi chú: Tám ảnh sau đây được ông Nguyễn Việt Chiến chụp trong Từ điển Lexikon – Đức ở một thư viện bên Đức:

 

Bình Luận từ Facebook
Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Trận so găng kinh thiên động địa trên biển giữa TQ và Nhật Bản

Trận so găng kinh thiên động địa trên biển giữa TQ và Nhật Bản

Năm 1894 đã diễn ra cuộc chiến giữa hạm đội Bắc Dương của Trung Quốc với hạm đội Nhật Bản. Hạm đội Bắc Dương khi đó được coi là “mạnh nhất châu Á” và “mạnh thứ 8 trên thế giới”.

Thiết giáp hạm Định Viễn của Trung Quốc, kỳ hạm của hạm đội Bắc Dương

Nhưng kết quả, hạm đội Trung Quốc đã bị đánh đến mức không “ngóc đầu” lên được nữa.

Cuộc chạy đua song mã

Hạm đội Bắc Dương thành lập năm 1861. Đến năm 1871, 4 chiến thuyền từ các tỉnh phía Nam được tăng cường lên phía Bắc. Tuy nhiên, Bắc Dương vẫn bị xem là yếu nhất so với ba đoàn thủy quân khác của triều Mãn Thanh. Sau đó đại thần nhà Thanh là Lý Hồng Chương đã phân bổ phần lớn quỹ hải quân cho Bắc Dương. Hạm đội Bắc Dương được Lý Hồng Chương thí điểm xây dựng với chủ yếu là các thiết giáp hạm nhập khẩu từ Đức và Anh.

Năm 1881, Lý Hồng Chương đã đặt mua 2 thiết giáp hạm khổng lồ của Đức và đặt tên là “Định Viễn” và “Trấn Viễn”. Hai tàu này có lượng giãn nước hơn 7.300 tấn, lớn hơn rất nhiều so với các chiến hạm lớn nhất của Nhật thời đó. Ngoài ra, Lý Hồng Chương cũng đề xuất với vua Thanh để mua rất nhiều chiến hạm hàng nghìn tấn khác, biến hạm đội Bắc Dương thành lực lượng hải quân “lớn thứ 8 trên thế giới” và được xem là “mạnh nhất châu Á”.

Việc mua sắm vũ khí dừng lại vào năm 1891, khi ngân sách được chuyển sang xây dựng Di Hòa Viên ở Bắc Kinh theo yêu cầu của Từ Hy Thái hậu. Hậu cần cho hạm đội cũng gặp khó khăn lớn do việc xây dựng tuyến đường sắt Mãn Châu đã bị đình lại. Sĩ khí của hải quân Mãn Thanh nói chung rất thấp vì thiếu lương thực và tiền lương so với các lực lượng khác như bộ binh, kỵ binh.

Trong lúc đó, những cải cách dưới thời Thiên hoàng Minh Trị đã cho phép Nhật Bản có lực lượng quân đội thực sự hiện đại, góp phần không nhỏ trong “mộng ước” trở thành đế quốc của Nhật Bản. Đặc biệt, hải quân Nhật Bản đã được xây dựng theo hình mẫu của Anh, khi ấy là cường quốc hải quân hàng đầu thế giới. Các cố vấn người Anh được mời đến Nhật Bản để huấn luyện, cố vấn và giáo dục về tổ chức hải quân.

Đồng thời, các sinh viên Nhật được gửi đến Anh để học và nghiên cứu hải quân Hoàng gia Anh. Qua tập luyện và giảng dạy với các hướng dẫn viên của Anh, Nhật Bản đã xây dựng được một lực lượng hải quân rất thành thạo trong việc bắn đại bác và điều khiển tàu. Tuy nhiên, Nhật Bản cũng không đủ nguồn lực để có một chủ lực hạm, và vì vậy phải lên kế hoạch triển khai học thuyết “Jeune Ecole” (hạm đội nhỏ) với các tàu chiến nhỏ, chạy nhanh, đặc biệt là tuần dương hạm và tàu phóng lôi, chống lại các tàu chiến lớn.

Màn thua khó tưởng tượng

Để lấy lại uy danh của “thiên triều”, Trung Quốc cũng đã thị uy, có nhiều hành động thách thức Nhật Bản và quyền lợi của Nhật Bản trên bán đảo Triều Tiên. Mâu thuẫn của Trung Quốc và Nhật Bản lên đến đỉnh điểm vào tháng 6/1894, khi quân Mãn Thanh tràn vào Triều Tiên và Nhật Bản cũng đã đưa quân vào đất nước này tranh giành quyền lợi.

Tuy nhiên, quân Mãn Thanh nhanh chóng thất bại và bị tiêu diệt. Trên đà thắng lợi, Nhật Bản toan tính mở rộng chiến tranh sang cả lãnh thổ Trung Quốc, trước hết là bằng đường biển. Đầu tiên, tại trận Phong Đảo diễn ra vào ngày 25/7/1894 trong vịnh Asan của Triều Tiên, hai tàu của hạm đội Bắc Dương là Tế Viễn và tàu phóng ngư lôi Quảng Ất đã bị pháo kích bởi ba tuần dương hạm Nhật Bản là Akitsushima, Naniwa và Yoshino.

Cùng lúc đó, tàu Thao Giang và tàu vận tải Cao Thăng thuộc hạm đội Bắc Dương chở 1.200 lính Trung Quốc và hàng tiếp tế không may xuất hiện đúng vào trận đánh. Kết quả, tàu Tế Viễn chạy trốn, tàu phóng ngư lôi Quảng Ất, tàu vận tải Cao Thăng bị bắn chìm, tàu Thao Giang bị bắt giữ. Thương vong của Trung Quốc khoảng 1.100 quân, Nhật không mất người nào.

Sau chiến thắng này, Nhật Bản thành lập một hạm động mạnh gồm 12 tàu chiến các loại gồm kỳ hạm là tàu tuần dương Matsushima được áp tải bởi 2 chiến hạm cỡ nhỏ Sei-kyo và pháo hạm Akagi đi phía sau; các tuần dương hạm Chiyoda, Hashidate, Itsukushima, Fuso, Hiei đi giữa; hải đội xung kích có tốc độ cao, bao gồm tuần dương hạm Yoshino, Akitsushima, Takachiho và Naniwa đi đầu. Hạm đội Nhật Bản được lệnh nhanh chóng tiến vào biển Hoàng Hải, đánh chiếm các pháo đài, bến cảng, tạo điều kiện để lục quân di chuyển sâu vào nội địa Trung Quốc.

Lý Hồng Chương tức tốc truyền lệnh cho Đề đốc Đinh Nhữ Xương dưới quyền điều động mười chiến thuyền các loại đến chi viện. Đinh Nhữ Xương đã chia hạm đội theo thế trận “nhạn bay hai cánh đơn hành” với 2 hải đội. Trong đó hải đội thứ nhất tập trung chủ yếu những tàu xương sống của hạm đội Bắc Dương, gồm 2 thiết giáp hạm Định Viễn và Trấn Viễn nằm ở trung tâm đội hình chiến đấu. Tuy nhiên, hạm đội Nhật Bản đã tiến nhanh vào cửa sông Áp Lục giáp biển Hoàng Hải vào ngày 17/9/1894. Đội hình phía Nhật Bản như một chữ U lớn, hướng về phía hạm đội Bắc Dương.

Do áp dụng đội hình dòng phía sau, các thiết giáp hạm Định Viễn và Trấn Viễn rất khó bắn trúng các tàu chiến Nhật Bản, vì có những tàu nhỏ hơn chắn giữa họ với đối phương. Trong khi đó, từ cánh phải, hải đội xung kích của Nhật Bản khai hỏa, bắn các tàu chiến nhỏ hơn của địch thủ. Mục tiêu đầu tiên là 2 tuần dương hạm loại nhỏ Dương Uy và Siêu Dũng. Cả hai chiếc đều bốc cháy dữ dội ngay sau loạt đạn đầu. Bị lâm vào mê hồn trận, chiến thuyền Trung Quốc chẳng bao lâu đã bị chia năm xẻ bảy, đầu đuôi không cứu nhau được.

Trận chiến kéo dài suốt cả ngày 17/9/1894, và kết thúc với phần thắng thuộc về người Nhật Bản. Hạm đội Bắc Dương bị bắn chìm 5 tàu, làm hỏng 3 tàu, 850 thủy thủ thiệt mạng, 500 người bị thương, những chiến thuyền còn lại bỏ chạy về phía căn cứ hải quân Uy Hải Vệ. Trong khi đó, hạm đội Nhật Bản chỉ bị hỏng 4 tàu, 190 thủy thủ thiệt mạng, 200 người bị thương.

Tan tành xác pháo

Sau chiến thắng ở Hoàng Hải, Thiên hoàng Minh Trị đã hạ lệnh chia quân tiến đánh Lữ Thuận và cửa Uy Hải của Trung Quốc để bao vây và tiêu diệt tàn quân của hạm đội Bắc Dương. Lúc này, Bắc Dương vẫn còn có 15 tàu chiến tại căn cứ hải quân Uy Hải Vệ và 13 thuyền phóng lôi.

Khi đoàn hải quân lục chiến đổ bộ được lên bờ biển Trung Quốc, binh sĩ Nhật ào ạt xông vào công phá các pháo đài. Chiếm được các pháo đài, đoàn quân Nhật Bản nã trái pháo vào hạm đội Trung Quốc. Hạm đội Nhật Bản gồm 25 tàu chiến và 16 thuyền phóng lôi, với lợi thế áp đảo cũng tấn công hạm đội Bắc Dương.

Lực lượng tàu phóng lôi của Nhật Bản đã đánh chìm kỳ hạm Định Viễn cùng 3 tàu lớn khác của hạm đội Bắc Dương. 13 tàu phóng lôi cố chạy đến Yên Đài thì 6 chiếc bị tiêu diệt và 7 chiếc bị bắt giữ. Sau 22 ngày (20/1 – 12/2/1895), toàn bộ hạm đội Bắc Dương đã “tan tành như xác pháo” trước hạm đội Nhật Bản.

Ngày 12/2/1895, Đinh Nhữ Xương và các tàu còn lại đã đầu hàng hải quân Nhật Bản. Thiết giáp hạm Trấn Viễn bị Nhật Bản thu về sử dụng. Hạm đội Bắc Dương sau đó tuy được phục hồi nhưng đã không lấy lại được vị thế như trước đây.

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Trí tuệ Tăng Quốc Phiên: 6 kiểu nói chuyện đừng bao giờ mắc phải

Trí tuệ Tăng Quốc Phiên: 6 kiểu nói chuyện đừng bao giờ mắc phải

Châu Yến | ĐKN 9 giờ trước 1,625 lượt xem
Trí tuệ Tăng Quốc Phiên: 6 kiểu nói chuyện đừng bao giờ mắc phải!
Ảnh: Đại Kỷ Nguyên tổng hợp.
Tăng Quốc Phiên được xem là một trong tứ đại danh thần thời kỳ phục hưng của triều đình Mãn Thanh, được người đời sau đánh giá rất cao. Con đường công danh của ông khá ly kỳ, lúc đầu bảy lần thi cử không đỗ, về sau trong mười năm thăng quan đến bảy lần, liên tiếp thăng lên mười cấp, lên đến quan nhị phẩm. Ông để lại cho hậu thế nhiều kinh nghiệm xử thế quý báu.

Cả đời Tăng Quốc Phiên đều cần kiệm liêm chính, không vì chức quan mà kiêu ngạo. Mọi người thường hay nói quan trường như chiến trường, họa phúc khó lường. Nhưng Tăng Quốc Phiên tu tâm dưỡng tính, lấy đức làm quan, có được thành công to lớn trong sự nghiệp, vận may luôn rất tốt.

Sự thành công trên quan trường của Tăng Quốc Phiên bắt nguồn từ phương thức nói chuyện của ông. Ông tuân theo nguyên tắc “không nói nhiều”.

Người xưa thường hay nói: “Bệnh từ miệng vào, họa từ miệng ra”.  Lời nói có giá trị thì mới nói nhiều, lời nói không cần thiết thì không nói.

Tăng Quốc Phiên nói: “Làm việc không được tùy tâm, nói chuyện không được tùy khẩu”.

Điều này bắt nguồn từ một chuyện nhỏ.

Cha của Tăng Quốc Phiên ăn mừng sinh nhật, Trịnh Tiểu San đi đến chúc thọ, Tiểu San là đồng hương của Tăng Quốc Phiên. Lúc đó Tăng Quốc Phiên vừa mới được vào viện Hàn lâm, vô cùng đắc ý, nắm lấy tay của Tiểu San ba hoa không ngớt lời, nói mà không suy nghĩ, có cũng nói không có cũng nói, làm Trịnh Tiểu San thấy khó chịu, thế là Trịnh Tiểu San tức giận bỏ về.

Sau chuyện đó, Tăng Quốc Phiên phát hiện ra lỗi của mình, hối hận không kịp. Từ đó, ông bắt đầu chú ý lời ăn tiếng nói của mình.

Dưới đây là 6 kiểu hành sự giao tiếp cần tránh do Tăng Quốc Phiên tổng kết nghiên cứu ra.

1. Không nói lời thẳng thừng

Nói chuyện là một môn nghệ thuật. Nói hay thì là thêu hoa trên gấm, nói không hay thì là thêm dầu vào lửa.

Nói chuyện tuyệt đối không nên quá thẳng thừng. Ai cũng có lòng tự trọng và sĩ diện, nếu nói chuyện tùy tiện không nghĩ đến hoàn cảnh của người khác, rất dễ tạo ra tình huống ngượng ngùng, làm mọi người đều mất vui.

Tăng Quốc Phiên khuyên dạy con trai rằng: “Từ xưa đến nay nói về thói xấu dẫn đến thất bại đại khái có hai điều: một là kiêu ngạo, hai là nói nhiều”.

Nói chuyện phải tuôn chảy tí tách, mát lòng mát dạ như nước suối giữa núi rừng, chứ không nên cuộn trào ào ạt như nước ở sông hồ. Nói một cách thẳng thừng dứt khoát và nói một cách nhẹ nhàng chậm rãi sẽ mang lại hiệu quả khác nhau, cách nói nhẹ nhàng sẽ được tiếp nhận dễ dàng hơn. Phải làm người khác nghe lọt tai những gì bạn nói, đây là mấu chốt giao tiếp với người khác.

Nếu như cách nói chuyện không hợp lý, dù lời nói có chân thành và có giá trị đến mấy đi nữa, đối phương nghe không lọt tai thì vẫn là vô ích. Còn lời lẽ mềm mỏng, không cứng nhắc vừa là tôn trọng đối phương, vừa để cho đối phương có thể tiếp lời, cũng vừa làm dịu cảm xúc của đối phương để cuộc nói chuyện có thể được tiếp diễn.

Ảnh: Secretchina.

2. Không nói lời thị phi

Người nói lời thị phi thường hay bị người khác ghét, đặc biệt là những người nói xấu sau lưng người khác.

Tăng Quốc Phiên viết trong gia thư rằng: “Thường nói chuyện thị phi, tức là người thị phi”. Người thường xuyên đi nói xấu người khác, một chút chuyện nhỏ cũng đi rêu rao thành chuyện to, chắc chắn không phải là người tốt đẹp gì. Thường xuyên đi nói xấu người khác, rồi sẽ có ngày những lời nói đó truyền đến tai của người kia.

Người thực sự thông minh, trong những lúc rảnh rỗi luôn học hỏi những cái mới hoặc là nâng cao bản thân, chứ không lãng phí thời gian và sức lực của mình vào bàn tán lỗi lầm của người khác.

3. Không nói lời oán trách

Trong cuộc sống, chúng ta luôn gặp phải những người oán trách, họ oán trách chính mình hoặc oán trách người khác.

Thật ra oán trách là đang làm chuyện vô ích, không giúp ích gì cho việc giải quyết vấn đề. Mọi người không thích nghe chúng ta cứ mãi oán trách, và ngược lại, chúng ta cũng không thích nghe người khác luôn miệng oán trách. Nghe nhiều những lời oán trách, tâm trạng sẽ trở nên tồi tệ, rồi rơi vào vòng xoáy của năng lượng tiêu cực.

Người thích oán trách và cằn nhằn là người có ý chí không kiên định, khả năng chịu đựng áp lực rất kém. Gặp phải chuyện phiền toái là oán trách, không ngừng tìm kiếm lỗi lầm của người khác, oán trách cuộc đời bất công, hại bản thân rơi vào tình cảnh thê thảm… Như vậy rất dễ khiến bạn trở thành người lười biếng và yếu đuối.

Vì vậy, chúng ta đừng ngốc nghếch mà oán trách nữa, hãy thử im lặng suy nghĩ xem tại sao chúng ta lại thất bại? Có cách nào để giải quyết vấn đề không? lần sau gặp phải chuyện như vậy có thể làm tốt hơn không? Đó mới là điều mà chúng ta cần làm.

4. Không nói lời ngông cuồng

Giao tiếp với người khác, thành thật là tốt nhất, những lời nói ngông cuồng tự cao tự đại thì không nên nói, nói ra dễ bị người ta chán ghét. Cũng đừng tùy tiện nhận lời làm những chuyện mà mình không thể làm nổi, đến cuối cùng thất hứa với người khác thì sẽ đánh mất sự tin tưởng mà người khác dành cho bạn.

Vì thói sĩ diện hão của mình mà nói những lời ngông cuồng, để lộ khuyết điểm của mình cho người khác biết, thì đúng là mất nhiều hơn là được.

Vào thời Ngụy Tấn, danh sĩ Chu Bá Nhân của Tấn triều rất thích nói lời ngông cuồng.

Trong “Tấn Thư” kể rằng, có một lần Tấn Nguyên Đế mở tiệc thiết đãi quần thần, mọi người đều uống rượu rất vui vẻ, Tấn Nguyên Đế nói: “Các vị đang ngồi ở đây đều là đại thần nổi tiếng cả nước, hôm nay chúng ta cùng tề tựu tại đây, các vị ái khanh có cảm thấy ta giống Nghiêu, Thuấn, Vũ của thời xưa không?”, các quan đại thần vỗ tay nói giống.

Chu Bá Nhân lúc đó đã uống say, chỉ thấy ông lớn tiếng nói rằng: “Đều là hoàng đế, hoàng đế của hôm nay làm sao có thể sánh được với lúc thánh nhân còn sống chứ?”, hoàng đế vô cùng tức giận, liền hạ thánh chỉ, cho xử tử ông, nhưng nhiều ngày sau lại miễn tội cho ông.

Vì vậy chúng ta cần phải biết khiêm tốn, đừng quá ngông cuồng như Chu Bá Nhân, nếu không sẽ rất dễ rước họa vào thân.

5. Không nói bừa

Con người sống trên đời, nhất định phải sống thật minh bạch, làm người phải rõ ràng minh bạch, làm việc phải đàng hoàng tử tế. Không nói bừa nói đại, không biết thì chúng ta đừng nói, tuyệt đối đừng nói bừa, lời nói một khi đã nói ra thì không thể thu lại được nữa.

Người xưa thường nói: “Người nói không có ý, người nghe có ý”. Người khác nghe được là sẽ nghi ngờ nhân phẩm của bạn, sẽ có ảnh hưởng không tốt tới hình tượng của bạn.

Không ai muốn gần gũi một người suốt ngày chỉ nói bừa, bởi vì câu nào cũng có lời nói dối trong đó, hiệu quả giao tiếp rất thấp. Nói chuyện rõ ràng chính xác, không nói bừa, khiến người nghe sẽ cảm thấy bạn là một người đáng tin cậy, đây mới là biểu hiện của EQ cao.

6. Không nói lời ác độc

Tăng Quốc Phiên thường dạy bảo con cái trong gia thư, làm người phải rộng lượng, nói chuyện đừng quá tàn nhẫn, hành sự đừng quá tuyệt tình. Tích phúc nhiều hơn, tôn trọng người khác hơn, như vậy vừa là bao dung người khác cũng vừa là bao dung chính mình. Cố gắng đừng nói những lời ác độc, phải học cách khắc chế.

Tục ngữ nói rất hay: “Thiện ý một câu ấm ba đông, lời độc lạnh người sáu tháng ròng”.

Sức sát thương của lời nói ác độc không thua kém một bom nguyên tử về mặt tinh thần.

Nguyễn Linh Ngọc, huyền thoại điện ảnh Trung Quốc, viết trong di chúc rằng: “Tôi chết đi đâu có gì đáng tiếc, nhưng vẫn lo miệng lưỡi người đời đáng sợ”. Chúng ta không thể nào đo lường được sự tổn thương do lời nói ác độc gây ra cho người khác.

Vì vậy, trước khi chúng ta muốn nói điều gì, nhất định phải suy nghĩ kỹ một lần, loại bỏ hết những lời nói ác ý làm tổn thương người khác. Thử nghĩ lại xem bạn đã từng nói ra 6 kiểu nói trên hay chưa? Khi nói chuyện bạn đã từng nghĩ cho đối phương bao giờ chưa? Và những gì bạn đã nói ra có phù hợp với hoàn cảnh hay không?

Xin nhớ kỹ: Mỗi một câu mà bạn nói ra đều sẽ quyết định giá trị cuộc đời của bạn.

Video: Nói là khả năng, im lặng là “thăng hoa” của hùng biện

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH LƯỢC SỚ

BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH LƯỢC SỚ
般若波羅蜜多心經略疏
No. 1712
Đời Đường, Phiên kinh Sa-môn Pháp Tạng thuật1
Việt dịch: Quảng Minh

1 Hiền Thủ Pháp Tạng 賢首法藏 (634-712) là cao tăng đời Đường, pháp danh Pháp Tạng, pháp Tự Hiền
Thủ, hiệu là Quốc Nhất Pháp sư 國一法師. Ngài còn được gọi là Hương Tượng Đại sư 香象大師, hoặc
Khang Tạng Quốc Sư 康藏國師. Ngài vốn là người xứ Khang Cư, đến đời ông nội, cả họ di dân vào Trung
Thổ, sống ở Trường An. Sư thông minh, mẫn tiệp từ nhỏ. Sư y chỉ ngài Vân Hoa Trí Nghiễm 雲華智儼
(602-668), nghe giảng kinh Hoa Nghiêm bèn thâm nhập huyền chỉ. Sau khi ngài Trí Nghiễm thị tịch bèn y
chỉ ngài Bạc Trần 薄塵. Do tinh thông các thứ tiếng Tây Vực, Sư vâng mạng tham gia dịch trường của
ngài Nghĩa Tịnh 義淨, dịch các bộ Tân Hoa Nghiêm, Đại Thừa Nhập Lăng Già, v.v… Sở học uyên bác
của Sư về kinh Hoa Nghiêm đã khiến các vị sư huynh cao túc của Sư tiến cử Sư giảng kinh cho hoàng đế
trong khi Sư chỉ là một Sa-di. Khi giảng mười huyền môn của kinh Hoa Nghiêm cho Võ Tắc Thiên, Sư đã
dùng con sư tử vàng trong điện làm tỷ dụ, Võ Tắc Thiên lãnh ngộ, sau đấy, Sư vâng mệnh soạn bài Sư
Tử Chương để ghi lại bài giảng ấy. Về sau, Sư trụ tại chùa Vân Hoa, Võ Tắc Thiên truyền mười vị đại đức
chốn kinh thành cùng truyền đại giới cho Sư, ban tặng kinh Hoa Nghiêm, trên đề chữ Hiền Thủ Bồ Tát
(ngụ ý ca ngợi Sư giống như Hiền Thủ Bồ Tát trong kinh Hoa Nghiêm). Vì thế, Sư được gọi là Hiền Thủ
quốc sư. Cả đời Sư giảng kinh Hoa Nghiêm hơn ba mươi lần, kiến lập giáo nghĩa tông Hoa Nghiêm.
Ngoài chú giải kinh Hoa Nghiêm, Sư còn chú giải các kinh Lăng Già, Mật Nghiêm, Phạm Võng và Khởi
Tín Luận. Ngài cũng đưa ra cách phán giáo chia giáo nghĩa nhà Phật thành năm giáo mười tông. Sư
trước tác vô cùng phong phú, các tác phẩm của Sư được hậu thế nghiên cứu, học tập nhiều nhất là Hoa
Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký, Hoa Nghiêm Liệu Giản, Hoa Nghiêm Nhất Thừa Giáo Nghĩa Phân Tề
Chương (Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương), Hoa Nghiêm Kinh Chỉ Quy, Hoa Nghiêm Sách Lâm, Hoa
Nghiêm Kinh Vấn Đáp, Đại Thừa Mật Giáo Kinh Sớ, Phạm Võng Kinh Sớ, Đại Thừa Khởi Tín Luận Sớ,
Hoa Nghiêm Cương Mục, Hoa Nghiêm Huyền Nghĩa Chương, Tu Hoa Nghiêm Áo Chỉ Vọng Tận Hoàn
Nguyên Quán, Tâm Kinh Lược Sớ v.v…
2
Chân nguyên2
là phép tắc trong sạch, rỗng lặng nên tách rời chủ thể và đối
tượng3
. Diệu giác4
là đạo lý mầu nhiệm, sâu kín nên vượt lên ngôn ngữ và ảnh
tượng5
. Tuy chân tục đều mất, nhưng nhị đế vẫn thường còn; dẫu không hữu cùng
diệt, mà nhất vị6
luôn hiển lộ. Bởi lẽ, Chân không thì chưa từng bất hữu, ngay nơi
hữu mà sáng tỏ về Không; huyễn hữu thì chưa từng bất Không, ngay nơi Không
mà hiểu rõ về hữu. Hữu, mà là hữu thường trống không, nên bất hữu; Không, mà là
không thường hiện hữu, nên bất Không. Không chính là bất Không, nên Không mà
chẳng phải đoạn diệt; hữu chính là bất hữu, nên hữu mà chẳng phải thường hằng.
Bốn chấp đã diệt, trăm phi cũng trừ7
, yếu chỉ huyền diệu của Bát-nhã là đây vậy.

2 Chân nguyên 真源: Chỉ cho thật tướng Bát-nhã, là lý thể của sở quán.
3 Chánh văn là Thuyên đệ 筌罤: Cái nơm và cái lưới, chỉ cho ngôn tượng. Thuyên, là cái nơm bắt cá, dụ
cho ảnh tượng có khả năng nắm bắt tâm ý. Đệ, là cái lưới bắt thỏ, dụ cho ngôn ngữ có khả năng
nắm bắt ảnh tượng. Ngôn ngữ sinh từ ảnh tượng, nên tìm ngôn ngữ để xét ảnh tượng. Ảnh tượng
sinh từ tâm ý, nên tìm ảnh tượng để xét tâm ý. Pháp Hoa Văn Cú 法華文句, quyển 1: “Nên biết
các thứ thanh giáo, ẩn tàng hay hiển lộ, quyền hay thật, đều là Phật đạo mà làm nơm lưới.”
(當知種種聲教, 若微若著, 若權若實’皆為佛道而為筌罤.)
4 Diệu giác 妙覺: Chỉ cho quán chiếu Bát-nhã, là trí thể năng quán.
5 Ngôn tượng 言象: Ngôn là ngữ ngôn, đối tượng của văn tuệ. Tượng là ảnh tượng hay ấn tượng, đối
tượng của tư tuệ.
6 Nhất vị 一味: Giáo pháp của Như Lai được ví như vị ngọt, và lý thú của giáo pháp ấy thì duy nhất [và
đồng nhất], không có hai, nên gọi là nhất vị. Kinh Pháp Hoa, phẩm Dược Thảo Dụ: “Đức Như Lai nói
pháp một tướng một vị, nghĩa là tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, rốt ráo đến bậc Nhất thiết
chủng trí.”
7 Tứ chấp 四執 = tứ cú 四句. Tứ cú, là bốn câu hay còn gọi là bốn mệnh đề, dùng để diễn tả mọi sự mọi
việc trong thế giới tương đốị Tất cả tri kiến tư tưởng của nhân loại không ra ngoài bốn thể diễn tả nàỵ, đó
là: có, không, chẳng có chẳng không, cũng có cũng không. Bách phi 百非, là trăm thứ phủ định: phi hữu,
phi vô, v.v…, điều này có nghĩa, chân lý của Phật giáo không cần, không nên lấy ‘tứ cú’ mà phân biệt,
đồng thời cũng vượt khỏi ý niệm phủ định của ‘bách phi’. Thế nên có thuật ngữ ‘ly tứ cú, tuyệt bách phi’.
3
Qua sự trình bày đầy đủ, văn tự bát-Nhã có hơn hai mươi vạn bài tụng8
; còn
chọn lấy điểm tinh yếu, nghĩa lý Bát-nhã vỏn vẹn trong mười bốn hàng9
. Thế mới
biết, giáo thuyết đi vào chân thật, văn quảng lược để tùy duyên; tông thú vượt thoát
danh ngôn, tánh viên thông làm biểu hiện.
Quả thật, Bát-nhã Tâm Kinh là ngọn đuốc giơ cao soi sáng con đường tối, là
con thuyền lướt nhanh cứu hộ trên biển khổ. Cứu giúp chúng sinh, dẫn thoát mê
lầm, chẳng có pháp nào hơn Tâm Kinh. Bát-nhã lấy sự ‘soi chiếu mầu nhiệm’ làm
thể; ba-la-mật-đa lấy sự ‘đến bờ bến kia’ làm công. Tâm biểu thị cho cái tinh yếu
vi diệu phải quay về. Kinh là những lời dạy của Phật được xâu kết lại. Từ pháp đến
dụ10 nói lên được yếu chỉ, làm tiêu đề, đó là Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh.
Giải thích kinh này qua năm môn phân biệt: 1. Giáo hưng; 2. Tạng nhiếp; 3.
Tông thú; 4. Thích đề; 5. Giải văn.
I. Giáo hưng (Nguyên nhân phát khởi giáo pháp):
Luận Đại Trí Độ ghi: “Như núi Tu Di, chẳng phải không có nhân duyên,
chẳng phải một ít nhân duyên làm cho nó chấn động được.” Giáo pháp Bát-nhã
được hưng khởi cũng như vậy, phải hội đủ nhiều nhân duyên:
1. Muốn phá các tà kiến của ngoại đạo.
2. Muốn xoay chuyển hàng Nhị thừa để họ đi vào Đại thừa.
3. Khiến hàng tiểu Bồ-tát không mê chấp nơi Không.
4. Khiến sinh chánh kiến để tỏ ngộ lý trung đạo của Nhị đế.
5. Nói rõ thắng đức của Phật để sinh đức tin trong sáng.

8 Hai mươi vạn = 200,000. Bộ Đại Bát-nhã 600 quyển, bản Phạn có 20 vạn bài tụng.
9 Xưa nay kinh văn chữ Hán, mỗi hàng có 17 chữ. Tâm kinh có hơn 260 chữ, gồm hơn 14 hàng.
10 Bát-nhã ba-la-mật-đa là pháp. Tâm là dụ.
4
6. Muốn cho phát tâm đại Bồ-đề.
7. Muốn tu theo các hạnh rộng sâu của Bồ-tát.
8. Khiến đoạn tất cả các chướng thô trọng.
9. Khiến đắc hai quả đại Bồ-đề và đại Niết-bàn.11
10. Lưu truyền nhiều đời sau để làm lợi ích cho chúng sinh.
Trên đây là mô tả ngắn gọn mười nguyên do giáo pháp Bát-nhã được phát
khởi.
II. Tạng nhiếp (phán định kinh văn thuộc về tạng nào):
Trong ba tạng, Bát-nhã nhiếp thuộc Khế kinh tạng. Trong hai tạng12, Bát-nhã
nhiếp thuộc Bồ-tát tạng. Trong Quyền thật nhị giáo13, Bát-nhã nhiếp thuộc Thật
giáo.

11 Hai quả là đại Bồ đề và đại Niết bàn. Tu tập trí vô phân biệt thì dứt được hai chướng thô trọng nơi A-lạida thức, tức chuyển bỏ phần biến kế (tạp nhiễm) của tánh y tha nơi A-lại-da và chuyển được phần viên
thành (thanh tịnh) của tánh y tha nơi A-lại-da. Do chuyển phiền não chướng được đại Niết bàn, chuyển sở
tri chướng đắc Vô thượng giác. Theo Thành duy thức, đại Niết-bàn là: Tánh tịnh Niết-bàn (chân như bản
lai thanh tịnh), Hữu dư Niết-bàn (chân như xuất phiền não chướng), Vô dư Niết-bàn (chân như xuất sanh
tử khổ) và Vô trú Niết-bàn (chân như xuất sở tri chướng). Vô trú Niết-bàn được đại bi, đại trí vĩnh viễn phụ
lực nên không ở sinh tử, không trú Niết-bàn, lợi lạc chúng sinh, tận cùng vị lai hoạt dụng mà thường tịch.
Đại Bồ-đề là: đại viên cảnh trí (chuyển thức thứ tám), bình đẳng tánh trí (chuyển thức thứ bảy), diệu quán
sát trí (chuyển thức thứ sáu) và thành sở tác trí (chuyển năm thức trước). Theo Nhiếp luận, 4 trí này phối
nhiếp 3 thân, nên đại Bồ-đề có chỗ nói về 3 thân.
12 Hai tạng là Thanh văn tạng và Bồ-tát tạng. Thanh văn tạng là các giáo pháp 4 đế, 12 nhân duyên mà
đức Phật nói cho hàng Thanh văn nghe. Còn giáo pháp 6 độ mà đức Phật nói cho Bồ-tát nghe thì gọi là
Bồ tát tạng.
13 Quyền thật nhị giáo 權實二教: Từ gọi chung Quyền giáo và Thật giáo được ghép lại. Quyền giáo cũng
gọi là Phương tiện giáo, tức là giáo môn tùy theo ý muốn của chúng sinh mà tạm thời giả đặt (quyền giả)
ra để làm phương tiện giáo hóa. Thật giáo cũng gọi là Chân thật giáo, là giáo môn rốt ráo chân thật, vĩnh
viễn không thay đổi, tức là giáo pháp được nói ra từ nghĩa chân thật nội chứng của Phật và theo ý của
Phật. Nói một cách đại thể thì giáo thuyết của các tông, các phái trong Phật giáo tuy đều là Thánh ngôn
chân thật không hư dối, nhưng trong đó có hai hệ thống lớn với chủ trương không giống nhau. Một là hệ
5
III. Tông thú (Tông chỉ và quy thú của kinh):
Sự biểu đạt của ngôn ngữ, gọi là tông. Sự quy hướng của tông, gọi là thú.
Tuy nhiên, trước nói tổng quát, sau nói biệt lập.
1. Tổng quát là lấy ba thứ Bát-nhã làm tông thú:
a. Thật tướng Bát-Nhã: Chân tánh là sở quán.

thống chủ trương tất cả chúng sinh đều có tính Phật và thừa nhận chúng sinh đều có khả năng thành
Phật. Hai là hệ thống chủ trương chúng sinh có 5 loại căn tính khác nhau và phủ nhận sự thành Phật của
Nhị thừa định tính và Hữu tình vô tính trong 5 loại căn tính. Nếu nói theo các kinh luận thì hệ thống 1
thuộc kinh Pháp hoa, kinh Niết bàn… tức là thuyết Nhất thừa chân thật, Tam thừa phương tiện; còn hệ
thống 2 thì thuộc kinh Giải thâm mật, luận Du già… tức là thuyết Tam thừa chân thật, Nhất thừa phương
tiện. Tông Thiên thai căn cứ theo kinh Pháp hoa mà lập thuyết Nhất thừa chân thật, Tam thừa phương
tiện, gọi kinh Pháp hoa là Thật giáo, các kinh còn lại là Quyền giáo. Ngoài ra còn căn cứ vào Bộ và Giáo
mà nói về sự khác nhau giữa Quyền và Thật. Tức là nói theo Giáo thì Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo là
Quyền, Viên giáo là Thật; nói theo Bộ thì Kiêm, Đãn, Đối, Đới thuộc 4 thời: Hoa nghiêm, A hàm, Phương
đẳng, Bát nhã là Quyền; Nhất thật khai quyền thuộc thời Pháp hoa là Thật. Tông Tam luận chủ trương
Nhất tính giai thành, tuy cũng lập thuyết Nhất thừa chân thật, Tam thừa phương tiện, nhưng chủ trương
ngoài Tam thừa không có Nhất thừa, cho nên khác với thuyết của tông Thiên thai. Tông Pháp tướng duy
thức y cứ vào kinh Giải thâm mật mà chủ trương thuyết Tam thừa chân thật, Nhất thừa phương tiện, cho
rằng thuyết Duy hữu nhất thừa của kinh Pháp hoa chẳng qua là phương tiện được đặt ra để dẫn dắt hàng
Thanh văn bất định tính chứ thật ra thì chúng sinh vốn có 5 tính khác nhau, mà giáo, lý, hành, quả của
Tam thừa cũng khác, bởi thế tông Pháp tướng duy thức chủ trương thuyết Duy hữu nhất thừa là giáo
pháp phương tiện, còn thuyết Tam thừa mới là giáo pháp chân thật. Tông Hoa nghiêm thì cũng giống như
tông Thiên thai, cũng chủ trương ngoài Tam thừa còn có pháp Nhất Phật thừa và cho rằng 3 xe ở trong
cửa mới là phương tiện, chỉ cho các hư giả, còn xe trâu trắng lớn ở ngoài cửa mới là chân thật. Trong Ngũ
giáo (Tiểu thừa giáo, Đại thừa thủy giáo, Đại thừa chung giáo, Đốn giáo, Viên giáo) mà tông Hoa nghiêm
phân định thì cho rằng Tiểu thừa là Ngu pháp Nhị thừa giáo, Đại thừa thủy giáo là Tam thừa giáo, đều
thuộc Quyền giáo; còn Đại thừa chung giáo và Đốn giáo thì vì chủ trương Nhất thừa nhất tính nên tuy có
lúc cũng gọi là Thật giáo, nhưng vì không chủ trương Tất cả chúng sinh đều có tri kiến Phật, cho nên chỉ
có Lý tính nhân xa chứ không có Quả tính quả xa, do đó vẫn thuộc Tam thừa, cũng là Quyền giáo; chỉ có
Biệt giáo Nhất thừa của kinh Hoa nghiêm mới là Thật giáo. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1;
phẩm Vô tự tính tướng kinh Giải thâm mật Q.2; Pháp hoa huyền nghĩa Q.7, thượng; Hoa nghiêm kinh
thám huyền kí Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần cuối; Ngu thốc sao Q.thượng].
6
b. Quán chiếu Bát-Nhã: Diệu tuệ là năng quán.
c. Văn tự Bát-Nhã: Giáo pháp giải thích nghĩa lý Bát-nhã.
Tông thú không vượt ra ngoài ba thứ Bát-nhã.
2. Biệt lập cũng có ba thứ:
a. Một cặp giáo nghĩa: Lấy giáo trong Văn tự Bát-nhã làm tông; lấy
nghĩa của Thật tướng Bát-nhã và Quán chiếu Bát-nhã làm thú.
b. Một cặp cảnh trí: Lấy cảnh Chân không làm tông; lấy trí quán
chiếu làm thú.
c. Một cặp nhân quả: Lấy nhân hạnh Bồ-đề làm tông; lấy quả đức Bồđề làm thú.
Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh
IV. Thích đề (Giải thích tiêu đề):
Cũng có ba phần:
1. Giáo nghĩa: Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm là nghĩa sở thuyên; chữ Kinh là
giáo năng thuyên. Tức là Kinh nói về Bát-nhã thì được y theo nghĩa mà đặt tên.
2. Pháp dụ: Nghĩa sở thuyên được phân làm hai: Bát-nhã Ba-la-mật-đa là
pháp sở thuyên, chữ Tâm là dụ sở dẫn. Tức là bên trong pháp Bát-nhã đã bao gồm
những diệu nghĩa tinh yếu, ví như quả tim là chủ yếu, là căn bản cho các hệ cơ
quan trong cơ thể người.
3. Thể dụng: Pháp sở thuyên được phân làm hai: Bát-nhã là thể, Hán dịch là
Trí tuệ, tức là thần ngộ lẽ huyền áo, diệu chứng lý chân nguyên. Ba-la-mật-đa là
dụng, Hán dịch là Đáo bỉ ngạn, nghĩa là nhờ có diệu tuệ mà vượt qua dòng sinh tử,
đi đến bờ Chân không, tức loại bỏ cái tuệ ‘không đến bờ bến kia,’ lấy ý ấy đặt tên.
Thể tức là dụng, pháp chính là dụ, giáo chính là nghĩa, cho nên đặt tên là
Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh.
7
V. Giải văn (Giải thích kinh văn):
Từ đây trở xuống là giải thích kinh văn. Vì đây là ‘Tâm Kinh’ cho nên
không có phần tựa và phần lưu thông.
Kinh văn chia làm hai phần:
1. Hiển liễu Bát-nhã: Từ Quán Tự Tại Bồ-tát đến chân thật bất hư;
2. Bí mật Bát-nhã: Từ Cố thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa chú đến tát bà ha.
Vì sao chia làm hai phần Bát-nhã? Hiển liễu là nói rõ ràng, khiến sinh tuệ
giải, diệt phiền não chướng. Chú là lời bí mật, khiến người đọc tụng sinh phước,
diệt tội nghiệp chướng. Do diệt hai chướng này mà thành tựu hai nghiêm [: trí tuệ
và phước đức], cho nên nói hai phần.

Phần Một: Hiển Liễu Bát-nhã
Trong phần Hiển liễu Bát-nhã, lại chia làm hai phần:
1. Lược nêu cương yếu: Từ Quán Tư Tại Bồ-tát đến độ nhất thiết khổ
ách;
2. Rộng nói thật nghĩa: Từ Xá-lợi tử, sắc bất dị không đến chân thật bất
hư.
Vì thật nghĩa chẳng thể ngay lập tức hiển bày, nên trước phải lược nêu
cương yếu. Lược nêu thì chẳng đầy đủ, nên sau đó giải thích rộng ra. Lại nữa,
trước là y cứ theo hành mà lược nêu, sau là y cứ theo giải mà trình bày rộng.14
1. Lược nêu cương yếu:

14 Hành: Tu hành; y theo giáo lý mà thực hành. Giải: Tri giải, trí giải, hiểu biết, nhận thức; từ sự thấy nghe,
học tập mà lãnh hội giáo lý.
8
Quán Tự Tại Bồ-tát
a. Người năng quán: Quán Tự Tại Bồ-tát là người năng quán. Đứng về mặt
trí, người quán chiếu thấu suốt cảnh ‘lý sự vô ngại’15 một cách tự tại, gọi là Quán
Tự Tại. Đứng về mặt bi, người quán chiếu căn cơ chúng sinh, đi đến cứu giúp
chúng sinh một cách tự tại và vô ngại, gọi là Quán Tự Tại. Bồ là Bồ-đề, Hán dịch
là giác. Tát là tát-đỏa, Hán dịch là chúng sinh. Nghĩa là chúng sinh này đem cái trí
trên cầu Bồ-đề, dùng tâm bi dưới cứu chúng sinh. Đây là từ cảnh mà được tên.
Hành thâm Bát-Nhã Ba-la-mật-đa thời,
b. Hành sở hành: Diệu hành Bát-nhã có hai loại: a. Cạn cợt: Nhân không
Bát-Nhã; b. Sâu xa: Pháp không Bát-Nhã. Nay xét, cạn cợt khác với sâu xa, nên
gọi là hành thâm Bát-nhã. Thời là Bồ-tát này có thời gian cùng với hàng Nhị
thừa đi vào ‘nhân không quán’, cho nên Kinh Pháp Hoa nói: “Người nào nên hóa

15 Lý sự vô ngại pháp giới là thế giới trong đó tất cả hiện hữu cá biệt (vastu) có thể đồng nhất với Nhứt
tâm là sở y. Lý là thể tánh của tất cả pháp tức của Sự. Sự là hiện tướng của lý tánh. Sự luôn luôn là biểu
tượng của một lý nào đó và ngược lại, lý luôn luôn là lý tánh của một sự nào đó. Lý và Sự hợp nhất,
chẳng những bất tương ly và hỗ nhập, mà còn hỗ tức, nghĩa là hoàn toàn đồng nhất hay bất nhị (advaya).
Đó gọi là lý sự vô ngại. Đây cũng là giáo lý của Đại thừa Chung giáo, sự lý nhất thể. Như Lai tạng duyên
khởi là đặc điểm của giáo lý này. Lý sự vô ngại là một cách nói khác câu “Sắc tức thị Không, Không tức
thị sắc” của Bát nhã. Theo lý duyên khởi, lý sự vô ngại có nghĩa là sự hiện hữu các pháp do duyên sinh
không mâu thuẫn với tánh Không của chúng. Chính do tánh Không, tánh vô tự tính, các pháp mới có thể
đồng thời hiện khởi và cộng đồng hiện hữu thành một Nhất thể và hỗ tương giao thiệp. Thường ngày ta
thể nghiệm nguyên lý tương dung vô ngại giữa sự tồn tại giả hữu của sự vật với tánh cách vô thường của
chúng. Vô thường tương ứng với lý tánh Không của sự vật. (Bốn Pháp Giới, Hồng Dương Nguyễn Văn
Hai)
9
độ bằng thân hình Thanh văn, thì Bồ-tát biến thể thân hình ấy mà thuyết pháp”
16
.
Ở đây không phải vậy thời gian ấy, nên gọi là hành thâm [Bát-nhã Ba-la-mậtđa] thời.
Chiếu kiến ngũ uẩn giai Không,
c. Cảnh quán hành: Thấu suốt tự tánh của năm uẩn đều không, tức lý hai
không17 được thấy bởi trí tuệ sâu xa.
Độ nhất thiết khổ ách.
d. Nói rõ lợi ích của năng quán: Thể ngộ lý Chân không, nên khổ não từ
đây dứt hết, rời xa được hai hình thái sinh tử là phần đoạn sinh tử và biến dịch sinh
tử18, chứng đắc quả diệu lạc cứu cánh là đại Bồ-đề và đại Niết-bàn, gọi là độ nhất
thiết khổ ách.
2. Rộng nói thật nghĩa:
Xá-lợi tử! Sắc bất dị Không, Không bất dị sắc; sắc tức thị Không,
Không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

16 Kinh Pháp Hoa, phẩm Quán Thế Âm Bồ-tát Phổ Môn.
17 Hai không: ngã không và pháp không.
18 Phần đoạn sinh tử: Sự sống và sự chết được nhận định qua tính cách tồn tại và hủy diệt của sắc thân
này, dù trong đời này hay đời sau. Biến dịch sinh tử: Sự sống và sự chết xảy ra trong từng khoảnh khắc
sát-na, và cứ như vậy, sống chết liên tục tiếp nối nhau từ vô thủy đến vô cùng. Biến dịch sinh tử thì nhỏ
nhiệm, sâu kín khó thấy, khó biết, so với phần đoạn sinh tử.
10
a. Loại bỏ hoài nghi:
a1. Loại bỏ hoài nghi của Tiểu thừa:
Xá-lợi tử là người đặt ra sự hoài nghi. Xá-lợi là tên của một loài chim,
người Hán gọi là chim Thu lộ. Mẹ của tôn giả rất thông minh, có đôi mắt long lanh
như mắt loài chim kia, nhân đó đặt tên là Thu. Con bà ấy lấy chữ Thu làm hiệu,
nên gọi là Thu tử. Đó là mẹ mượn tên chim, con lấy hiệu mẹ. Tôn giả Thu tử là vị
có trí tuệ thông minh bậc nhất, đứng đầu trong đại chúng, cho nên đức Phật gọi tôn
giả lại để giải thích những hoài nghi.
Tôn giả nghi rằng: “Con ở giai vị Hữu dư [Niết-bàn] của Tiểu thừa, thấy
‘không có con người trong năm uẩn’, vậy Pháp không với cái thấy này, khác nhau
thế nào?”
Đức Phật giải thích: “Quan điểm của ông là ‘không có con người trong năm
uẩn’, nên gọi là Uẩn không, đó chẳng phải năm uẩn tự Không, thành ra ‘năm uẩn
khác với Không’. Nay nói ‘tự tánh của các uẩn vốn là Không’, nên có khác với
tông chỉ của ông. Vì thế nói ‘sắc bất dị Không, Không bất dị sắc’.”
Tôn giả nghi rằng: “Con [một khi] bước vào giai vị Vô dư [Niết-bàn], thân
và trí đều đoạn, vậy quan điểm ‘trong Không không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức’
với Vô dư [Niết-bàn, không có thân và trí], khác nhau thế nào?”
Đức Phật giải thích: “Quan điểm của ông là ‘ngay nơi sắc chẳng phải
Không, diệt sắc mới không’. Nay chẳng phải vậy, ‘sắc tức là Không, chẳng phải
diệt sắc mới Không’, nên có khác với quan điểm của ông. Vì thế nói ‘sắc tức thị
Không, Không tức thị sắc’.”
Những hoài nghi của hàng Nhị thừa không ngoài hai điều này, nên có sự giải
thích này.
a2. Giải thích hoài nghi của Bồ-tát:
11
Theo Luận Bảo Tánh19, hàng Bồ-tát tán loạn tâm ý bởi Không20 có ba hoài
nghi:
(1) Nghi ‘Không khác sắc’, nên chấp ‘Không ở ngoài sắc’. Nay nói ‘sắc bất
dị Không’ để dứt nghi này.21
(2) Nghi ‘Không là sắc diệt’, nên chấp cái Không đoạn diệt. Nay nói ‘sắc
tức thị Không’, không phải sắc diệt mới Không, để dứt nghi này.22
(3) Nghi ‘Không là một vật’, nên chấp ‘Không là hữu thể’. Nay nói ‘Không
tức thị sắc’, không thể lấy Không nắm giữ Không, để dứt nghi này.23
Ba nghi đã hết thì Chân không hiển lộ.
a3. Hiển bày chánh nghĩa:
Sắc Không nhìn nhau, có ba nghĩa24:
(1) Đối nghịch lẫn nhau: Kinh văn dưới đây nói, ‘Thị cố Không trung vô
sắc’ (: thế nên trong Không không có sắc), bởi vì Không phá hỏng sắc. Theo đây
có thể nói, ‘sắc trung vô Không’ (: trong sắc không có Không), bởi vì sắc phá
hỏng Không. Nếu cả hai cùng tồn tại thì cũng cùng biến mất.
(2) Không trở ngại nhau: Vì sắc là huyễn sắc, nên sắc không trở ngại
Không; vì Không là Chân không, nên Không không trở ngại sắc. Nếu Không có trở
ngại sắc, thì đó là Đoạn không, chẳng phải Chân không. Nếu sắc trở ngại Không,
thì đó là thật sắc, chẳng phải huyễn sắc.

19 Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tánh Luận 究竟一乘寶性論, No. 1611.
20 Không loạn ý Bồ-tát 空亂意菩薩. Đây là Bồ-tát ở giai đoạn ‘địa tiền’ (Skt.pṛthgjanabhūmi: phàm
phu địa hay dị sinh địa), trước khi chứng nhập mười địa, khi đó gọi là Bồ-tát phàm phu.
21 Không ở ngoài sắc, thì như chỗ bức tường là chẳng Không, ngoài bức tường là Không.
22 Đoạn diệt Không, thì như việc đào giếng, lấy đi đất thì bày ra khoảng không.
23 Không là vật, thì như lấy tay chụp bắt hư không. Không là vô tự tánh, nên không có tự thể biệt lập.
24 Sắc không tương vọng 色空相望. Ba nghĩa: tương vi, bất tương ngại và tương tác.
12
(3) Tác thành cho nhau: Nếu toàn thể huyễn sắc ấy chẳng phải Không, thì
không làm thành huyễn sắc. Thế nên, do ‘sắc tức là Không’, mới có được ‘hữu
sắc’. Kinh Đại phẩm Bát-nhã nói: “Các pháp mà chẳng Không, thì không có đạo,
không có quả, cũng không có hiện quán.” Trung Luận nói: “Do có nghĩa Không,
nên tất cả các pháp được thành tựu.”
25 Chân không cũng vậy, theo đó mà biết.
Vì thế, Chân không được hiểu qua bốn nghĩa26:
(1) Phế mình thành người: ‘Không tức thị sắc’, nên sắc hiện thì Không ẩn.
(2) Diệt người hiển mình: ‘Sắc tức thị Không’, nên sắc diệt thì Không lộ.
(3) Mình người tồn tại: Ẩn và hiện không hai, nên chính là Chân không:
‘Sắc bất dị Không’, là nói huyễn sắc, vì sắc ấy tồn tại27. ‘Không bất dị sắc’, gọi
là Chân không, vì Không ấy hiển lộ. Sắc và Không hỗ trợ nhau, không trở ngại
nhau mà cùng tồn tại.
(4) Mình người cùng diệt: Toàn thể sắc Không là tương tức28, cùng bao trùm
cùng diệt mất, dứt sạch hai bên.
Sắc nhìn về Không29, cũng có bốn nghĩa: (1) Hiển người diệt mình; (2) Mình
ẩn người lộ; (3) Mình người tồn tại; (4) Mình người cùng diệt.30 Y chiếu theo trên
mà suy nghĩ.

25 Trung Luận, phẩm Quán Tứ Đế, kệ 14: Dĩ hữu không nghĩa cố, Nhất thiết pháp đắc thành; Nhược vô
không nghĩa giả, Nhất thiết tắc bất thành. 以有空義故, 一切法得成; 若無空義者, 一切則不成. (Do có nghĩa
không, nên tất cả các pháp được thành tựu, nếu không có nghĩa không, thời tất cả các pháp
không thành.)
26 Bốn nghĩa: (1) Phế kỷ thành tha; (2) Mẫn tha hiển kỷ; (3) Tự tha câu tồn; (4) Tự tha câu mẫn.
27 Tồn tại giả hữu, vì nương vào nhân duyên mà có.
28 Tương tức 相即: Cái này bao trùm cái kia, cái kia nằm trong cái này. Theo lý duyên khởi là, ‘Cái này có
vì cái kia có’.
29 Sắc vọng ư không 色望於空.
30 Bốn nghĩa: (1) Hiển tha tự tận; (2) Tự hiển ẩn tha; (3) Tự tha câu tồn; (4) Tự tha câu mẫn.
13
Với huyễn sắc, còn mất vô ngại; nơi Chân không, ẩn hiện tự tại, hợp làm
nhất vị: viên thông và vô ký 31
, chính là pháp Bát-nhã Ba-la-mật-đa vậy.
a4. Giải thích quán hành: Có ba thứ:
(1) Quán ‘Sắc tức thị Không’, để thành Chỉ hành; quán ‘Không tức thị
sắc’, để thành Quán hành; quán ‘Không sắc không hai, một niệm đốn hiện’
32
,
tức là chỉ và quán cùng thực hành, mới là cứu cánh.
(2) Thấy ‘Sắc tức là Không’, để thành tựu đại trí mà không trú sinh tử; thấy
‘Không tức thị sắc’, để thành tựu đại bi mà không trú Niết-bàn.33 Cảnh SắcKhông là bất nhị34, niệm Bi-Trí không sai biệt, tức thành tựu Vô trú xứ hành.
(3) Trí Giả Đại sư35 dựa theo Kinh Anh Lạc36 lập ra nghĩa ‘nhất tâm ba
quán’37: Một là, từ Giả đi vào Không quán, là nghĩa của ‘Sắc tức thị Không’; hai

31 Chánh văn là ‘Hợp vi nhất vị viên thông vô ký’ (合為一味圓通無寄). Viên thông trong sự tương tức. Vô
ký trong sự viên dung.
32 Nhất niệm đốn hiện, không có trước sau, tất cả mười phương hiện tiền.
33 Bồ tát chứng đắc trí bình đẳng nên chứng được sinh tử tức Niết-bàn. “Do vậy, đối với sinh tử không
phải xả bỏ không phải không xả bỏ, cũng tức là đối với Niết-bàn không phải chứng đắc không phải không
chứng đắc.” (Nhiếp Luận – H.T Thích Trí Quang dịch)
34 Kinh Duy Ma Cật, phẩm Bồ-tát: “Bất nhị là Bồ-đề, vì nó xa lìa ý và pháp (: pháp tánh sai biệt).”
35 Trí Giả Đại sư (智者大師, 538-597): Đại sư húy là Trí Nghĩ 智顗, vị sơ tổ của tông Thiên Thai. Ngài họ
Trần, người đất Vĩnh Xuyên, khi sanh ra có thần quang chiếu sáng cả nhà. Năm 18 tuổi ngài xuất gia,
tham học với Huệ Tư thiền sư. Thấy ngài đến, thiền sư nói: ”Năm xưa ta với ngươi đồng ở Linh Sơn pháp
hội, túc duyên đeo đuổi, nay lại gặp nhau”. Đại sư nương theo ngài Huệ Tư, chuyên tu không bao lâu
chứng được Pháp Hoa Tam muội, trí huệ biện tài vô ngại.
36 Bồ Tát Anh Lạc Bản Nghiệp Kinh 菩薩瓔珞本業經, No. 1485, tr. 14b18: “Sơ địa về trước, có ba quán
tâm để đi vào tất cả địa. Ba quán: Từ giả danh đi vào Không, là Nhị đế quán; từ Không đi vào giả danh, là
Bình đẳng quán; hai quán ấy là đạo phương tiện. Do hai Không quán ấy mà vào được Trung đạo, là Đệ
nhất nghĩa đế quán.”
14
là, từ Không đi vào Giả quán, là nghĩa của ‘Không tức thị sắc’; ba là, Không Giả
bình đẳng quán, là nghĩa của ‘Sắc bất dị Không, Không bất dị sắc’
38
.

37 Nhất tâm tam quán 一心三觀: Cũng gọi Viên dung tam quán, Bất khả tư nghị tam quán, Bất thứ đệ tam
quán. Pháp quán do tông Thiên Thai thành lập, là một trong những giáo nghĩa cơ bản của tông này. Nhất
tâm, chỉ cho tâm năng quán; tam quán, tức là Không quán, Giả quán và Trung quán. Biết rõ một tâm
niệm vốn bất khả đắc, bất khả thuyết, rồi trong một tâm niệm ấy tu cả Không quán, Giả quán và Trung
quán, gọi là Nhất tâm tam quán. Đây là pháp quán của Viên giáo, không theo thứ lớp mà là viên dung.
Ma-ha Chỉ Quán, quyển 5, phần đầu, nói: “Nếu một pháp là tất cả pháp, thì pháp ấy là do nhân duyên
sinh, đó là giả danh, Giả quán. Nếu tất cả pháp tức là một pháp, thì pháp ấy là không, đó là Không quán.
Nếu chẳng phải một pháp chẳng phải tất cả pháp, thì đó tức là Trung quán. Một không tất cả không, giả,
trung cũng đều không, đó là Tổng không quán; một giả tất cả giả, không, trung đều là giả, đó là Tổng giả
quán; một trung tất cả trung, không, giả đều là trung, đó là Tổng trung quán. Đây chính là điều mà Trung
luận gọi là Nhất tâm tam quán bất khả tư nghị.” Trong đó, một pháp tức tất cả pháp là chỉ cho Chân như
tùy duyên mà hình thành hết thảy hiện tượng, không phải thực tại, nên là giả. Quán xét về phương diện
này, gọi là Giả quán. Tất cả pháp tức một pháp, là chỉ cho hết thảy hiện tượng đều do Chân như hiển
hiện, chúng không có thực thể độc lập, cho nên là không. Quán xét về phương diện này, gọi là Không
quán. Hết thảy hiện tượng chẳng phải một chẳng phải tất cả, đồng thời có đủ hai tính chất không, giả, đó
là trung đạo. Quán xét về phương diện này, gọi là Trung quán. Khi tu Không quán thì giả, trung cũng
không, vì cả ba pháp quán đều phá chấp. Khi tu Giả quán thì không, trung cũng giả, vì ba quán đều có
nghĩa lập pháp. Khi tu Trung quán thì không, giả cũng trung, vì chính ngay ba quán đã là tuyệt đối. Vì
trong ba pháp quán này, mỗi một pháp đều gồm đủ cả ba, nên gọi là Nhất tâm tam quán. Nhưng vì pháp
quán này rất sâu xa mầu nhiệm, không thể nghĩ bàn, cửa trí tuệ của nó khó hiểu, khó vào, nên chỉ có
hàng Bồ tát Biệt giáo lợi căn mới tu tập được pháp quán này.Theo Duy Ma Kinh Huyền Sớ, quyển 2 (Đại
38, 528 hạ) thì Nhất tâm tam quán có ba ý: 1. Cảnh sở quán không thể nghĩ bàn: Tức một niệm tâm vô
minh là nhân duyên sinh ra mười pháp giới. 2. Pháp năng quán không thể nghĩ bàn: Nếu quán được một
tâm niệm vô minh này chẳng phải không chẳng phải giả, tất cả pháp cũng chẳng phải không chẳng phải
giả, mà biết được tâm không, giả thì tức là quán chiếu tất cả pháp không, giả. Thế nên chỉ cần nhất tâm
tam quán, soi rọi suốt lý Tam đế (Không, Giả, Trung), chứ chẳng cần dụng tâm đoạn trừ si ái, mà vẫn có
thể chứng được minh trí và giải thoát, hệt như nước lắng trong thì trăng liền hiện. 3. Thành tựu không thể
nghĩ bàn: Nếu chứng được Nhất tâm tam quán thì liền thành tựu được Nhất tâm tam trí ngũ nhẫn. Tóm
lại, bất luận cảnh đối tượng nào cũng đều có thể là Nhất cảnh tam đế, nếu nương vào đó mà tu tập quán
chiếu thì có thể thành tựu Tam quán viên dung. [X. luận Đại trí độ Q.27; Duy ma kinh lược sớ Q.7; Chỉ
quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3]
38 Chánh văn là ‘Sắc Không vô dị’.
15
Xá-lợi tử, thị chư pháp Không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh,
bất tăng bất giảm.
b. Nói rõ pháp thể:
b1. Tổng: Thị chư pháp Không tướng: Các uẩn, v.v…, chẳng phải một,
gọi là chư pháp. Tướng trạng của Không, gọi là Không tướng. Luận Trung
Biên nói: “Không hai, có đây không; Hai ấy [bất nhị] gọi là Không tướng. …
Không hai, là không có năng thủ và sở thủ, nên ‘có’. Có đây không, là có năng thủ
và sở thủ, nên ‘không có’. Hai ấy bất nhị, gọi là Không tướng.”
39
b2. Biệt: Bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm: gồm
sáu ‘bất’ thành ba cặp, có ba giải thích:
(1) Giải thích theo giai vị:

39 Trung Biên Phân Biệt Luận 中邊分別論, No. 1599, Thiên Thân tạo, Chân Đế dịch. Biện Trung Biên
Luận 辯中邊論, No. 1600, phẩn Biện Tướng, Thế Thân tạo, Huyền Quang dịch, tr. 465c03-11: “Kệ tụng:
Không hai, là có không/ Chẳng có cũng chẳng không/ Chẳng khác cũng chẳng một/ Nên nói là không
tướng.
Luận giải: ‘Không hai’, là không có năng thủ và sở thủ. ‘Có không’, là có cái không của hai thủ. Đây là
hiển thị không vô tánh làm tánh (1). Thế nên không tướng đây chẳng có chẳng không (2). Thế nào là
‘chẳng có’? Vì không có hai có (3). Thế nào là ‘chẳng không’? Vì có hai không (4). Đây là hiển thị không
tướng ‘chẳng có cũng chẳng không’. Không tướng và phân biệt hư vọng kia ‘chẳng khác cũng chẳng một’.
Nếu là khác thì thành ra pháp tánh khác với pháp [tướng], tức là trái với chánh lý, như tánh của khổ, vô
thường, không, vô ngã v.v… (5) Nếu là một thì chẳng phải cảnh giới của tịnh trí (6), cũng chẳng phải
tướng chung (7). Đây là hiển thị không tánh cùng phân biệt hư vọng rời sắc thái một và khác.”
[Ghi chú: (1) Tánh chất của năng thủ, sở thủ là không, nên gọi là vô tánh. (2) Không tướng = không tánh.
Chẳng có, vì bản thân biến kế thật không có, chỉ có cái mà biến kế chấp. Chẳng không, vì tự tánh viên
thành hiển lộ. (3) Không có thật tại của hai thủ năng sở. (4) Là hai không năng sở. (5) Pháp tánh không,
vô ngã đều do pháp khổ, vô thường hiển lộ. Như vậy, pháp tánh chân như (không) cùng phân biệt hư
vọng quyết định chẳng phải khác. (6) Tịnh trí là thanh tịnh vô phân biệt trí. Trí vô phân biệt không duyên
nhiễm phần của y tha; nói cách khác, trí vô phân biệt không lấy năm uẩn hữu thủ làm cảnh sở duyên. (7)
Tướng riêng (tự tướng) là chân như. Tướng chung (cộng tướng) là các pháp.]
16
i.Bất sinh bất diệt: Giai vị phàm phu ở đạo tiền: Hàng phàm phu chết đây,
sinh kia, lưu chuyển nhiều kiếp, gọi là giai vị sinh diệt. Chân không thì tách rời
sinh diệt, gọi là bất sinh bất diệt.
ii.Bất cấu bất tịnh: Giai vị Bồ-tát ở đạo trung: Các Bồ-tát chướng nhiễm
chưa hết, tịnh hạnh đã tu, gọi là giai vị cấu tịnh. Chân không thì tách rời cấu tịnh,
gọi là bất cấu bất tịnh.
iii. Bất tăng bất giảm: Giai vị Phật quả ở đạo hậu: Trong sinh tử, hoặc
chướng xưa chưa hết mà nay dứt hết, là giảm; khi tu chứng, vạn đức trước chưa
mãn mà nay viên mãn, là tăng. Chân không tách rời tăng giảm, gọi là bất tăng bất
giảm.40
Trong Luận Phật Tánh có nói ba loại Phật tánh: (1) Ở đạo tiền, gọi là Trú tự
tánh Phật tánh; (2) Ở đạo trung, gọi là Dẫn xuất Phật tánh; (3) Ở đạo hậu, gọi là
Chí đắc quả Phật tánh.
41 Phật tánh chỉ có một, xét theo giai vị mà phân làm ba.
Chân không không sai khác, cũng theo giai vị mà phân ra khác. Tương tự luận trên,
Luận Pháp Giới Vô Sai Biệt cũng nói, [Pháp thân] ở giai vị thứ nhất là nhiễm, ở
giai vị thứ hai là nhiễm tịnh, ở giai vị thứ ba là thuần tịnh.
42
(2) Giải thích theo pháp:

40 Đạo tiền, đạo trung, đạo hậu 道前, 道中, 道後: đạo tiền là trước giai vị kiến đạo, đạo trung là trong giai
vị tu đạo, đạo hậu là sau giai vị tu đạo. Pháp Hoa văn cú ký, quyển 4 ghi: “Nên lấy thập địa làm đạo tiền,
diệu giác làm đạo trung, chứng đạo sau đó làm đạo hậu.” Nói về thanh tịnh, có 2: bản lai thanh tịnh và vô
cấu thanh tịnh. Bản lai thanh tịnh là đạo tiền, đạo trung. Vô cấu thanh tịnh là đạo hậu. Nói về ly cấu thì,
đạo tiền và đạo trung thì chưa ly cấu, đạo hậu thì ly cấu. Nói vể 3 đức của Đại Niết-bàn: đạo tiền là pháp
thân đức, đạo trung là bát-nhã đức, đạo hậu là giải thoát đức.
41 Luận Phật Tánh, quyển 2, giải thích: “Trú tự tánh tánh, là giai vị phàm phu trước tu đạo. Dẫn xuất tánh,
là từ phát tâm trở lui cho đến Thánh vị Hữu học. Chí đắc tánh là Thánh vị Vô học.”
42 Đại Thừa Pháp Giới Vô Sai Biệt Luận 大乘法界無差別論, No. 1627, tr. 894c06: “Pháp thân cùng với
chúng sinh giới/ Thế nên Phật nói vốn không khác/ Bất tịnh cùng với tịnh phi tịnh/ Cực tịnh, thứ lớp phải
nên biết/ Thứ nhất chúng sinh, hai Bồ-tát/ Thứ ba Như Lai cực thanh tịnh.”
17
Dẫu cho Chân không ấy tức là sắc [thọ, tưởng, hành, thức], nhưng sắc theo
duyên mà khởi, Chân không thì bất sinh; sắc theo duyên mà diệt, Chân không thì
bất diệt. Lại nữa, Chân không theo lưu chuyển mà bất nhiễm, thoát chướng ngại
mà bất tịnh, chướng ngại hết mà bất giảm, đức hạnh đầy mà bất tăng. Mọi sinh
diệt, nhiễm tịnh, tăng giảm đều là tướng trạng của pháp hữu vi. Ngược lại tướng
trạng ấy là sắc thái của Chân không, cho nên nói là Không tướng.
(3) Giải thích theo quán hành:
Nơi ba tánh mà lập quán hành về ba vô tánh43:

43 Theo Tam Vô Tánh Luận, ba tánh là: phân biệt tánh, y tha tánh và chân thật tánh; ba vô tánh là: vô
tướng tánh, vô sinh tánh và vô tánh tánh. Theo Kinh Giải Thâm Mật, ba tánh là: biến kế sở chấp tánh, y
tha khởi tánh và viên thành thật tánh; ba vô tánh là: tướng vô tự tánh tánh, sinh vô tự tánh tánh và thắng
nghĩa vô tự tánh tánh. Kinh Giải Thâm Mật: “Lúc ấy đại bồ tát Thắng nghĩa sinh thưa Phật: Bạch đức Thế
tôn, … xin Ngài thương mà giải thích cho chúng con về mật ý mà Ngài nói ‘các pháp toàn không, không
sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn’. Bấy giờ đức Thế tôn bảo đại bồ tát Thắng nghĩa
sinh: … Ông hãy nghe kỹ, Như lai sẽ giải thích cho ông về mật ý mà Như lai đã nói rằng các pháp toàn
không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn. Thắng nghĩa sinh, hãy nhận thức rằng
Như lai căn cứ ba vô tánh sau đây mà mật ý nói các pháp toàn không, ấy là tướng vô tánh, sinh vô tánh,
thắng nghĩa vô tánh. Tướng vô tánh là thế nào, là chính biến kế chấp tánh của các pháp, tại sao, vì tánh
ấy do giả danh thiết lập chứ không phải do tự tướng thiết lập, nên gọi là tướng vô tánh. Sinh vô tánh là thế
nào, là chính y tha khởi tánh của các pháp, tại sao, vì do cái khác là duyên tố mà có chứ không phải tự
nhiên mà có, nên gọi là sinh vô tánh. Thắng nghĩa vô tánh là thế nào, là (một mặt), các pháp do sinh vô
tánh mà nói là vô tánh, có nghĩa chính các pháp duyên sinh cũng gọi là thắng nghĩa vô tánh, tại sao, vì
nơi các pháp, nếu là thanh tịnh sở duyên thì Như lai nói là thắng nghĩa vô tánh, mà y tha khởi tánh không
phải thanh tịnh sở duyên nên cũng gọi là thắng nghĩa vô tánh. Thêm nữa, (mặt khác), viên thành thật tánh
của các pháp cũng gọi là thắng nghĩa vô tánh, tại sao, tại pháp vô ngã của tất cả các pháp thì gọi là
thắng nghĩa, thắng nghĩa này cũng gọi là vô tánh, vì nó mới là thắng nghĩa của các pháp và do vô tánh
hiển lộ, nên (viên thành thật tánh) gọi là thắng nghĩa vô tánh. Tương tự không hoa, tướng vô tánh cũng
vậy. Tương tự ảo tượng (của ảo thuật), sinh vô tánh cũng vậy, thắng nghĩa vô tánh mặt thứ nhất cũng
vậy. Tương tự hư không do sắc tướng vô tánh hiển lộ và phổ biến tất cả, thắng nghĩa vô tánh mặt thứ hai
cũng vậy, vì do pháp vô ngã hiển lộ và phổ biến tất cả. Như lai căn cứ ba vô tánh như vậy mà mật ý nói
rằng các pháp toàn không.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
18
i. Nơi Biến kế sở chấp tánh tác quán Vô tướng: Các pháp tức là Không thì
không có sinh diệt.
ii. Nơi Y tha khởi tánh tác quán Vô sinh: Các pháp là y tha, và nhiễm tịnh
theo duyên mà sinh, nên không có tự tánh.
iii. Nơi Viên Thành thật tánh tác quán Vô tánh: Hai tánh Biến kế và Y tha là
‘chẳng có’ nên bất giảm, được quán trí soi chiếu hiển hiện mà bất tăng. Thêm
nữa, tại triền hay xuất chướng, tánh Viên thành không có tăng giảm.
Tóm lại, vọng pháp thì không có sinh diệt, duyên khởi thì không có nhiễm
tịnh, Chân không thì không có tăng giảm. Lấy ba vô tánh này để nói về sắc thái của
Chân không.
Thị cố Không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý
thức giới.
c. Nói rõ sự viễn ly:
Nhưng Chân không thì tách rời mọi pháp qua nhiều cách, nhưng tóm lược có
bốn:
c1. Pháp tướng khai hợp: Thị cố Không trung: Trước nói, ‘Không ấy
của các pháp không sinh không diệt, không cấu không tịnh, không tăng không
giảm’, tiếp theo, ‘thế nên trong Không’.
Vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức: Trong Chân không ấy không có năm
uẩn, các pháp. Đây là hiểu theo cách ‘tương vi’, nên nói là vô sắc. Thật lý của
Chân không không nằm ở sắc bị hủy hoại, vì tự tánh của các pháp vốn Không,
chẳng đợi có hủy hoại mới Không. Vô thọ, tưởng, hành, thức theo đây mà hiểu.
Pháp số năm uẩn là thu gọn sắc làm một, mở rộng tâm làm bốn.
19
Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp:
Trong Không không có mười hai xứ. Mười hai xứ thu gọn tâm làm một xứ rưỡi: ý
xứ và nửa phần pháp xứ, và mở rộng sắc làm mười xứ rưỡi: năm căn, năm cảnh và
nửa phần pháp xứ.
Vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới: Trong Không không có mười tám
giới. Mười tám giới quân bình tương đối về sắc và tâm, theo trên mà hiểu.
Ba khoa44 này có nói rất đầy đủ trong các luận Đối pháp45
.
Vô vô minh, diệc vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận.
c2. Duyên khởi nghịch thuận:
Vô vô minh: Là thuận quán vô minh theo lưu chuyển môn, bởi tánh của vô
minh là Không, nên nói ‘không có vô minh’. Vô vô minh tận: Là nghịch quán vô
minh theo hoàn diệt môn, vì tánh của vô minh là Chân không, nên không có sự diệt
tận của vô minh. Mười chi ở giữa y cứ theo chi đầu đây, nên nói nãi chí. Một chi
cuối là lão tử: Lão tử theo lưu chuyển môn hay hoàn diệt môn cũng đều là Không.
Vô khổ, tập, diệt, đạo;
c3. Nhiễm tịnh nhân quả:

44 Các pháp số 5 uẩn, 12 xứ và 18 giới thường được gọi là 3 khoa 三科.
45 Các bộ luận Đối pháp (對法: A-tỳ-đạt-ma) như: A-tỳ-đạt-ma Giới Thân Túc Luận (阿毘達磨界身足論,
No. 1540), A-tỳ-đạt-ma Phẩm Loại Túc Luận (阿毘達磨品類足論, No. 1542), A-tỳ-đạt-ma Đai tỳ-bà-sa
luận (阿毘達磨大毘婆沙論, No. 1545), Nhập A-tỳ-đạt-ma Luận (入阿毘達磨論, No. 1554), A-tỳ-đạt-ma
Câu-xá Luận (阿毘達磨俱舍論, No. 1558), Đại thừa A-tỳ-đạt-ma Tạp Tập Luận (大乘阿毘達磨雜集論, No.
1606).
20
Khổ, tập là nhân quả thế gian: Khổ là báo sinh tử, nêu ra trước để sinh chán;
tập là nhân sinh tử, tức phiền não nghiệp. Chán khổ, đoạn tập là nói quả trước,
nhân sau.
Diệt, đạo là nhân quả xuất thế gian: Diệt là quả Niết-bàn, nêu ra trước để ưa
thích; đạo là nhân Niết-bàn, tức Bát chánh đạo.
Tu bốn đế đến rốt sau cũng là Không, không có gì cả.
Vô trí diệc vô đắc.
c4. Cảnh trí năng sở:
Chẳng những trong Không không có các pháp nêu trên, mà cái trí ‘biết
Không’ kia cũng không thể thủ đắc, cho nên nói vô trí. Ngay nơi lý Không được
biết bởi trí ấy cũng không thể thủ đắc, cho nên nói vô đắc.
Hỏi: Trước nói, ‘Không tức thị sắc’, ý nói ‘sắc’ chẳng mất, vì sao văn đây
nói ‘tất cả đều không có’? Há chẳng phải Không này diệt sắc ư?
Đáp: Trước nói, ‘Không không trở ngại sự tồn tại’, nhưng chưa từng nói,
‘sắc không có sự diệt tận’. Đây nói, ‘tất cả pháp đều diệt mất’, nhưng chưa từng
nói, ‘các pháp chẳng thành lập’. Cho nên Kinh Đại Phẩm nói: “Các pháp vô sở
hữu.” Trước nói ‘như thị hữu’, đây nói ‘vô’. Đây y cứ nghĩa ‘vô sở hữu’, trước y
cứ nghĩa ‘như thị hữu’. Lại nữa, trước là ‘tương tác môn’, đây là ‘tương hại môn’.
Một pháp có hai nghĩa, tùy chỗ nói mà không đối nghịch.
d. Nói rõ sự chứng đắc:
Dĩ vô sở đắc cố,
21
d1. Nương trước khởi sau: Dĩ, là do, bởi vì. Cố, là nguyên nhân, cớ. Do
vô sở đắc ở trước làm nhân cho hữu sở đắc ở sau. Kinh Đại Phẩm nói: “Vì vô sở
đắc mà chứng đắc.”
Bồ-đề-tát-đỏa y bát-nhã ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại; vô quái ngại
cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn. Tam
thế chư Phật y bát-nhã ba-la-mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồđề.
d2. Nói rõ sở đắc:
(1) Bồ-tát đắc đoạn quả Niết-bàn:
i. Người y theo pháp:
Bồ-đề-tát-đỏa: Là người (: Bồ-tát), đã giải thích ở trước. Y Bát-nhã Ba-lamật-đa: Là y theo pháp này mà tu hành. Cố: Là [giới từ] để khởi đoạn sau.
ii. Đoạn chướng đắc quả:
(a) Hành thành: Tâm vô quái ngại: Là tu hành thành tựu: hoặc
không chướng ngại tâm, cảnh không chướng ngại trí.
(b) Đoạn chướng: Vô quái ngại cố: Là nương trước khởi sau. Vô
hữu khủng bố: Là bên ngoài không bị ma oán làm cho khiếp sợ, dứt hết mọi
duyên xấu ác. Viễn ly điên đảo mộng tưởng: Là bên trong không bị hoặc chướng
làm cho điên đảo, dứt hết mọi nhân xấu ác.
(c) Đắc quả: Cứu cánh Niết-bàn: Niết-bàn, Hán dịch là viên tịch. đức
đầy đủ là viên, chướng diệt hết là tịch. Niết-bàn của Tiểu thừa là hóa thành quyền
lập, Niết-bàn của Bồ-tát thì vĩnh viễn thường hằng, nên gọi là cứu cánh. Thêm giải
thích, trí hoàn toàn có khả năng đi hết biên tế Niết-bàn, gọi là cứu cánh.
(2) Chư Phật đắc trí quả Bồ-đề:
i. Người y theo pháp:
22
Tam thế chư Phật không có con đường nào khác, chỉ có một cánh cửa pháp
này, nên gọi là y Bát-nhã Ba-la-mật-đa.
ii. Chứng quả:
A-nậu-đa-la: Hán dịch là Vô thượng. Tam-miệu, dịch là Chánh. Tam-bồđề, dịch là Đẳng giác. Giác, có hai nghĩa: (1) Chánh giác, tức Như lý trí, chánh
quán Chân đế; (2) Đẳng giác, tức Như lượng trí, biến quán Tục đế.46 Chánh giác
hay Đẳng giác cũng đều đạt đến chổ tột cùng, không có giới hạn, gọi là Vô thượng.
Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô
thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.
e. Tán dương công năng thù thắng:
e1. Biệt tán dương:
Cố tri: Là nương trước khởi sau. Do chư Phật, Bồ-tát y theo Bát-nhã Ba-lamật-đa mà chứng đắc hai đại quả Bồ-đề và Niết-bàn. Cố tri Bát-nhã Ba-la-mậtđa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng
chú: Là tán dương công năng thù thắng của thần chú Bát-nhã Ba-la-mật-đa.
Tán dương qua bốn đức, có ba giải thích:
(1) Theo pháp:
i. Trừ chướng, không hư dối, gọi là thần chú.
ii. Trí soi sáng, không mê muội, gọi là minh chú.
iii. Không gì vượt qua nó, gọi là vô thượng chú.
iv. Độc nhất, tuyệt bậc, không gì sánh bằng, gọi là vô đẳng đẳng chú.
(2) Theo công năng:

46 Các pháp có những gì, là hiện tượng. Các pháp như thế nào, là bản thể. Tùy hiện tượng mà biết thì gọi
là Như lượng trí (: cái trí biết hết cái lượng của các pháp). Như bản thể mà biết thì gọi là Như lý trí (: cái trí
biết đúng cái thể của các pháp).
23
i. Phá trừ phiền não, gọi là thần chú.
ii. Phá trừ vô minh, gọi là minh chú.
iii. Làm cho nhân hạnh viên mãn, gọi là vô thượng chú.
iv. Làm cho quả đức viên mãn, gọi là vô đẳng đẳng chú.
(3) Theo địa vị:
i. Vượt qua phàm phu, gọi là thần chú.
ii. Vượt qua Tiểu thừa, gọi là minh chú.
iii. Vượt qua nhân, gọi là vô thượng chú.
iv. Ngang bằng quả, gọi là vô đẳng đẳng chú. Địa vị tuyệt bậc (: vô đẳng)
mà đồng bậc (: đẳng), cho nên gọi là vô đẳng đẳng. Luận Kinh Thập Địa nói: “Vô
đẳng, là chư Phật so với chúng sinh, thì không ai ngang bằng Phật. Đẳng, là vì
chúng sinh và pháp thân Phật thì ngang bằng. Vì sao không chỉ nói Vô đẳng mà
nói vô đẳng đẳng? Vì thị hiện Đẳng Chánh Giác vậy.”
47
e2. Tổng kết:
Năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư: Là tổng kết công năng thù
thắng của thần chú Bát-nhã Ba-la-mật-đa.
Ba khổ, tám khổ48 là nhất thiết khổ. Phần đoạn sinh tử và biến dịch sinh
tử49, cũng gọi là nhất thiết khổ. Vì chắc chắn diệt trừ mọi khổ đau, nên nói
là chân thật bất hư.

47 Thập Địa Kinh Luận 十地經論, No. 1522, quyển 2, tr. 131c06.
48 Luận Hiển dương Thánh giáo, quyển 15, phẩm Thành khổ: “Ba khổ: oán ghét mà phải gặp nhau, yêu
thương mà bị xa lìa và mong muốn mà không có được, là sở y của cái thân bị bức bách, là sở y của cái
tâm bị bức bách, và là sở y của những gì làm cho thân tâm suy tổn.” Khổ có 3 loại: 1. Khổ khổ (dục khổ):
khổ sở vì nóng lạnh, đói khát, bịnh tật v.v…; 2. Hành khổ: khổ sở vì sự biến động của pháp hữu vi, trong
đó, 5 uẩn bao gồm thân tâm và thế giới của thân tâm; 3. Hoại khổ (biến dịch khổ): khổ sở vì cái vui mất
đi. Luận Thanh tịnh đạo nói: “Cảm thọ khổ về thân và tâm gọi là khổ khổ, vì tự tính nó là khổ, tên nó là
khổ, và vì nó đau đớn thực sự. Cảm thọ lạc về thân và tâm gọi là hoại khổ vì đó là nhân sanh ra khổ khi
cảm thọ ấy biến hoại. Xả thọ và các hành khác trong ba cõi là hành khổ, vì chúng bị bức bách trong sanh
24
Từ trước đến đây, quảng lược khác nhau, phần Hiển liễu Bát-nhã đã xong.
Phần Hai: Bí Mật Bát-nhã
Cố thuyết bát-nhã ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết:
1. Nương trước khởi sau:
Trước nói thị đại thần chú, nhưng chưa nói lời chú, nên nay sẽ nói thần chú
Bát-nhã Ba-la-mật-đa.
Yết-đế, yết-đế, ba-la-yết-đế, ba-la-tăng-yết đế, bồ-đề tát-bà-ha.
2. Chánh thuyết lời chú:
a. Không thể giải thích: Bí ngữ của chư Phật không phải ngôn ngữ mà
hàng nhân địa có thể hiểu được, chỉ nên tụng trì để diệt trừ tội chướng và tăng
trưởng phước đức, không cần miễn cưỡng giải thích.

diệt.” (Thích Nữ Trí Hải dịch) Tám khổ: sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, khổ vì oán ghét mà phải
gặp nhau, khổ vì yêu thương mà bị xa lìa, khổ vì mong muốn mà không được và năm thủ uẩn khổ. Luận
Hiển dương Thánh giáo: “Trong tám khổ, năm thủ uẩn khổ được xếp sau cùng; trong ba khổ, hành khổ
được xếp sau cùng. Mỗi khổ là sở y cho bốn khổ nên là khổ: 1. Sở y của sinh khổ; 2. Sở y của sinh căn
bản khổ; 3. Sở y của khổ tự tánh khổ; 4. Sở y của biến hoại khổ.” Khổ của sự sinh (tức tám khổ), khổ vì là
cội gốc của sự sinh (tức vô minh), khổ vì là tự tánh của khổ (tức ngã chấp) và khổ vì biến hoại (tức vô
thường).
49 Phần đoạn sinh tử: Sự sống và sự chết được nhận định qua tính cách tồn tại và hủy diệt của sắc thân
này, dù trong đời này hay đời sau. Biến dịch sinh tử: Sự sống và sự chết xảy ra trong từng khoảnh khắc
sát-na, và cứ như vậy, sống chết liên tục tiếp nối nhau từ vô thủy đến vô cùng. Biến dịch sinh tử thì nhỏ
nhiệm, sâu kín khó thấy, khó biết, so với phần đoạn sinh tử.
25
b. Gắng gượng giải thích: Yết-đế: Hán dịch là đi đến, là vượt qua, chỉ
công năng của trí tuệ thâm sâu. Yết-đế yết-đế: Tự mình đi qua, đưa người đi qua (:
tự độ và độ tha). Ba-la-yết-đế: Ba-la, dịch là bỉ ngạn (: bờ bên kia), nghĩa là ‘qua
chỗ cần đến’. Ba-la-tăng-yết-đế: Tăng, nghĩa là toàn bộ, là khắp cả; nghĩa là
‘mình và chúng sinh, tất cả cùng qua, cùng đến bờ bên kia’. Bồ-đề: Đến bờ bên kia
là đến đâu? Đó là Đại bồ-đề xứ. Tát-bà-ha: nghĩa là nhanh chóng, tức khiến cho
mọi tạo tác trước đây được nhanh chóng thành tựu vậy.

Lược Thích là tác phẩm cuối đời, có lời tụng phơi bày cảm xúc:
Bát-nhã sâu xa
Nhiều kiếp khó gặp
Theo sức khen giải
Mong hiểu chân tông.
Pháp sư Pháp Tạng
San Francisco, 8.7.2020
Phật tử Quảng Minh dịch chú

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Blog at WordPress.com.