Tài Liệu Tham Khảo

Vì sao con người phải luân hồi? Mỗi lần đầu thai chính là hoàn trả nghiệp chướng

Vì sao con người phải luân hồi? Mỗi lần đầu thai chính là hoàn trả nghiệp chướng

Đào Viên | ĐKN 02/07/2020 37,376 lượt xem
Vì sao con người phải luân hồi? Mỗi lần đầu thai chính là hoàn trả nghiệp chướng
Ảnh: Shutterstock.
Sau khi chết đi con người không biết sẽ xảy ra chuyện gì? Liệu linh hồn có thật hay không, nó tồn tại dưới hình thức nào? Dưới đây là câu chuyện của Joey Verway, một cô bé có khả năng nhớ được những câu chuyện trong 10 kiếp của mình. Chúng ta hãy cùng lắng nghe cô bé ấy trò chuyện.

Cô bé nhớ được 10 kiếp: Người nguyên thủy và những công cụ làm bằng đá và xương

Hiện nay có không ít sách vở đã ghi chép lại một cách chính xác những câu chuyện luân hồi chuyển thế. Một số ít những đứa trẻ sau khi sinh ra đã có thể nói vanh vách về những chuyện đời trước. Dưới đây là câu chuyện của một bé gái có thể nhớ được 10 kiếp của mình. Chúng ta hãy cùng lắng nghe cô bé trò chuyện.

Cô bé có tên là Joey Verway. Lúc 3 tuổi cô gái nhỏ đã miêu tả những trải nghiệm không thể xảy ra với một cô gái bé bỏng. Đó là đủ mọi trải nghiệm trong nhiều kiếp trước mà không ai biết. Điều này đã khiến người nhà em lúc đó vô cùng sợ hãi.

Khi cô bé lên 5 tuổi, người nhà đã dẫn em tìm đến với rất nhiều giáo sư tâm lý và đạo sư tâm linh về luân hồi, các nhà thôi miên và những phóng viên điều tra. Mọi người muốn hiểu rõ xem rốt cuộc chuyện gì đang xảy ra với cô bé này. Không ngờ tất cả mọi người sau khi lắng nghe câu chuyện của em thì đều bị thuyết phục và đều tin rằng em không nói dối. Những lần “chuyển sinh” của em là hoàn toàn có thực!

Cô bé nhớ lại đời đầu tiên trong kiếp trước của mình là vào 200 triệu năm trước. Khi ấy em còn là người nguyên thủy, sống trong một hang động và từng bị khủng long rượt đuổi. Em nói rằng lúc đó em còn cất giữ đồ đá và công cụ được làm từ xương trong cái hang đó. Nghe cô bé miêu tả xong, nhân viên nghiên cứu lúc đó vô cùng hoài nghi. Nhưng sau khi cô bé dẫn họ tới một hang động tại Nam Phi mà em chưa từng đặt chân đến nơi này thì ai nấy đều sửng sốt, không dám tin vào mắt mình!

Bởi lẽ hang động này là nơi mà Robert Bloom, thành viên của nhà khảo cổ học thuộc học hội hoàng gia đã tìm thấy xương của người nguyên thủy!

Từ nô lệ Ai Cập đến tín đồ Cơ Đốc và bà mẹ của 10 đứa trẻ tại Nam Phi

Cô bé còn nhớ đời thứ 2 trong kiếp trước mình, em là một nô lệ Ai Cập. Em miêu tả chi tiết tình trạng thực tế trên con tàu nô lệ. Thậm chí em còn giải thích rất tỉ mỉ về những kỹ xảo cổ xưa dùng đá trải đường như thế nào. Điều này hoàn toàn phù hợp với những ghi chép trong lịch sử!

Tuy nhiên không phải đời nào em cũng nhớ được rõ ràng. Có một đời ký ức của em khá mờ nhạt. Em không xác định được mình đang ở thời đại nào. Nhưng em nhớ là mình đội một chiếc mạng che mặt rất dày và nhìn thấy chú voi to trước mặt đang chở một nàng công chúa vô cùng xinh đẹp.

Cô bé còn nhớ một kiếp em là tín đồ Cơ Đốc đã từng bị bức hại dưới sự thống trị kinh hoàng của hoàng đế Nero. Em còn nhớ rằng mình đã gặp Thánh Phê rô!

Trong kiếp cuối cùng cô bé đầu thai vào đầu thế kỷ 20 tại Nam Phi. Lúc ấy em là cháu gái của tổng thống Paul Kruger. Sau khi trưởng thành cô bé lần lượt lấy 2 đời chồng và có tổng cộng 10 người con. Nhân viên nghiên cứu dựa vào lời miêu tả của em mà điều tra tình hình về con cháu của tổng thống. Kết quả điều tra hiển thị điều này hoàn toàn là sự thực!

Trong 10 đứa trẻ mà cô bé đã sinh ra trong đời trước, thậm chí vẫn còn một người hiện giờ vẫn còn sống. Bà cụ đã hơn 90 tuổi. Nhân viên nghiên cứu đã sắp xếp cho cô bé gặp bà cụ. Không ngờ phản ứng đầu tiên của bà cụ khi gặp cô bé là sự ngỡ ngàng và thân thuộc. Bà đã thốt lên rằng đây chính là mẹ đẻ của mình. Hai người trò chuyện những điều mà mọi người xung quanh không ai biết, chỉ hai mẹ con mới hiểu.

Thần quên lãng và bát canh Mạnh Bà

Mã Trung Nguyên, một tác gia nổi tiếng của Đài Loan đã kể lại trải nghiệm về đời trước của mình. Ông nói đời trước mình là cô gái lầu xanh, sau này tự tử mà chết. Ông còn nhớ những trải nghiệm tại thế gian trong đời trước. Ông đặc biệt nhắc tới việc trước khi đầu thai lại, ông đã từng uống một bát canh màu trắng vừa thơm vừa đặc sánh. Mặc dù lúc đó ông vừa đói vừa mệt, nhưng ông không uống bát canh đó. Kết quả là ông vẫn mang theo ký ức của đời trước tới nhân gian. Bát canh này chính là canh Mạnh Bà trong truyền thuyết. Tương truyền trước khi đầu thai con người phải đi qua cầu Nại Hà và uống một bát canh Mạnh Bà mới được chuyển sinh làm người.

Kỳ thực thời cổ đại đích thị là có một người tên là Mạnh Bà. Bà họ Mạnh, nên mọi người gọi là “Mạnh Bà”. Khi còn sống bà không nhớ về đời trước, cũng chẳng nghĩ tới tương lai. Bà chỉ một lòng một dạ khuyên con người hành thiện. Sau này Mạnh Bà vào núi tu hành, cuối cùng đắc đạo thành tiên.

Bởi lẽ con người thời đó biết được nhân quả đời này kiếp trước nên thường tiết lộ thiên cơ. Cho nên Trời lệnh cho Mạnh Bà làm vị Thần lãng quên. Chức trách của bà là xác nhận rằng tất cả những quỷ hồn đi đầu thai đều không nhớ về mọi chuyện của mình trong đời trước và nơi địa phủ.

Có lẽ dụng ý của trời xanh là hy vọng con người quên đi những ân oán tình thù của mình trong quá khứ. Sau khi chuyển sinh họ có thể đối đãi thật tốt với những người đã kết thúc ân oán đời trước với mình.

Vậy vì sao con người lại phải chuyển sinh?

Từ những nghiên cứu và ghi chép trong lịch sử thì số người còn nhớ về những trải nghiệm luân hồi chuyển thế của mình vẫn còn khá nhiều. Vậy vì sao con người lại phải chuyển sinh?

Dick Sutphen là một nhà tâm lý học. Ông đã tiến hành quan sát nhóm người có ký ức về luân hồi. Ông ghi lại kết luận của mình trong cuốn “Tình yêu định mệnh” (Predestined Love) và “Liệu pháp hồi ức từ đời trước” (Past-life Therapy in Action). Ông cho rằng sự sản sinh của nghiệp lực là nguyên nhân dẫn đến luân hồi. Mỗi lần luân hồi chuyển kiếp là để cân bằng giữa đức và nghiệp.

“Nghiệp” không phải là một khái niệm mơ hồ, huyền hoặc, mà là chỉ “hành vi”, “việc làm” của con người. Con người trải qua nhiều kiếp luân hồi, đã làm biết bao việc tốt và việc xấu. Làm việc tốt được gọi là “Thiện nghiệp”, làm việc xấu được gọi là “Ác nghiệp”. Dẫu là việc tốt hay việc xấu thì con người cũng đều phải chịu trách nhiệm về việc mình đã làm. Vậy nên mới có sự ứng nghiệm và báo đáp, mà chúng ta gọi là “Thiện báo” và “Ác báo”. Trời xanh luôn giữ lẽ công bằng với tất cả sinh mệnh dưới gầm trời của mình. Vậy nên ông Trời sẽ căn cứ vào “Thiện nghiệp” và “Ác nghiệp” của bản thân mỗi người mà an bài những mối nhân duyên dành cho họ.

Dick Sutphen chia nghiệp lực thành 5 loại:

1. Nghiệp cân bằng

Đây là một hình thức đơn giản nhất, là mối quan hệ nhân quả một cách cơ học.

Ví như một người đời trước rất tàn nhẫn với người khác thì kiếp này ông sẽ phải sống trong sự cô độc. Ông sẽ rất khó tìm được một người bạn tâm giao giúp mình vui vẻ. Một người khác đời nàycó tài nhưng lại chẳng có đất dụng võ, có thể là vì đời trước ông đã phá hoại cơ hội thăng tiến của người khác. Hay một phụ nữ mắc bệnh đau nửa đầu rất nghiêm trọng có thể do đời trước cô ấy mang lòng đố kỵ mà thêu dệt công kích người khác. Cũng có người sinh ra đôi mắt đã bị mù là vì đời trước ông là binh lính La Mã và đã làm mù đôi mắt của một tù nhân Cơ Đốc.

Vậy nên không phải ngẫu nhiên mà những lời truyền dạy “Ở hiền gặp lành”, “Thiện giả thiện báo, ác giả ác báo” đã được truyền tụng qua ngàn đời tới nay vẫn còn nguyên giá trị.

2. Nghiệp tự thân

Chúng ta thường nghe tới khái niệm “lục đạo luân hồi”. “Luân” nghĩa là bánh xe, “hồi” là xoay tròn. Lục đạo là 6 nẻo chuyển sinh của sinh mệnh, gồm “địa ngục”, “súc sinh”, ‘ngạ quỷ”, “Atula”, “cõi người” và “cõi trời”. Thuận theo “Đức” và “Nghiệp” mà mình mang theo, sinh mệnh sẽ không ngừng chuyển sinh trong 6 nẻo, mãi ngụp lặn trong vòng quay của bánh xe sinh tử chờ đợi một điều thiêng liêng nào đó.

Nghiệp tự thân là kết quả do bản thân sinh mệnh quá lạm dụng thân thể của mình đời trước gây ra. Việc hoàn trả nghiệp lực đa phần sẽ thể hiện ở các bộ phận tương ứng của thân thể. Nghiệp lực tự thân đa phần là do sinh mệnh chuyển sinh quá nhanh, khiến họ khi chuyển sinh vẫn mang theo dấu ấn từ đời trước. Một đứa trẻ mắc bệnh phổi bẩm sinh có thể là vì đời trước cậu có tiền sử hút thuốc quá độ dẫn đến căn bệnh ung thư. Một số người khi sinh ra đã mang theo vết chàm hay vết bớt. Điều nàycó thể là kết quả của việc bị bỏng nghiêm trọng từ đời trước nay còn lưu lại.

Vậy nên con người không chỉ cần thiện đãi với người khác, mà trước tiên cần biết thiện đãi và trân quý thân thể của chính mình.

Ảnh minh họa: Pixabay.

3. Nghiệp sợ hãi hoang tưởng

Nghiệp sợ hãi hoang tưởng đến từ sự tổn thương trong kiếp trước, nhưng lại không có liên quan nhiều đến cuộc sống kiếp này.

Ví như có một người nghiện công việc nhớ lại trải nghiệm anh đã không thể nuôi sống gia đình trong cuộc khủng hoảng kinh tế. Anh ấy nhớ lại cảnh phải tự tay chôn cất đứa con trai yêu quý bị chết vì đói của mình. Kết quả là đời này anh ấy bị thôi thúc phải làm việc đêm ngày, gắng sức không để chuyện này tái diễn một lần nữa một cách vô thức. Trong khi cái cớ bề ngoài vẫn là để đảm bảo cuộc sống gia đình no đủ và không phải lo lắng về tài chính.

Nghiệp hoảng sợ hoang tưởng và những tội nghiệp không có thực khác được nhắc đến ở đây đều có thể giải quyết thông qua việc tu dưỡng tâm tính, học cách buông bỏ quá khứ và tĩnh lặng trước hiện tại và tương lai.

4. Nghiệp tội lỗi một cách hoang tưởng

Nghiệp tội lỗi hoang tưởng cũng bắt nguồn từ câu chuyện hoặc sự tổn thương trong cuộc sống đời trước.

Một người mắc bệnh tê bì từ nhỏ khiến sau này đôi chân anh bị liệt. Anh ấy cảm thấy rằng do đời trước anh ấy đã từng làm lái xe và đâm vào một đứa trẻ khiến cháu bé bị què chân. Dẫu đó không phải do anh ấy cố tình, nhưng anh ấy vẫn luôn oán trách bản thân.

Sống trong cảm giác dằn vặt, tội lỗi ấy tâm hồn con người sẽ khá thống khổ, giống như sự trừng phạt về tâm hồn vậy. Cảm giác thống khổ này giống như sự bù đắp lại cho nỗi đau của cậu bé tật nguyền do anh ấy vô tình gây nên. Nên đương nhiên là anh ấy sẽ được tiêu nghiệp trong khi chịu khổ. Khi ân oán đã được bù trừ thì bản thân anh ấy mới được giải thoát và tìm thấy sự thanh thản, bình yên trong cõi lòng.

Nên trong sinh mệnh mỗi người vẫn luôn có những điều mà mắt người không thể nhìn thấy, nhưng vẫn vô hình nắm giữ vận mệnh của họ. Dẫu muốn hay không thì ân oán cũng đều được hoàn trả theo cách này hay cách khác.

5. Nghiệp tích lũy năng lực của bản thân

Chúng ta thường nghiêng mình ngưỡng mộ trước những tài năng lớn hay những danh nhân, những bậc kỳ tài kiệt xuất. Đôi khi ta còn thường thầm ghen tị ông Trời quá hậu đãi họ, mà quên mất bản thân mình. Kỳ thực năng lực và tri thức của sinh mệnh thường được tích lũy qua nhiều đời, nhiều kiếp mà thành.

Ví như một người rất hứng thú với âm nhạc, anh dành rất nhiều thời gian, tâm huyết, miệt mài ngày đêm với các nốt nhạc. Trong 6 lần chuyển sinh anh ấy vẫn không ngừng vun đắp khả năng âm nhạc của mình. Mỗi đời anh lại tiến bộ một chút, cuối cùng trong đời này anh đã trở thành một nhà soạn nhạc tài năng.

Có không ít người có một dung nhan xinh đẹp, gia đình đầm ấm hạnh phúc, tiền tài như nước, con cái hiếu thuận xinh xắn, giỏi giang. Biết bao người phải thầm ngưỡng mộ và có chút ghen tỵ với họ mà lẩm nhẩm “Người ăn không hết, kẻ lần chẳng ra”. Dường như ông Trời quá ưu ái cho họ.

Kỳ thực điều này là do cô ấy luôn coi trọng việc tu dưỡng tâm tính của bản thân và hết lòng, hết dạ yêu thương, lo nghĩ cho người khác trong nhiều đời trước.

Thành công và hạnh phúc của họ là thông qua nỗ lực và gian khó biết bao đời tích lũy mà nên. Họ đã có thể tiêu nghiệp và tích đức khi nỗ lực và trong sự gian nan của mình, từ đó đời này thần may mắn mới ban cho họ một cuộc sống viên mãn, đủ đầy như vậy.

Đức là do làm việc tốt mà đạt được, sinh mệnh ấy sẽ được khen thưởng trong các kiếp luân hồi, ví như họ có sức khỏe tốt, sự nghiệp rạng rỡ, tình yêu mỹ mãn và một gia đình đầm ấm…

Dẫu trong khi luân hồi sinh mệnh được thiện báo bởi những việc làm tốt của mình từ đời trước thì sinh mệnh ấy cần phải không ngừng tu dưỡng tâm tính và nỗ lực học tập. Ví như bạn có dùng cơ hội của mình để giúp đỡ người khác hay không. Bạn đối đãi như thế nào với tiền tài của mình, chỉ hưởng thụ cho thỏa thích hay biết nghĩ tới những người kém may mắn xung quanh.

Thái độ bạn đối đãi với danh và lợi của người khác sẽ quyết định liệu bạn có được phép tiếp tục hưởng thụ những gì mình đang có hay không và vận mệnh đời sau của bạn tốt hay xấu.

Ví như khi nhìn thấy dung mạo xinh đẹp, hào hoa, tuấn tú của người khác bạn thấy ghen ghét hay mừng thay cho họ? Khi nhìn thấy người khác hạnh phúc đắm mình trong sự thành công và tình yêu nồng nàn bạn khó chịu hay thầm chúc phúc cho họ? Khi thấy người khác khổ đau bạn có mừng thầm vì mình không phải chịu cảnh trái ngang như vậy không? Từng suy nghĩ ấy dẫu nhỏ nhưng cũng sẽ quyết định vận mệnh của bạn sau này. Vậy nên đối xử tốt với người khác hóa ra lại là thiện đãi bản thân mình.

Nghiệp lực (hay còn gọi là ác nghiệp) là do bạn làm việc không tốt mà thành. Cách trả nghiệp nhanh nhất là hãy trực tiếp trải nghiệm những hậu quả do các hành vi ác ý của mình.

Ví như đời này bạn nghèo rớt mồng tơi, đa phần là vì đời trước bạn có hành vi lạm dụng tiền bạc. Nếu bạn đối đãi với cuộc sống có vẻ như bất công ấy bằng một tâm thái bình thản và vui vẻ, trước sau vẫn giữ một cái tâm thiện lành thì nghiệp lực của bạn từ đời trước sẽ được hoàn trả. Không chỉ vậy, tâm thái này cũng là những hạt mầm gieo xuống vận mệnh tốt đẹp trong tương lai hay những kiếp về sau.

Trong khi chuyển sinh đời đời kiếp kiếp, sinh mệnh không ngừng hoàn thiện bản thân mình. Nếu trong quá trình này sinh mệnh không ngừng trả nghiệp và tích đức, thì sinh mệnh sẽ trở nên ngày càng trưởng thành, thuần khiết và mỹ lệ hơn.

Có một vị đại sự từng nói Chân – Thiện – Nhẫn là đặc tính của vũ trụ. Cuối cùng khi sinh mệnh đồng hóa với đặc tính Chân – Thiện – Nhẫn của vũ trụ thì sinh mệnh sẽ được thăng hoa, trở về với bản nguyên thuần khiết của mình.

Ông Trời luôn có đức hiếu sinh, luôn từ bi với tất cả sinh mệnh trên thế gian. Sinh mệnh ngụp lặn trong 6 nẻo luân hồi sẽ không ngừng được tẩy tịnh, quy chính và hoàn thiện bản thân. Đợi đến giây phút huy hoàng của vũ trụ, những sinh mệnh thuần khiết ấy sẽ được quay trở về mái nhà thuở ban sơ của mình và vui hưởng cuộc sống vô cùng mỹ hảo.

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Đức Phật đưa ra dự ngôn về tương lai nhân loại, đến nay chuẩn xác phi thường

Đức Phật đưa ra dự ngôn về tương lai nhân loại, đến nay chuẩn xác phi thường

Tiểu Lý | ĐKN 23/06/2020 89,252 lượt xem

Đức Phật đưa ra dự ngôn về tương lai nhân loại, đến nay chuẩn xác phi thường
Đức Phật cho biết xã hội loài người sẽ xuất hiện rất nhiều hiện tượng dị thường, ví dụ như khí hậu biến hóa bất thường, thiên tai nhân họa liên tiếp, thời gian nhanh hơn, sư sãi giả tu làm loạn Pháp…

Mạt Pháp là gì? Hơn 2.500 năm trước, Đức Phật Tất Đạt Đa khi còn tại thế, trong những năm truyền Pháp của mình đã để lại cho con người tương lai nhiều dự ngôn rằng vào thời kì Mạt Pháp sẽ xuất hiện rất nhiều dị thường xảy ra và cũng chính là lúc con người không còn tâm Pháp để câu thúc đạo đức.

Trong kinh, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chia mốc thời gian của Pháp ra thành 3 giai đoạn: thời Chính Pháp (1.000 năm), Tượng Pháp (1.000 năm) và thời Mạt Pháp (10.000 năm). Theo Phật lịch thì hiện nay, thời Mạt Pháp đang trải qua ngàn năm đầu tiên, tính đến năm 2016 thì Phật lịch là năm 2559.

Thời kỳ Mạt Pháp cũng có nghĩa là thời kỳ Pháp diệt tận. Trong thời kỳ Pháp diệt tận, Những lời tiên tri hay những dự ngôn của Đức Phật về chuyện “nam nữ thọ mệnh” và “trạng thái của hòa thượng” như sau:

Nam thọ ngắn, nữ thọ dài

“Kinh Pháp diệt tận” viết: “Kiếp dục tận cố, nhật nguyệt chuyển đoản, nhân mệnh chuyển thúc: tứ thập đầu bạch, nam tử dâm điệt, tinh tận yểu mệnh, hoặc thọ lục thập; nam tử đoản thọ, nữ nhân thọ trường, thất bát cửu thập, hoặc chí bách tuế. Đại thủy hốt khởi, thốt chí vô kỳ, thế nhân bất ngôn, cố vi hữu thường. Chúng sinh tạp loại, bất vấn hào tiện, một nịch phù phiêu, ngư miết thực đạm”.

Giải thích: Đại kiếp sắp đến giới hạn cuối cùng, mặt trăng mặt trời luân chuyển làm thời gian ngắn hơn, vì thế tuổi thọ con người nhanh hơn, 40 tuổi đã đầu bạc, già trước tuổi. Nam giới vì dâm dục phóng túng nên tinh lực cạn kiệt mà chết yểu, sống đến 60 là khó. Nam thọ ngắn thì nữ lại thọ dài, có thể sống đến 70, 80, 90, thậm chỉ 100 tuổi.

Lũ lụt sẽ đến bất ngờ, thường xuyên hơn, không theo quy luật rõ ràng. Người đời không tin đây là hiện tượng mạt Pháp, vì thế xem là bình thường. Chúng sinh sống tạp loạn cùng nhau, bất kể giàu sang hay nghèo hèn đều bị chìm trong nước chứ không nổi, làm mồi cho cá và ba ba.

Hình ảnh mưa lũ tại 11 tỉnh thành ở miền nam Trung Quốc.

Cầu nhờ cửa Phật, không tu giới luật

“Kinh Pháp diệt tận” viết: “Tự cung vu hậu bất tu đạo đức, tự miếu không hoang, vô phục tu lý, chuyển tựu hủy hoại. Đãn tham tài vật, tích tụ bất tán, bất tác phúc đức; phán mại nô tì, canh điền xung thực, phần hủy sơn lâm, thương hại chúng sinh, vô hữu từ tâm; nô vi tì khưu, tì vi tì khưu ni, vô hữu đạo đức, dâm điệt trọc loạn, nam nữ bất biệt. Lệnh đạo bạc đạm, giai do tư bối; hoặc tị huyện quan, y ỷ ngô đạo, cầu tác sa môn, bất tu giới luật, nguyệt bán nguyệt tận, tuy danh tụng giới, yếm quyện giải đãi, bất dục thính văn, sao lược tiền hậu, thiết hữu đậu giả, bất thức tự câu, vi cường ngôn thị, bất tư minh giả, cống cao cầu danh, hư hiển nha bộ, dĩ vi vinh ký, vọng nhân cung dưỡng.”

Giải thích: (Phật Pháp thời tận diệt, bọn sư sãi ma quỷ) sau khi tạo nghiệp vẫn không dùng tâm tu đạo đức, chùa chiền thành nơi của con buôn, thậm chí hoang phế mà không ai thèm tu chỉnh, cuối cùng bị hủy hoại hết.

Trong kinh điển Phật giáo Đại thừa Đồng Tính Kinh quyển hạ, các Đại thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương quyển lục bổn cũng có ghi chép: Khi đến thời kỳ Phật giáo mạt Pháp “Giáo Pháp thuỳ thế, nhơn tuy hữu bẩm giáo, bất năng tu hành chứng quả, gọi là mạt pháp”. Mọi người tu Phật Pháp là vì cái gì ? Đó chẳng phải cần tu được chánh quả, cần chứng ngộ quả vị của bản thân chăng? Nhưng lại “bất năng tu hành chứng quả”. Điều này đã minh chứng cho những hòa thượng giả dạng tu hành làm bại hoại Phật giáo hiện nay.

Ngay cả chính bản thân sư sãi tự độ còn khó huống hồ độ nhân, trong kinh điển “Chiêm Xác Thiện Ác Nghiệp Báo Kinh” có nói đến con người đến thời kỳ mạt pháp: “Căn cơ chậm chạp thiếu tin với Phật Pháp, người đắc Đạo rất ít, cho đến dần dần ở trong Tam Thừa (Thanh Văn Thừa (Tiểu Thừa), Duyên Giác Thừa (Trung Thừa), Đại Thừa (Bồ Tát Thừa), người tín tâm thành tựu, cũng là rất ít, tất cả người tu học Thiền Định thế gian, phát chư thông nghiệp, tự biết định mệnh chuyển dần không còn, như vậy cuối cùng đi vào trong mạt pháp, chảy qua rất lâu mới đắc Đạo, được Tín Thiền Định thông nghiệp… tất cả hoàn toàn không có”.

Đến thời đại này, chúng sinh trở thành nô lệ cho đồng tiền hoặc danh lợi lại xuống tóc đi tu trở thành sư hoặc ni cô, không những vô đạo đức mà còn dâm dục phóng túng, hành vi hỗn loạn bẩn thỉu, tăng nhân nam nữ chung sống với nhau, không còn băn khoăn về lễ độ luật pháp. Chính đạo suy yếu đều vì đám sư sãi ma quỷ này.

Có kẻ vì trốn quan trường truy xét mới nương nhờ cửa Phật, cầu nơi dung thân, họ trở thành thầy tu nhưng không thể giữ được giới luật, tuy bề ngoài vẫn tụng niệm giới luật nhưng trong lòng chán ngán, buông thả, cơ bản là không muốn nghe Phật Pháp, hoặc lược bớt nội dung, không dám nói hết. Thêm nữa không thể học thuộc kinh điển, cho dù thỉnh thoảng có người đọc được nhưng lại không thể hiểu chữ nghĩa và câu cú, vì nói mình thông hiểu kinh sách mà không thể đi tham khảo ý kiến người minh trí, tự cao tự đại, ham danh tiếng mà làm ra những trò hư ngụy, cố ra vẻ tao nhã, tự cho mình vinh quang, hy vọng người khác đến phụng dưỡng mình.

Chiểu theo tiêu chuẩn của kinh Phật để lại, ngày nay không khó để tìm thấy những người giả tu.

***

Đức Phật Thích Ca đã dự ngôn trước rằng sau hai ngàn năm trăm năm, nhân loại sẽ đi vào thời mạt Pháp cũng chính là hiện tại. Phật giáo sẽ chỉ còn lại một vỏ ngoài, đến khi đó các tăng nhân “trong Pháp của ta, tuy cạo trừ râu tóc, thân mặc cà sa, nhưng họ “phá hủy giới cấm, hành không như Pháp”, đều đã là những “Tì Kheo giả”.

Đức Phật đã cho chúng ta biết trước về đạo đức bại hoại của nhân loại và các hiện tượng hỗn loạn như: thiên tai, khủng bố, ôn dịch, đại kiếp nạn… Hết thảy những điều này là cực kỳ khiếp hãi với chúng sinh, và cũng là đại đào thải với cả thế giới. Nhưng trong một số kinh Phật, chúng ta có thể tìm thấy một số đoạn ghi lại, chẳng hạn kinh “Phật thuyết Pháp diệt tận” chép: “Khi Pháp ta diệt, ví như đèn dầu sắp tắt, ánh sáng lóe lên, sau đó liền diệt; khi Pháp ta diệt, cũng như đèn tắt, khó mà trách được. Đến như sau đó mấy nghìn vạn năm, khi Di Lặc hạ thế làm Phật, thiên hạ thái bình, độc khí toàn tiêu”.

Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói đến một cứu cánh cho toàn nhân loại ngày nay, đó là khi “Chuyển Luân Thánh Vương” (trên thiên thượng gọi là “Pháp Luân Thánh Vương”, cũng xưng là “Di Lặc”), một vị Như Lai với thần thông tối quảng đại, năng lực lớn nhất trong vũ trụ, rồi sẽ hạ thế truyền Pháp độ hết thảy chúng sinh các giới.

Xuất phát từ lòng từ bi với con người, Phật Thích Ca Mâu Ni đã đưa thiên cơ trọng yếu này vào các dự ngôn minh xác, lấy đó khải thị người đời sau phải sáng suốt để tự cứu, thoát khỏi kiếp nạn, và hướng về kỷ nguyên mới của lịch sử. Rất mong những ai hữu duyên liễu ngộ chân tướng và nắm chắc cơ hội tự cứu này. Cơ duyên vạn cổ đang ở trước mắt các bạn, xin hãy nắm bắt đừng bỏ qua.

Ảnh: Đại Kỷ Nguyên tổng hợp.

Video: Câu chuyện nhà tâm linh phương Đông và cuộc hành trình tìm kiếm kì lạ

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Vì sao nói: Nghệ thuật chân chính là sợi dây kết nối con người với Thần linh?

Vì sao nói: Nghệ thuật chân chính là sợi dây kết nối con người với Thần linh?

Thanh Ngọc | ĐKN 5 giờ trước 365 lượt xem

Vì sao nói: Nghệ thuật chân chính là sợi dây kết nối con người với Thần linh?
Ảnh: Đại Kỷ Nguyên tổng hợp.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về nghệ thuật. Theo cách hiểu phổ biến hiện nay, nghệ thuật là sự sáng tạo ra những sản phẩm vật thể hoặc phi vật thể chứa đựng những giá trị lớn về tư tưởng-thẩm mỹ, mang tính chất văn hóa làm rung động cảm xúc, tư tưởng tình cảm cho người thưởng thức. Trong vườn hoa nghệ thuật muôn màu muôn vẻ của xã hội hiện đại, thật khó để một khán thính giả bình thường có thể nhận ra đâu mới là bản chất và sứ mệnh nguyên sơ của nghệ thuật. Với mong ước giúp quý vị độc giả tìm về các giá trị nghệ thuật chân chính, Đại Kỷ Nguyên xin trích đăng một bài phân tích công phu, giàu ý nghĩa trên Minh Huệ Net về nghệ thuật.

Nghệ thuật là do Thần truyền cho con người

Nền văn minh nhân loại đã sáng tác ra vô vàn cuốn sách về cái đẹp chân chính. Những người tin vào Thần biết rằng, mọi thứ đẹp nhất đều đến từ Thiên quốc. Nghệ thuật cao thâm đều gắng sức mô phỏng và triển hiện vẻ đẹp nơi Thiên quốc tại cõi người. Có những từ vựng nghệ thuật bắt nguồn từ chính từ ngữ của Thần liên quan trực tiếp diễn biến mà ra.

Nếu như người nghệ sỹ ở một lĩnh vực nào đó có thể đắc được khải thị hoặc sự gia trì của Thần thì có thể trở thành người tài năng xuất chúng trong lĩnh vực đó.

Các bậc thầy nghệ thuật thời kỳ Phục Hưng luôn giữ vững sự thành kính và niềm tin đối với Thần, dốc lòng dốc sức sáng tác những tác phẩm ca tụng Thần. Chính niệm và việc làm của họ có được sự khẳng định và gia trì của Thần. Các nghệ sỹ vào trung kỳ của thời Phục Hưng gồm có Da Vinci, Michelangelo, Raphael, đã nắm vững các kỹ pháp một cách thần kỳ, vượt rất xa thế hệ trước cũng như những người cùng thời. Các tác phẩm hội họa, điêu khắc, kiến trúc của họ đã trở thành các tác phẩm kinh điển, bất hủ của nghệ thuật nhân loại.

Những tác phẩm này đã kiến lập nên khuôn thước đỉnh cao cho nhân loại suốt mấy trăm năm qua. Thưởng thức và tham chiếu những tác phẩm này không những có thể giúp những nghệ sỹ thế hệ sau học tập kỹ pháp nghệ thuật thuần chính, mà còn giúp dân chúng phổ thông thể nghiệm một cách chân thực sự quan tâm và chiếu cố của Thần đối với con người. Nếu những tác phẩm nghệ thuật ấy, thủ pháp và tinh thần truyền qua các nghệ sỹ được bảo tồn đầy đủ thì xã hội nhân loại có thể duy trì mối liên hệ với Thần. Như vậy, cho dù vào lúc toàn xã hội nhân loại trượt dốc thì vẫn còn hy vọng quay trở về con đường truyền thống và được cứu độ.

Bộ ba bậc thầy vĩ đại của thời kỳ Phục Hưng: Michelangel, Raphael, Leonardo da Vinci (ảnh: Wikipedia).

Âm nhạc cũng đồng dạng như vậy. Một nhà hát Opera ở Đức có câu như: “Bach đã cho chúng ta ngôn ngữ của Thượng đế, Mozart đã cho chúng ta tiếng cười của Thượng đế, Beethoven đã cho chúng ta ngọn lửa của Thượng đế, còn Thượng đế đã ban cho chúng ta âm nhạc, để chúng ta có thể cầu nguyện mà không cần dùng ngôn ngữ.” Johann Sebastian Bach cả đời coi việc kính ngưỡng, ca ngợi và cung phụng Thần là nguyên tắc sáng tạo tối cao. Trong tất cả những bản nhạc quan trọng của Bach, đều có thể nhìn thấy ba chữ cái SDG – từ viết tắt của câu tiếng La-tinh “Soli Deo Gloria”, nghĩa là “Vinh quang thuộc về Thượng đế”.

Đó là cảnh giới cao nhất của nghệ sỹ, cũng chính là sau khi nhận được khải thị của Thần, họ đem sự vật ở thế giới thiên quốc biểu hiện ra trong không gian vật chất của chúng ta. Trong lịch sử nhân loại, những bức hội họa và điêu khắc vĩ đại nhất, những bản nhạc kiệt xuất nhất trong âm nhạc cổ điển, đều là do những người tin vào Thần sáng tác ra, và trở thành đỉnh cao của nghệ thuật nhân loại.

Nghệ thuật bao hàm ba nguyên tố quan trọng nhất, đó là mô phỏng, sáng tạo và truyền tải. Mọi sáng tác nghệ thuật đều mang một “chủ đề” nào đó, tức là thông điệp mà tác giả muốn biểu đạt, cho dù loại hình nghệ thuật đó là thi ca, hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh, tiểu thuyết, hý kịch, vũ đạo hay điện ảnh. Người nghệ sỹ truyền “chủ đề” này sang tâm của người đọc, người nghe hoặc người xem. Quá trình này chính là “truyền tải” – tức là để cho người đọc người xem tiếp thu tư tưởng của tác giả, cũng là mục đích sáng tác nghệ thuật.

Để đạt được mục đích truyền tải, nghệ sỹ cần có năng lực mô phỏng và biểu đạt cao siêu, mà đối tượng mô phỏng lại có thể là thế giới của Thần, nhân gian hoặc thế giới ma quỷ. Trên cơ sở “mô phỏng”, nghệ sỹ lại thêm vào sự “sáng tạo”, tinh lọc ra nguyên tố tinh tế, sâu sắc hơn của đối tượng mô phỏng, nâng cao sức biểu đạt hay năng lực truyền tải của người nghệ sỹ. Nếu như người nghệ sỹ có sự thành kính, chính tín vào Thần và có đạo đức cao thượng thì sẽ được Thần ban cho linh cảm sáng tác. Tác phẩm mà anh ta sáng tác ra là có Thần tính, thuần chính, thiện lương – đối với bản thân người đó, khán giả và xã hội đều có lợi ích.

Ngược lại, khi người nghệ sỹ mất đi đạo đức, phóng túng ma tính của bản thân, thì những nhân tố bất hảo sẽ có thể thừa cơ tác động, lợi dụng người đó để miêu tả những hiện tượng xấu xí, dơ bẩn, thậm chí là những biểu hiện thế giới của linh thể tầng thấp, ma quỷ. Loại tác phẩm này, đối với người sáng tác và xã hội, đều có hại.

Hiểu được điểm này, chúng ta không khó lý giải giá trị của nghệ thuật truyền thống chính thống. Văn hóa nghệ thuật thần truyền Đông Tây phương là đường thông đạo kết nối văn minh nhân loại với Thần. Điều được truyền tải là những thông điệp về cái đẹp, cái thiện, quang minh và hy vọng. Còn các loại nghệ thuật biến dị mà ma quỷ thao túng con người sáng tác ra lại là khiến cho con người rời xa Thần và tiến gần hơn đến ma quỷ.

Ảnh hưởng to lớn của nghệ thuật đối với nhân loại

Tác phẩm nghệ thuật vĩ đại có tác dụng truyền thừa văn minh, trau dồi đạo đức, truyền bá tri thức, hun đúc tình cảm. Trong các nền văn minh lớn của Đông Tây phương, những tác phẩm như thế đều có địa vị cao quý.

Pythagoras (Pi-ta-go), nhà toán học, triết gia Hy Lạp cổ đại, cho rằng, sự huyền bí của âm nhạc nằm ở chỗ mô phỏng số hòa âm mà thiên thể biểu hiện ra, từ đó phản ánh ra quy luật hài hòa của vũ trụ. Người Trung Quốc cũng có quan điểm tương tự. Trong “Sử ký luật thư” và “Nhạc thư” đều bàn về sự đối ứng giữa âm nhạc và ngũ hành, cho đến phương pháp chế tác các loại nhạc cụ, có thể biểu đạt và mô phỏng số Thiên Địa. Chỉ có như vậy mới có thể khiến âm nhạc đạt đến sự hài hòa với Thiên Địa – tức là, âm nhạc vĩ đại và thiên địa phải có sự tương hòa. [1] Nhạc như vậy không chỉ có thể nghênh đón được các thần điểu như tiên hạc, phượng hoàng, mà còn có thể thỉnh mời được Thần Tiên.

Khổng Tử từng nói: “Văn vẻ rực rỡ thay, ta theo nhà Chu” [2], là bởi vì Khổng Tử sùng bái Chu Công lấy lễ nhạc trị quốc. “Vua Thuấn tạo ra ngũ huyền cầm, ca bài thơ Nam phong mà Thiên hạ trị”, cũng thuyết minh cho tác dụng giáo hóa của âm nhạc thuần chính đối với con người. [3]

“Tần Vương phá trận nhạc” của Đường Thái Tông Lý Thế Dân uy phục tứ bề, trong “Tân Đường thư” có ghi chép, khi Huyền Trang sang Tây Thiên lấy kinh, Giới Nhật Vương Thi La Dật Đa của Trung Thiên Trúc nói với Huyền Trang: “Vị quân vương của nước các vị là một thánh nhân, đã làm ra ‘Tần Vương phá trận nhạc’.” [4]

Hoàng gia nước Pháp thời đại Vua Louis XIV, thông qua khiêu vũ và nghệ thuật, đã triển hiện sự ưu nhã và quy phạm công dân. Khiêu vũ không chỉ là kỹ thuật về động tác, mà còn là lễ nghi xã giao và quy tắc ứng xử. Vua Louis XIV dùng nghệ thuật và văn hóa để cảm hóa Châu Âu, khiến Châu Âu và các hoàng gia khác noi theo.

Frederick Đại đế của nước Phổ không chỉ là vị vua kiệt xuất, mà còn là một nhà âm nhạc tài năng, vừa sáng tác vừa diễn tấu sáo. Ông hạ lệnh xây dựng Nhà hát Opera Berlin, đích thân làm chỉ huy ca kịch, và mở cho nhiều giai tầng xã hội đến tiếp xúc với opera. Cho đến hôm nay, opera đã trở thành bộ phận quan trọng của văn hóa dân tộc Đức. Từ mấy ví dụ nói trên có thể thấy nghệ thuật chính thống có ảnh hưởng lâu dài và sức cuốn hút thế nào trong xã hội.

Bức tranh The Flute Concert of Sanssouci của Adolph von Menzel, 1852, miêu tả cảnh Friedrich II thổi sáo trong phòng hoà nhạc tại cung điện Sanssouci (ảnh: Wikipedia).

Nghệ thuật chính thống phù hợp với tự nhiên hay phép tắc của vũ trụ, noi theo trí huệ của Thần, có mang theo tác dụng và năng lượng đặc thù, đối với thân thể và tinh thần của con người thì đều có ảnh hưởng chính diện to lớn. Khi sáng tác nghệ thuật chính thống, các nghệ sỹ không những phải vận dụng thân thể, kỹ thuật, mà còn phải hòa quyện tinh thần, phải có sự câu thông giữa linh hồn và chủ đề của tác phẩm nghệ thuật. Những nghệ sỹ như vậy thường có trải nghiệm về một lực lượng cao tầng vượt khỏi thế giới vật chất này. Ví như khi hát những bài hát ca tụng Thần thì sự trang nghiêm, cung kính ấy cũng mang lại thể nghiệm về sự huy hoàng, mỹ hảo của Thần, khó có thể miêu tả bằng bút mực.

Còn đối với người thưởng thức nghệ thuật mà nói, nghệ thuật trở thành tải thể đặc thù có thể nối thông đến Thần, đằng sau cô đọng rất nhiều trí tuệ, sáng tạo và linh cảm của con người, thông thường có nội hàm thâm sâu, siêu việt khỏi bề mặt. Có tác phẩm thậm chí truyền tải năng lượng tinh thần đặc biệt. Những điều này đều có thể khởi tác dụng độc đáo đối với con người ở tầng diện linh tính và tinh thần, mà loại tác dụng này thì các biện pháp vật chất khác không cách nào thay thế được.

Về phương diện ảnh hưởng đến đạo đức tinh thần xã hội, một nghệ sỹ giỏi có thể thông qua câu chuyện làm lay động lòng người mà rót những giá trị trừu tượng vào trong tâm người ta. Ngay cả một người không có học vấn cao thâm, chưa trải qua sự giáo dục tốt cũng có thể được khai mở tâm linh, lĩnh hội bài học đạo đức qua những gì nghệ thuật truyền thống truyền tải. Trong xã hội truyền thống, người phương Tây có thể nhận thức được biết bao nhiêu về thị phi thiện ác qua những câu chuyện cổ tích dân gian như “Nàng tiên cá”, “Bạch Tuyết”; người Trung Quốc lĩnh hội được biết bao nhiêu từ tứ đại danh tác, truyện dân gian, hý kịch? Còn những tác phẩm triển hiện thế giới thiên quốc kia, những đạo lý dành cho con người càng khiến con người cảm thụ được sự vĩ đại của Thần, tâm sinh ra nguyện vọng quy y hướng về phía Thần.

Những giá trị bại hoại cũng có thể thông qua nghệ thuật mà bất tri bất giác ảnh hưởng đến con người. Giáo sư Robert McKee viết trong cuốn sách “Câu chuyện”: “Mỗi một câu chuyện hữu hiệu đều sẽ truyền cho chúng ta một ý tưởng, thực ra là mang cái tư tưởng đó vào trong chúng ta, khiến chúng ta phải tin. Thực ra, sức thuyết phục của một câu chuyện lớn đến nỗi cho dù chúng ta thấy nó phản cảm về mặt đạo đức, chúng ta vẫn có khả năng sẽ tin vào giá trị mà nó truyền tải.” [5]

Nghệ thuật về cả hai phương diện chính và phản đều có thể ảnh hưởng to lớn đến giá trị đạo đức, tư tưởng và hành vi của nhân loại. Nói vậy cũng không phải là cường điệu. Trong xã hội chúng ta hiện nay, vẫn có thể tìm được rất nhiều ví dụ cụ thể.

Chẳng hạn, “Hiệu ứng Mozart” đã gây được chú ý trên phạm vi toàn thế giới. Giới khoa học đã khai triển rất nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng chính diện của âm nhạc Mozart đối với con người và động vật. Năm 2016, một nghiên cứu sâu hơn về hiệu ứng Mozart đã phát hiện, âm nhạc của Mozart có tác động tích cực đối với chức năng nhận biết và hành vi của con người. Điều khiến người ta kinh ngạc là, phát ngược nhạc Mozart thì tác dụng gây ra là hoàn toàn tương phản. Còn âm nhạc vô điệu tính của Arnold Schoenberg đối với con người thì gây ra tác dụng hết sức tương tự với nhạc Mozart phát ngược, nghĩa là gây ảnh hưởng tiêu cực. [6]

So với âm nhạc vô điệu tính, tác dụng phụ diện của rock & roll còn lớn hơn nữa. Một nhà nghiên cứu từng tổng hợp dữ liệu của hai thành phố tương tự nhau: thành phố phát sóng truyền hình, truyền thanh với lượng lớn các bản nhạc rock & roll thì số trường hợp có con trước hôn nhân, bỏ học, thanh thiếu niên tử vong, phạm tội… cao hơn 50% so với thành phố phát nhạc bình thường. [7] Có loại nhạc rock & roll còn coi tự sát là điều hợp lý. “Giai điệu đen tối và ca từ gây ức chế của nó đương nhiên có thể được xem là một hình thức cổ động việc tự sát, hơn nữa người trẻ tuổi nghe nhạc rock & roll nhiều rồi đi tự sát đã là một hiện thực không thể chối cãi”. [8] Thanh thiếu niên nghe nhạc rock & roll rồi tự sát theo cách chết miêu tả trong ca từ cũng không ít. Những tay nhạc rock & roll rơi vào trầm cảm, lạm dụng ma tuý, thậm chí tự sát cũng là một hiện tượng phổ biến.

Một ví dụ phụ diện khác mà nhiều người biết đến là bộ phim chủ nghĩa dân tộc của Đức quốc xã “Khúc khải hoàn của ý chí” (Triumph of the Will). Mặc dù đạo diễn Leni Riefenstahl bào chữa rằng đó là bà làm phim tài liệu, nhưng bộ phim tuyên truyền này có thủ pháp nghệ thuật cao siêu. Bộ phim đưa ra những cảnh tượng hoành tráng về sức mạnh, khiến khán giả đồng cảm với năng lượng và tinh thần đằng sau đó. Nhiều thủ pháp, kỹ xảo quay và chỉnh sửa của nó đã ảnh hưởng đến điện ảnh tới vài thập kỷ sau này. Dẫu sao, bộ phim này cũng đã khởi tác dụng tuyên truyền to lớn cho Hitler và Đức quốc xã, và được coi là một trong những bộ phim tuyên truyền thành công nhất trong lịch sử. Năm 2003, tờ báo Độc lập (The Independent) của Anh bình luận: “’Khúc khải hoàn của ý chí’ đã khiến nhiều người thông thái say mê, khiến họ ngưỡng mộ thay vì khinh miệt, và đương nhiên, nó đã giành được tình hữu nghị với nhiều nước và có được đồng minh trên khắp thế giới.” [8]

Hiểu được sức mạnh to lớn của nghệ thuật, có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn nữa tầm quan trọng của nghệ thuật truyền thống và tại sao ma quỷ lại muốn làm biến dị và phá hoại nghệ thuật nhân loại.

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Giới thiệu sách mới: The Way of Zen in Vietnam – Thiền Tông Việt Nam (sách song ngữ) 17/06/20205:39 SA(Xem: 1136)

Giới thiệu sách mới: The Way of Zen in Vietnam – Thiền Tông Việt Nam (sách song ngữ)

17/06/20205:39 SA(Xem: 1136)
Giới thiệu sách mới: The Way of Zen in Vietnam - Thiền Tông Việt Nam (sách song ngữ)

THE WAY OF ZEN IN VIETNAM
THIỀN TÔNG VIỆT NAM
NGUYÊN GIÁC
Published by Ananda Viet Foundation – 2020

ACKNOWLEDGMENTS

This book is dedicated to my teachers — The late Zen Masters Thich Tich Chieu and Thich Thuong Chieu; the late Dharma Masters Thich Thien Tam and Thich Tai Quang; and all the teachers whose books I read and learned from, including H.H. the 14th Dalai Lama, Thich Thanh Tu, Thich Nhat Hanh, Thich Minh Chau, Thich Duy Luc, Le Manh That, Tue Sy, etc. This book is also dedicated to all my parents in this life and other lives, and to all other sentient beings.

Specifically, I am indebted to the Zen Master Thich Thanh Tu, Prof. Le Manh That, researcher Tran Dinh Son, Thanissaro Bhikkhu, Bhikkhu Bodhi, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Nguyen The Dang (who is also my elder Dharma brother), and many others whose works I relied on while working on this book.

Also, I would like to thank the layperson Tâm Diệu, who posted my articles on Thư Viện Hoa Sen (thuvienhoasen.org) for decades and now helped publish this book via the Ananda Viet Foundation.

Lastly, the author would like to say a special thanks to Dan Phan for helping to check the spelling and grammar of this book.

Sách này được dâng cúng cho các vị Thầy của tôi – hai cố Thiền sư Thích Tịch Chiếu và Thích Thường Chiếu; hai Thầy Thích Thiền Tâm và Thích Tài Quang; và tất cả quý Thầy có sách mà tôi đã đọc và học từ đó, trong đó có Đức Đạt Lai Lạt Ma đời 14, quý Thầy Thích Thanh Từ, Thích Nhất Hạnh, Thích Minh Châu, Thích Duy Lực, Lê Mạnh Thát, Tuệ Sỹ, vân vân. Sách này cũng xin dâng cúng tới ba mẹ tôi trong kiếp này và các kiếp khác, và tới tất cả các chúng sinh.

Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn tới Thiền sư Thích Thanh Từ, Giáo sư Lê Mạnh Thát, nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn, Thanissaro Bhikkhu, Bhikkhu Bodhi, Bhikkhu Sujato, Tỳ kheo Nguyễn Thế Đăng (vị này cũng là Pháp huynh cùng Thầy của tôi) và nhiều vị khác với các văn bản mà tác phẩm này tham khảo.

Thêm nữa, tác giả xin cảm ơn Cư sĩ Tâm Diệu, người đã đăng các bài tôi viết lên Thư Viện Hoa Sen (thuvienhoasen.org) trong nhiều thập niên và bây giờ giúp phát hành sách này qua Ananda Viet Foundation.

Cuối cùngtác giả xin nói lời cảm ơn đặc biệt tới Dan Phan đã giúp dò lỗi chính tả và văn phạm cho sách này.

PREFACE

Everyone can see that Vietnamese Zen has played a significant role in the history of Vietnam in all aspects, especially in Vietnamese Buddhism. How exactly did this transpire? Some have said that after being transmitted from China to Vietnam, the Zen doctrine has blended into the Vietnamese culture, being constantly accompanied by the Vietnamese people, becoming a uniquely Vietnamese Zen.

According to Prof. Le Manh That in his studies of the book Thiền Uyển Tập Anh (A Collection of Outstanding Figures of the Zen Garden), before arriving in China, Buddhism had spread in the second or third century CE from India to Vietnam. During this time, the two best known Buddhist Masters were Mau Tu and Khuong Tang Hoi.

In the sixth century, Chinese Zen was introduced into Vietnam by the Zen Master Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinītaruci), a native South Indian and a student of the Third Chinese Patriarch Tăng Xán (Sengcan). This Zen sect lasted nineteen generations. Their students studied and practiced mostly in accordance with the scriptures of Northern Buddhism, the Six Paramitas, the Prajna Wisdom, and the meditation of contemplating the Buddha’s mind-seal.

In the eighth century, the Zen Master Vô Ngôn Thông (Wu Yantong), a student of Bách Trượng Hoài Hải (Baizhang Huaihai), came to Vietnam and introduced the Zen tradition inherited from the sixth Chinese Zen Patriarch Huệ Năng (Hui Neng) that emphasized the ideas of sudden enlightenment and mind-to-mind transmission. This Zen sect lasted fifteen generations.

In the 11th century, the Vân Môn Zen sect (Unmon Zen) was brought into Vietnam by the Zen Master Thảo Đường, a student of Tuyết Đậu Trùng Hiển (Xuedou Chongxian). Thảo Đường, who had traveled from China to Chiêm Thành (Champa) to introduce Zen, was captured as a prisoner of war by Vietnamese soldiers in the war between Vietnam and Champa, only being released after the war. After establishing the Thảo Đường Zen school in Trấn Quốc Temple, Thảo Đường was consecrated by King Lý Thánh Tông as the Kingdom’s Supreme Master. Arguing that Buddhism should cherish Confucianism, literature and academic achievement, the Thảo Đường Zen School became fondly acquainted with the era’s scholars and nobility. Ultimately, the Thảo Đường Zen School greatly influenced the Buddhist landscape in the Trần Dynasty.

In the 13th century during Trần Dynasty, King Trần Nhân Tông studied Zen under the guidance of Tuệ Trung Thượng Sĩ, who was considered an enlightened person. Years later, King Trần Nhân Tông voluntarily relinquished the throne to his son, and went forth as a monk named Trúc Lâm Đầu Đà. He then established Trúc Lâm Zen, a meditation school that blended Vietnamese culture with socially engaged spirituality. Thus, Trúc Lâm Zen inherited and combined the ideas of the three previous Zen schools —  Tì Ni Đa Lưu ChiVô Ngôn Thông, and Thảo Đường. The most important three patriarchs of Trúc Lâm Zen were Trần Nhân TôngPháp Loa, and Huyền Quang.

In the 17th century, the Tào Động Zen (Japanese: Soto School; Chinese: Caodong School) was brought to North Vietnam by the Zen Master Thông Giác Thủy Nguyệt. Prior to this, he had traveled from Vietnam to China to study with the Zen Master Nhất Cú Trí Giáo for six years,  becoming a dharma heir of the Chinese Tào Động Zen in the process. The main practice of this Zen school was Thiền Mặc Chiếu (the Silent Illumination Meditation) through which the practitioners could attain enlightenment. Also in this century, the Chinese Zen Master Thạch Liêm, a 29th-generation Dharma successor of Caodong School, came to Central Vietnam, taught Zen meditation that mixed with the Huatou practice of the Lâm Tế School (Japanese: Rinzai School), and declared that “the three teachings (Confucianism, Buddhism, and Taoism) are harmonious as one.”

Also in the 17th century, the Chinese Zen Master Chuyết Chuyết came to North Vietnam and introduced the Lâm Tế Zen School, which later had a dharma successor named Chân Nguyên, who revived the Trúc Lâm Zen School.

Due to frequent conflicts and wars, the Vietnamese people constantly wished for peace and stability. The two Zen schools above gradually intertwined with the Pure Land School, and their monastics later practiced both meditation and chanting the Buddha’s name.

Nowadays, the Zen Master Thích Thanh Từ (b. 1924) has led the effort to revive the spirit of Trúc Lâm Zen,  built dozens of Zen monasteries, and adapted the teaching methods of the Zen Master Khuê Phong Tông Mật (Guifeng Zongmi) for his followers who try to recognize the mind’s empty and luminous nature, and practice in accord with that recognition. Thus, these practitioners study the scriptures and ancient Zen records, constantly keep their mind out of any false thought and meditate as instructed in Lục Diệu Pháp Môn (the Six Wonderful Ways).

Recently the Zen Master Thích Duy Lực (1923 – 2000) — a dharma successor of Ven. Thích Hoằng Tu, who came from China to South Vietnam to introduce the Thiền Tào Động (Caodong Chan) as a branch founded by the Zen Master Vĩnh Giác Nguyên Hiền (1578-1657) — taught his followers Thiền Khán Thoại Đầu (Huatow Meditation), a method of Lâm Tế School, now a popular  method in South Vietnam.

The summary above shows that several branches of Zen Buddhism (i.e., Tì Ni Đa Lưu ChiVô Ngôn ThôngThảo ĐườngTào Động, and Lâm Tế) spread to Vietnam from overseas, three of which blended into the Vietnamese culture to become Trúc Lâm Zen. A question should be raised: what is the Way of Zen in Vietnam? Should there be one or many answers? Should the answer be a wordless gesture? Who has the authority to answer those questions?

The author of this book tries to answer these questions via poems and verses of the Zen masters who laid the foundation for the Zen practices in Vietnam. He hopes to provide a generally correct view of the Way of Zen in Vietnam.

This bilingual book in English and Vietnamese is a collection of 95 poems and verses which were translated into modern Vietnamese by the Zen Master Thích Thanh Từ, Prof. Lê Mạnh Thát, and the researcher Trần Đình Sơn. This collection was then translated into English by the author Nguyên Giác, whose commentaries are provided below the translations. The 95th piece, a long verse by King Trần Nhân Tông (who was the founder of the Trúc Lâm Zen School), shows the practice methods of this Zen school — from which the last four lines is a famous poem that is learned by most Buddhists, scholars, and writers in Vietnam.

It is an honor to write the preface to this book, which would help those who want to understand the Way of Zen in Vietnam.

Ananda Viet Foundation Publisher | Tâm Diệu

 

GIỚI THIỆU

 

Thiền tông Việt Nam chiếm một vai trò trọng yếu trong lịch sử Phật giáo Việt Nam nói riêng và trong lịch sử nước nhà nói chung là một sự thật mà ai nấy đều công nhận. Nhưng hỏi vì sao nó được địa vị như thế thì có người nói tư tưởng Thiền tông Việt Nam thoát thai từ tư tưởng Thiền tông Trung Hoa nhưng khi qua Việt NamThiền tông Việt Nam hoà đồng cùng với văn hoá Việt và đồng hành cùng với dân tộc Việt tạo nên một sắc thái riêng rất Việt Nam.

Theo lịch sử Phật Giáo qua qua cuốn Nghiên Cứu về Thiền Uyển Tập Anh của GS. Lê Mạnh Thát, Phật giáo được truyền vào Việt Nam từ Ấn Độ rất sớm, vào thế kỷ thứ 2 và thứ 3 trước cả Trung Hoa với các thiền sư như Mâu Tử và Khương Tăng Hội.

Mãi cho đến thế kỷ thứ 6 Thiền Tông Trung Hoa mới được truyền sang Việt Nam bởi Thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi, người nước Nam Thiên Trúcđệ tử của Tam tổ Tăng XánTư tưởng chính là tu tập theo các kinh Phật Giáo Bắc Truyền, Lục Độ Ba La Mật và Trí Tuệ Bát Nhã, cùng pháp Thiền quán về tâm ấn chư Phật. Thiền phái này được truyền qua 19 thế hệ.

Vào thế kỷ thứ 8 đệ tử của Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải là Vô Ngôn Thông sang Việt Nam truyền pháp Thiền Nam Phương của Lục Tổ Huệ Năng, với chủ trương đốn ngộ và “dĩ tâm truyền tâm” (tâm truyền tâm). Thiền phái này được truyền qua 15 thế hệ.

Đến thế kỷ thứ 11 thiền phái Vân Môn được Thiền sư Thảo Đườngđệ tử của Thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển nhân đi qua nước Chiêm Thành truyền giáo bị Việt Nam bắt làm tù binh trong cuộc chiến tranh Việt – Champa, sau đó sư được phóng thích. Sư tu tại chùa Trấn Quốcthành lập phái Thiền Thảo Đường và được vua Lý Thánh Tông phong làm Quốc sư. Thiền phái Thảo Đường chủ trương Nho Giáo đồng hành và có khuynh hướng thiền học trí thức và văn chương nên rất gần gũi với các tầng lớp trí thức và quý tộc, điều này đã làm ảnh hưởng nhiều tới Phật giáo thời Trần.

Đến thế kỷ thứ 13 vào thời đại nhà Trần, vua Trần Nhân Tông thường tham học Thiền với Tuệ Trung Thượng Sĩ, người được xem là đã kiến tánh giác ngộ, sau đó vua nhường ngôi vua cho con và xuất gia tu hành theo đạo Phậthoằng pháp với hiệu là Trúc Lâm Đầu Đàsáng lập Thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền Phật giáo mang bản sắc văn hóa Việt Nam với tinh thần nhập thế. Là sự kết hợp và kế thừa Tư tưởng của ba thiền phái là Tì Ni Đa Lưu ChiVô Ngôn Thông, và Thảo Đường. Ba vị tổ quan trọng nhất của Thiền phái này là Trần Nhân TôngPháp Loa, và Huyền Quang.

Đến thế kỷ thứ 17, thiền phái Tào Động được truyền sang miền Bắc Việt Nam bởi Thiền sư Thông Giác Thủy Nguyệt, sau sáu năm tu học ở Trung Quốc với Thiền sư Nhất Cú Trí Giáo và nối pháp tông Tào Động. Pháp tu chính yếu của dòng Thiền này là Thiền Mặc chiếu với chủ trương tọa thiền để khai ngộ. Thiền Tào Động cũng được Thiền sư Thạch Liêm đời thứ 29 truyền qua miền Trung Việt Namtuy nhiên Thiền sư Thạch Liêm ảnh hưởng và mang đậm tư tưởng Thiền Khán Thoại Đầu của tông Lâm Tế và thuyết Tam giáo đồng nguyên.

Thiền phái Lâm Tế cũng được truyền vào miền Bắc Việt Nam vào thế kỷ thứ 17 bởi thiền sư Chuyết Chuyết người Trung Hoa và từ thiền phái này đã sản sinh ra Thiền sư Chân Nguyên là người có công khôi phục dòng Thiền Trúc Lâm.

Do chiến tranh loạn lạc liên tục, dân tộc Việt Nam thường trực ước mơ hòa bình và ổn định. Cả hai Thiền phái này có khuynh hướng hòa nhập với Tư Tưởng Tịnh Độ, vừa chuyên tâm tu thiền định vừa niệm Phật.

Trong thời hiện đạiHòa thượng Thích Thanh Từ (sinh năm 1924) là người chủ trương khôi phục lại tinh thần của Thiền phái Trúc Lâm và xây dựng nhiều Thiền viện cùng là dạy tăng chúng tu tập theo đường lối của Thiền sư Khuê Phong Tông Mật, đó là kiến tánh khởi tu, thiền giáo song hành và thực hành phương pháp Thiền Tri Vọng (biết vọng không theo) và pháp Lục Diệu môn.

Và mới đây cũng có Thiền sư Thích Duy Lực (1923 – 2000), đệ tử Hòa thượng Thích Hoằng Tu, cao tăng người gốc Hoa sang Chợ lớn, Sài Gòn hoằng pháp, thuộc dòng Tào Động hệ phái Cổ Sơn do ngài Vĩnh Giác Nguyên Hiền (1578-1657) sáng lập, chủ trương đào tạo các đệ tử theo phương pháp Thiền Khán Thoại Đầu của tông Lâm Tế, khá thịnh hành tại miền Nam Việt Nam.

Đó là sơ lược sự truyền bá Phật giáo tại Việt Nam từ những ngày đầu lập quốc cho đến ngày nay với các dòng thiền du nhập từ nước ngoài — Tì Ni Đa Lưu ChiVô Ngôn ThôngThảo ĐườngTào Động, và Lâm Tế — và ba dòng Thiền trong đó hòa nhập với văn hóa Việt để trở thành Thiền phái Trúc Lâm. Câu hỏi nên nêu ra: đường lối Thiền Tông tại Việt Nam là gì? Có một câu trả lời, hay nhiều hơn? Hay là, câu trả lời nên là một cử chỉ không lời? Ai có thẩm quyền trả lời những câu hỏi đó?

Tác giả sách này đã tìm cách trả lời các câu hỏi trên qua các thi kệ thiền của chư Thiền sư, những người đã đặt nền móng cho tu học Thiền tại Việt Nam, và  hy vọng trình bày được một cái nhìn chính xác và xuyên suốt về đường lối Thiền Tông tại Việt Nam.

Sách thuộc loại song ngữ Việt Anh gồm 95 bài thi kệ thiền, dịch Việt bởi Thiền sư Thích Thanh Từ, Giáo sư Lê Mạnh Thát và nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn. Tác giả dịch sang Anh ngữ với lời ghi chú nơi mỗi bài. Đặc biệt bài 95 là bài phú khá dài của Vua Trần Nhân Tông, sáng tổ dòng Thiền Trúc Lâm, được trình bầy như là toát yếu đường lối tu hành của dòng thiền này, trong đó có bài thi kệ cuối nổi tiếng mà các nhà văn học, các văn nhân thi sĩ cũng như mọi người theo đạo Phật đều biết đến.

Trân trọng kính giới thiệu. Sách này sẽ giúp các độc giả muốn tìm hiểu về Thiền Tông Việt Nam.

Nhà xuất bản Ananda Viet Foundation | Tâm Diệu

MC LC

 

Phần 1. (từ trang 21 đến  trang 42)

1. Advising People To Enter The Way | Khuyên Đời Vào Đạo 2. The Treasure | Kho Báu 3. Sitting | Ngồi  4. The Mind Seal | Tâm Ấn   5. This Land, This Mind | Đất Này, Tâm Này  6. Wordless | Không Lời 7. Rise and Decline | Thạnh Suy 8. Illusory | Huyễn  9. The Mind of Emptiness | Tâm Không  10. Serenity | Tịch Lặng

Phần 2. (từ trang 43 đến  trang 59)

11. Existence and Nonexistence | Có Và Không 12. True Nature | Chân Tánh 13. Crossing the Ocean | Qua Biển Sinh Tử 14. Empty Mind | Tâm Không 15. The Spring | Mùa Xuân 16. Emptiness | Không 17. At Home | Tại Nhà 18. Weird Thing | Việc Kỳ Đặc 19. The Sun | Mặt Trời 20. Wisdom | Tuệ

Phần 3. (từ trang 60 đến  trang 78)

21. Illusory Body | Ảo Thân 22. Breathing | Thở 23. Buddha Seed | Hạt Giống Phật  24. Learning | Học Đạo 25. Taming The Mind | Luyện Tâm 26. Watchful | Thẩm Sát 27. Dharma Friends | Bạn Đạo 28. The Present | Hiện Tại 29. Not Two Things | Không Hai Pháp 30. Swallow Flying | Nhạn Bay

Phần 4. (từ trang 79 đến  trang 95)

31. At Ease With Birth And Death | Sống Chết Nhàn Mà Thôi 32. Bodhi Scenes | Bồ Đề Cảnh 33. Mind Teachings | Tâm Tông 34. Death Poem | Kệ Thị Tịch 35. The Moon Shining | Trăng Sáng 36. Fire | Lửa 37. The Unconditioned | Vô Vi 38. Like An Echo | Như Vang 39. Nowhere | Không Một Nơi 40. Taming The Mud Ox | Chăn Trâu Đất

Phần 5. (từ trang 96 đến  trang 115)

41. Butterflies | Bướm 42. Echo In Sky | Tiếng Vang 43. In Front Of Your Eyes | Trước Mắt 44. Cessation | Tịch Diệt 45. The Thus Come One | Như Lai 46. Dharma of Equality | Bình Đẳng 47. The Way Of Patriarchs | Tổ Sư Thiền 48. Illusions | Huyễn 49. Daisies | Cúc Hoa 50. Mind Only | Duy Có Tâm Thôi

Phần 6. (từ trang 116 đến  trang 142)

51. The Nature Of The Mind | Kiến Tánh 52. The Buddhas Within | Chư Phật Trong Ta 53. The Lamp | Ngọn Đèn 54. Leaving The World | Xuất Thế 55. From The Emptiness | Từ Không Mà Tới 56. The Highest | Bậc Nhất 57. Practice | Thiền Tập 58. The Six Words | Sáu Chữ 59. Like A Dragon | Như Rồng 60. Birth and Death | Sinh Và Tử

Phần 7. (từ trang 143 đến  trang 168)

61. Not For Profit | Không Vì Lợi 62. Urgently Practice | Gấp Tu 63. The ‘What Is’ | Cái Đương Thể 64. Sitting Still Tĩnh Tọa 65. At Ease With Birth And Death | Sống Chết Nhàn Mà Thôi 66. Be Wise | Hãy Có Trí Tuệ 67. Nothing Attainable | Vô Sở Đắc 68. Stone Horse | Ngựa Đá 69. Outside The Scriptures | Giáo Ngoại 70. Sun Of Wisdom | Mặt Trời Trí Tuệ

Phần 8. (từ trang 169 đến  trang 201)

71. Foolish Si | Độn 72. Message | Lời Nhắn 73. Dharma Heir | Người Nối Dòng Pháp 74. Seeking The Mind | Tìm Tâm 75. Not A Word | Không Một Lời 76. The Three Studies | Giới Định Tuệ 77. Originally Emptiness | Vốn Là Không 78. The Iron Girl | Cô Gái Sắt 79. Seeing The Buddha | Thấy Phật 80. Always There | Thường Trụ

Phần 9. (từ trang 202 đến  trang 242)

81. Feeling Inspired | Phòng Núi Khởi Hứng  82. Mountain Temple | Chùa Núi 83. Going Home | Về Nhà 84. Manifesting | Hiển Lộ 85. Encouraging | Sách Tấn 86. Going Home | Về Quê 87. The True Body | Chân Thân 88. Be Awakened | Tỉnh Giác 89. The Serene Mirror | Gương Lặng Lẽ 90. No Difference Between Ignorance And Enlightenment | Mê Ngộ Không Khác

Phần 10. (từ trang 243 đến  trang 283)

91. Zen | Thiền 92. Bodhi | Bồ Đề 93. The Great Way | Đại Đạo 94. Song Of The Buddha Mind | Phật Tâm Ca 95. Living Amid Dust And Enjoying The Way | Cư Trần Lạc Đạo

INTRODUCTION

What is the way of Zen in Vietnam? Is there only one answer, or many? Should the answer be a wordless gesture? Who has the authority to answer those questions?

This book is written to give a glimpse of the way of Zen in Vietnam. Personally, I am nobody. Though I have studied and practiced Zen for nearly half a century, I feel I will always remain a student of Zen. Readers can find many of the sentences here in some books of Buddhism in Vietnam; some are my memories of the things I’ve read or heard. The comments and the English translation in this book are mine; otherwise will be indicated.

Three of those I am indebted to are Zen Master Thích Thanh Từ, Prof. Lê Mạnh Thát, and researcher Trần Đình Sơn. In this book, I use many poems that were translated into modern Vietnamese language by the three scholars above. The ancient Zen masters in Vietnam wrote poems in the Chinese and Nôm languages. At times, I paraphrase poems into simple prose to make them easier to understand.

This book is not for profit. You are free to copy or reproduce noncommercially. May all beings be healthy and happy; may all beings be free.

Đường lối Thiền Tông tại Việt Nam là gì? Có một câu trả lời, hay nhiều hơn? Hay là, câu trả lời nên là một cử chỉ không lời? Ai có thẩm quyền trả lời những câu hỏi đó?

Sách này được viết để cho một cái nhìn về Thiền Tông tại Việt NamBản thân tôi không là gì cả. Dù tôi học và thực tập Thiền trong gần nửa thế kỷ, tôi cảm thấy mình vẫn là một Thiền sinh vĩnh viễnĐộc giả có thể thấy nhiều câu nơi đây trong các sách về Phật Giáo Việt Nam; một số là ký ức tôi nhớ về những gì tôi đã đọc hay nghe. Các ghi nhận và phần Anh dịch trong sách là của tác giảtrường hợp khác sẽ kể rõ tên người ghi nhận.

Ba tác giả tôi mang ơn là Thiền sư Thích Thanh Từ, Giáo sư Lê Mạnh Thát và nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn; trong sách này, tôi sử dụng nhiều bài thơ được ba học giả này dịch sang tiếng Việt hiện nay. Các Thiền sư tại Việt Nam nhiều thế kỷ trước đã làm thơ bằng tiếng Hán và tiếng Nôm. Có những lúc, tôi chuyển các bài thơ sang văn xuôi đơn giản để dễ hiểu hơn.

Sách này viết không vì lợi nhuận. Ai cũng có quyền tự do sao chép hay phổ biến lại, một cách phi thương mại. Xin nguyện cho tất cả chúng sinh được sức khỏe và hạnh phúc; xin nguyện cho tất cả chúng sinh được giải thoát.

pdf_download_2
The Way of Zen in Viet Nam Final Final- Size – 6 x 9

blank

Mong muốn pháp được lưu truyền rộng rãitác giả và nhà xuất bản không giữ bản quyền sách. Giá bán khi độc giả đặt mua là giá thành tối thiểu của Amazon nhằm trang trải chi phí in ấn cho một quyển theo hình thức POD (Print on Demand).

Quý độc gỉa có thể tiếp cận được sách qua ba nguồn sau: (1) Đọc online,  (2) Download phiên bản PDF về máy nhà và (3) Đặt mua sách trên mạng Amazon:  https://www.amzn.com/B089CLPVSG

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Bí ẩn dưới lòng hoang mạc Israel

Bí ẩn dưới lòng hoang mạc Israel

Sara Toth StubBản quyền hình ảnhSARA TOTH STUB
Image captionQua nhiều thế kỷ, hàng ngàn hầm mỏ và địa đạo được đào bên dưới Công viên Quốc gia Timna

Trên Sa mạc Negev của Israel, con đường bên hông dẫn vào thung lũng bao quanh bởi những rặng đá màu đỏ, tím và nâu.

Giờ đây là một phần trong Công viên Quốc gia Timna, thung lũng này nổi tiếng với những rặng đá răng cưa bị bào mòn bởi gió và nước qua hàng ngàn năm.

Mũi Siccar: Nơi lịch sử Trái Đất được viết lại

Nơi phải dựa vào đoàn la thồ hàng giữa lòng nước Mỹ

Mộ Thành Cát Tư Hãn: Bí ẩn không thể tìm ra?

Du khách và những nhà địa chất đã đến đây để trầm trồ ngắm nhìn những khối đá với hình dạng như cây nấm khổng lồ, những cột đá thanh nhã và mái vòm đá mong manh.

Khi ấy là giữa buổi sáng, và tôi đang chuẩn bị một chuyến đi bộ ngắn, mặt trời trên đầu cực kỳ nóng bỏng. Từ nơi bắt đầu hành trình gần một cấu trúc đá nổi tiếng màu san hô có tên Mái vòm (Arches), tôi đi bộ lên quả đồi nhỏ và sau 10 phút đã đứng trên đỉnh một bình nguyên.

Từ vị trí trên cao, tôi có thể nhìn thấy địa hình gồ ghề trong thung lũng, với các rặng đá trên cao và hẻm núi bên dưới.

Cảnh tượng đẹp tuyệt vời, và câu chuyện về vùng đất này cũng vậy – đó cũng là lý do khiến mọi người tìm đến vùng đất khắc nghiệt từ thời tiền sử. Và ta chỉ có thể trải nghiệm câu chuyện đó bằng cách đi bộ xuống lòng đất.

Sara Toth StubBản quyền hình ảnhSARA TOTH STUB
Image captionCông viên Quốc gia Timna ở Israel nổi tiếng vì địa hình đồi núi gập ghềnh và các cấu trúc đá hình thù lạ

Công viên Quốc gia Timna từng là trung tâm sản xuất kim loại thời cổ đại; từ nơi đây, hàng ngàn hầm mỏ và địa đạo đã được đào xới để khai thác đồng lẫn sâu trong nhiều tầng đá.

Dấu vết của quặng đồng màu xanh dương và xanh lục lốm đốm trên con đường đi bộ sỏi đá khi tôi tiến dần đến khu mỏ xưa cũ nhất nằm trong công viên, từng được khai thác vào khoảng năm 4500 trước Công nguyên.

Santorini, hòn đảo Hy Lạp xinh đẹp và nền văn minh đã mất

Bữa ăn đậm nét Tây Ban Nha là thế nào?

Những phụ nữ góa không chốn nương thân

Những thanh tay vịn bằng kim loại giúp du khách định hướng vài mét sâu xuống đoạn đường hơi dốc để vào mỏ, đường đi bộ hẹp với trần quá thấp tới mức tôi phải quỳ xuống và bò vào hang để tránh đụng đầu.

Ánh sáng bên trong hầm mỏ tỏa ra từ đoạn lối ra sau nhiều năm bị sạt lở, làm lộ ra những đường vạch theo chiều dọc theo bức tường do công cụ bằng đá từng được sử dụng để đào sâu vào lòng đất.

“[Thợ mỏ] làm việc trong điều kiện cực kỳ khắc nghiệt trên hoang mạc, một nơi không có nước và không có bất cứ gì,” ông Erez Ben-Yosef, giáo sư ngành khảo cổ học tại Đại học Tel Aviv và giám đốc của Dự án Thung lũng Trung tâm Timna, nói. Đây là một dự án nghiên cứu liên ngành về lịch sử vùng đất này vào thời đồ đồng.

Khu mỏ này và nhiều mỏ khác trong khu vực lần theo dấu vết màu xanh lam nhạt của đồng chạy qua lòng đất về miền nam Biển Chết ở Israel và Jordan.

Hàng ngàn năm trước, thợ mỏ đẽo đồng ra khỏi quặng, đưa khỏi mỏ, sau đó nấu chảy để tách được chút kim loại lấp lánh dùng làm hạt cườm, mặt dây chuyền và các vật phẩm trang trí khác.

Đó là một trong những điển hình xa xưa nhất khi con người bắt đầu tách kim loại từ đá, Giáo sư Ben Yosef nói, và nhờ vào khí hậu khô hạn, Timna là một trong những nơi giữ được nguyên vẹn những khu mỏ từ thời xa xưa.

“Bạn có thể thấy mọi thứ. Bạn có thể chạm tay vào những thứ từng bị bỏ lại tại Timna từ 3.000 đến 4.000 năm trước,” ông cho biết.

Sara Toth StubBản quyền hình ảnhSARA TOTH STUB
Image captionMỏ đồng cổ xưa nhất tại Công viên Quốc gia Timna có từ năm 4500 trước Công nguyên

Cùng với khu mỏ này, còn có một số công cụ bằng đá và những đống đá bỏ lại từ quá trình nấu chảy đồng. Ngoài ra thợ mỏ không bỏ lại gì nhiều.

“Chúng ta biết rất ít về những thợ mỏ đầu tiên,” Giáo sư Ben-Yosef nói. “Ta không có tên gọi cho họ. Ta chỉ biết họ là người địa phương làm việc với những công cụ bằng đá cực kỳ thô sơ.”

Hồ bong bóng băng kỳ ảo ở Canada

Hoàng Sơn băng giá đệ nhất đỉnh của TQ

Baia, thành phố La Mã tội lỗi nơi đáy biển

Những hang động và hầm mỏ trong Công viên Quốc gia Timna tiết lộ hàng ngàn năm lịch sử khai thác mỏ. Chứng cứ cho thấy những khu mỏ này có liên hệ với Vương quốc Mới của Ai Cập cổ đại, tồn tại từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 11 trước Công Nguyên.

Đồng khai thác từ nơi đây đã làm giàu cho những vị vua Ai Cập cổ đại, các pharaoh Ramses, những người từng sử dụng đồng để chế tác mọi thứ từ vũ khí đến trang sức.

Tuy nhiên, nhiều bằng chứng xa hơn cho thấy khu mỏ đi vào thời kỳ thịnh vượng đỉnh cao vài năm trăm sau đó.

Bằng phương pháp xác định niên đại bằng carbon phóng xạ với độ phân giải cao, các hạt giống và mẫu vật hữu cơ mà thợ mỏ bỏ lại trong các trại lao động cho thấy khu mỏ đã bắt đầu hoạt động từ thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ thứ 9 trước Công nguyên.

Thông tin này củng cố thêm niềm tin vào một số lý thuyết cho rằng mỏ Timna là nơi khai thác đồng cho đền thánh của Vua Solomon ở Jerusalem.

Mãi đến gần đây, các chuyên gia vẫn cho rằng nô lệ chính là những thợ mỏ trong quá trình lao động khắc nghiệt này. Nhưng những phát hiện khảo cổ trong vài năm qua, trong đó có những mẫu vải nhuộm chất lượng cao còn được bảo quản nguyên vẹn qua thời tiết khô hạn, cho thấy công nhân luyện kim được thuê về để làm việc chứ không phải nô lệ.

Các di chỉ xương cừu và dê cũng như những hố quả oliu và chà là cho thấy công nhân ăn uống theo chế độ giàu dinh dưỡng hiếm thấy so với cuộc sống thông thường trong hoang mạc.

Sara Toth StubBản quyền hình ảnhSARA TOTH STUB
Image captionChữ viết và dấu vết thợ mỏ thời xa xưa bỏ lại vẫn còn trên tường đá

Vào thời này, người ta đã học cách biến đồng tìm được trong mỏ quặng ở Timna tại thành công cụ lao động và vũ khí, và họ biết cách trộn đồng nguyên chất với thiếc để tạo ra đồng thau, một chất liệu cứng hơn nhiều.

Chứng cứ của lao động luyện kim thời sơ khai xuất hiện trong nhiều bảo tàng trên thế giới.

Bảo tàng Eretz Israel ở Tel Alviv có bộ sưu tập cổ vật lớn nhất từ Timna, bao gồm dùi đục bằng đồng trong khai quặng và tượng rắn bằng đồng thau trong đền thờ địa phương.

“Khi bạn thấy những gì họ chế tác, bạn sẽ hiểu vì sao những lao động trong khu mỏ đáng giá đến vậy,” Giáo sư Ben Yosef nói.

Du khách có thể vào thăm khu mỏ trong giờ công viên quốc gia mở cửa mà không cần đặt chỗ trước hay có hướng dẫn viên.

Dù hang động là chốn nghỉ chân mát lịm tránh khỏi cơn nóng, nhưng tôi vẫn cảm thấy thư thả hơn khi đi đến cuối đường hầm. Trèo lên thang quay trở lại sa mạc nóng như thiêu, cảm giác được đứng thẳng trở lại thật dễ chịu.

Tôi tiếp tục theo con đường đi xuống một mỏ khai thác trông như vách đá gần 3.000 năm tuổi để có thể cảm nhận được con đường hẹp trong hốc đá mà thợ mỏ trèo ra vào thời đó.

Xa hơn một chút dọc theo hoang mạc khô hạn, nhiều cửa vào hàng loạt khu mỏ trông như những hốc lốm đốm màu lam ngọc dọc theo tường đá.

Xung quanh tôi, những rặng đá đủ màu sắc nhiều tầng vươn cao như muốn rướn tới mặt trời hoang mạc nóng bỏng.

Quang cảnh đẹp đến kinh ngạc, không cần phải nói, nhưng vẫn không thể sánh kịp điều kỳ diệu mà mà những thợ mỏ xa xưa nhất trên thế giới để lại.

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Travel.

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Phật giáo Hòa Hảo

Phật giáo Hòa Hảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Buớc tưới chuyển hướngBước tới tìm kiếm

Biểu tượng Phật giáo Hòa Hảo

Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ

Phật giáo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm Kỷ Mão 1939, lấy pháp môn “Học Phật – Tu Nhân” làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia (Tại gia cư sĩ). Tôn giáo này lấy nền tảng là Đạo Phật, kết hợp với những bài sấm kệ do chính Huỳnh Phú Sổ biên soạn.

Theo thống kê năm 2009 có khoảng 1.433.252 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo khiến tôn giáo này trở thành tôn giáo có số tín đồ đông thứ 4 tại Việt Nam.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Phật giáo Hòa Hảo ra đời tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) vào năm 1939 do Huỳnh Phú Sổ sáng lập.

Huỳnh Phú Sổ, còn được gọi là “Thầy Tư Hoà Hảo”, “Đức Huỳnh Giáo chủ”, khi đó chưa đầy 18 tuổi, tuyên bố mình là bậc “Sinh nhi tri”, biết được quá khứ nhìn thấu tương lai, được thọ mệnh cùng với Phật A-di-đà và Phật Thích-ca Mâu-ni, xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để Chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và “đưa nhân loại đi vào vòng hạnh phúc”. Ông chữa bệnh cho người dân bằng các bài thuốc nam do ông kê toa hoặc nước lã, giấy vàng, lá xoài, lá ổi, bông trang, bông thọ, đồng thời qua đó ông truyền dạy giáo lý bằng những bài sám giảng (còn gọi là sấm giảng) do ông soạn thảo. Vì vậy chỉ trong vòng 2 năm từ 1937 đến 1939 số người tin theo ông đã khá đông và ông trở nên nổi tiếng khắp vùng.

Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (tức 4 tháng 7 năm 1939), Huỳnh Phú Sổ bắt đầu khai đạo, khi ông chưa tròn 20 tuổi. Nơi tổ chức lễ khai đạo chính là gia đình ông. Ông đã lấy tên ngôi làng Hòa Hảo nơi mình sinh ra để đặt tên cho tôn giáo mới của mình: Phật giáo Hòa Hảo. Sau đó, ông được các tín đồ suy tôn làm thầy tổ, và gọi ông bằng cái tên tôn kính là Đức Tôn Sư, Đức Thầy.

Kể từ đó, ông lần lượt làm nhiều bài thơ ca, sau được tập hợp lại thành quyển Sấm giảng thi văn giáo lý, nội dung cốt lõi là giáo lý của Đức Phật Thích Ca, và có phần gần gũi với tư tưởng thần bí và tín ngưỡng dân gian ở Nam Bộ lúc bấy giờ.

Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo, xưa thuộc làng Hòa Hảo, nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Thời kỳ 1941 – 1944[sửa | sửa mã nguồn]

Sang năm 1941, đạo Hòa Hảo tiếp tục gia tăng số lượng tín đồ của mình một cách nhanh chóng. Khi Nhật vào Đông DươngPháp lo ngại Nhật tranh thủ giáo phái Hòa Hảo nên đã câu thúc Huỳnh Phú Sổ ở Châu ĐốcBạc LiêuCần Thơ. Năm 1942, Nhật vận động được ông về Sài Gòn. Tại đây, ông đã vận động được nhiều nhân vật hoạt động chính trị thân Nhật vào đạo Hòa Hảo để gây thanh thế, đồng thời thời gian này nhiều thanh niên theo đạo Hòa Hảo cũng tham gia các tổ chức của Nhật. Năm 1944, Phật giáo Hòa Hảo thành lập lực lượng vũ trang dưới tên gọi Đội Bảo An.[2]

Thời kỳ 1945 – 1955[sửa | sửa mã nguồn]

Xung đột với Việt Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Nam Bộ là nơi phát tích của giáo phái Hòa Hảo, với đa số tín đồ là những người dân hiền hòa, yêu nước. Nhằm thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân, Ủy ban nhân dân Nam Bộ mới thành lập sau Cách mạng tháng Tám đã mời người sáng lập giáo phái là Huỳnh Phú Sổ giữ chức ủy viên đặc biệt của Ủy ban. Tuy nhiên, Việt Minh cho rằng một số lãnh đạo Hòa Hảo có nhiều tham vọng về quyền hành đã lợi dụng danh nghĩa của giáo phái Hòa Hỏa đòi giao những tỉnh có đông tín đồ (như Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc) cho họ quản lý. Khi yêu sách này không được đáp ứng, họ 2 lần tổ chức biểu tình tuần hành, kéo vào thị xã Long Xuyên (cuối tháng 8-1945) và thị xã Châu Đốc (đầu tháng 9-1945) định gây bạo loạn cướp chính quyền. Lực lượng vũ trang cách mạng được huy động đến kịp thời giải tán.[3] Theo Archimedes L.A Patti, Hòa Hảo chống lại chủ trương của Việt Minh muốn đàm phán với Đồng Minh nên tổ chức biểu tình đòi vũ trang quần chúng chống lại việc quân Anh, Pháp đổ bộ vào Nam Kỳ[4].

Ngày 8/9/1945, những người đứng đầu Phật giáo Hòa Hảo lại tổ chức tuần hành ở thị xã Cần Thơ với khẩu hiệu chống thực dân Pháp và chống độc tài. Việt Minh cho rằng Hòa Hảo muốn cướp chính quyền.[5] Chính quyền tỉnh Cần Thơ giải tán cuộc biểu tình này, bắt những người cầm đầu, đưa ra tòa xét xử và kết án tử hình 3 người đứng đầu. Đối với tín đồ, chính quyền giải thích ý đồ của lãnh đạo Hòa Hảo, khuyên họ trở về nhà tiếp tục làm ăn, không để bị lợi dụng.[3] Huỳnh Phú Sổ giải thích với lãnh đạo Việt Minh Trần Văn Giàu đây là cuộc biểu tình của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo để biểu thị quan điểm đấu tranh chống thực dân Pháp và chống độc tài[6]. Ngày 9 tháng 9 năm 1945, Việt Minh cho Quốc gia Tự vệ Cuộc bao vây trụ sở Phật giáo Hòa Hảo ở số 8 đường Sohier, Sài Gòn để bắt Huỳnh Phú Sổ nhưng ông trốn thoát.[7] Sau cuộc biểu tình tại Cần Thơ, Hòa Hảo bị Việt Minh bắt bớ, đàn áp[5]. Hòa Hảo cho rằng trong năm 1945 khoảng 10.000 tín đồ và cán bộ của họ bị Việt Minh sát hại[8].

Với chủ trương đại đoàn kết toàn dân, ngày 6 tháng 2 năm 1946, tại Chợ Mới (Long Xuyên), Nguyễn Hữu Xuyến, Trung đoàn trưởng Khu 8 của Việt Minh, đã ký với Trần Văn Soái (Năm Lửa), thủ lĩnh một nhóm Hòa Hảo Dân Xã, một thỏa ước nhằm gác bỏ mọi hiềm khích và hiểu lầm cũ, cùng nhau đoàn kết chống thực dân Pháp[3]. Thỏa ước này gồm 3 điều khoản:

  1. Hai bên cam kết không chống lại nhau.
  2. Khi một bên bị Pháp tấn công thì bên kia ứng cứu.
  3. Hai bên phối hợp tổ chức đánh Pháp.

Tháng 6 năm 1946 Hòa Hảo tổ chức lại lực lượng vũ trang lấy tên Nghĩa quân Cách mạng Vệ quốc Liên đội Nguyễn Trung Trực[9]. Ngày 21/9/1946, Hòa Hảo thành lập Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng.

Ngày 14/11/1946, Huỳnh Phú Sổ tham gia Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam bộ với chức vụ ủy viên đặc biệt. Lực lượng vũ trang Hòa Hảo tham gia vào Vệ quốc đoàn do Nguyễn Bình chỉ huy nhưng không chấp nhận các chính trị viên do cấp trên gửi xuống. Tuy nhận lời tham gia Ủy ban Hành chánh Kháng chiến, Huỳnh Phú Sổ vẫn ngầm hoạt động chống lại chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 20/4/1946, Hòa Hảo cùng một số tổ chức khác tại miền Nam thành lập Mặt trận Quốc gia liên hiệp để tự tổ chức chống Pháp tại miền Nam Việt Nam. Mặt trận bầu Huỳnh Phú Sổ (dùng bí danh) làm Chủ tịch. Mặt trận này có lập trường chống lại chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[10][11] Mặt trận quyết định ủng hộ chính phủ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ để từ đó tiến tới thành lập một chính quyền thống nhất Việt Nam. Nguyễn Hòa Hiệp, Tư lệnh Đệ tam sư đoàn ra thông cáo kêu gọi lực lượng kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ hãy ngưng chiến: “Chính phủ Pháp đã bằng lòng để cho chúng ta có quân đội và chính phủ riêng. Hai dân tộc Pháp và Nam Kỳ sẽ sống bình đẳng. Vậy các chiến sĩ đang chiến đấu, hãy ngừng chiến ngay“.

Ngày 17 tháng 2 năm 1947, đại diện của Huỳnh Phú Sổ là Nguyễn Bảo Toàn cùng với lãnh đạo các đảng quốc gia khác như: Nguyễn Hải Thần (Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội), Nguyễn Tường Tam (Việt Nam Quốc dân đảng) thành lập Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp với mục đích hậu thuẫn Bảo Đại đàm phán với Pháp thành lập Quốc gia Việt Nam. Theo kế hoạch của các đảng phái quốc gia tại miền Nam Việt Nam, Hòa Hảo cùng các đảng phái, tôn giáo khác sẽ dùng lực lượng vũ trang của mình từ Đông Nam Bộ (khu 7) về Tây Nam Bộ (khu 8, khu 9) lấy Đồng Tháp Mười làm căn cứ địa, nắm lấy các nguồn tiếp liệu lương thực và kiểm soát các đường giao thông giữa chiến khu 7 (nơi Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ đặt căn cứ), và hai chiến khu 8, 9 để cô lập Nguyễn Bình ở chiến khu 7, vô hiệu hóa lực lượng bộ đội Việt Minh trong hai chiến khu 8 và 9, làm bàn đạp tiến tới vị thế chủ lực lãnh đạo ở vùng Nam Bộ. Về mặt chính trị, dưới danh nghĩa của Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp sẽ tạo thế liên kết với các đảng phái quốc gia ở miền Bắc đã lưu vong sang Trung Hoa, tuyên bố không chấp nhận quyền lãnh đạo Việt Nam của Hồ Chí Minh và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[12]. Đầu tháng 4/1947, các đơn vị vũ trang của Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt, Bình Xuyên di chuyển về Đồng Tháp Mười lập căn cứ. Trên đường hành quân, các đơn vị quân sự này bị chi đội 18 và chi đội 12 Vệ quốc đoàn phục kích ngăn chặn. Họ còn bị phi cơ Pháp bắn phá. Chỉ có một số đơn vị Hòa Hảo và Đại Việt đến nơi nhờ thông thuộc địa bàn. Các đơn vị Cao Đài và Bình Xuyên bị kẹt lại khu 7.[12]

Sau một thời gian tạm hòa hoãn với Việt Minh, từ tháng 3-1947, nhóm Trần Văn Soái không tham gia kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo nữa, mà cùng một tiểu đoàn lê dương Pháp mở cuộc càn quét lớn vào 5 làng ở vùng Tân Châu (Châu Đốc). Đại đội 65 Vệ quốc đoàn cùng dân quân du kích địa phương đã đánh trả quyết liệt, buộc lực lượng của Năm Lửa và quân Pháp phải rút lui.[3] Cuối tháng 3 đầu tháng 4-1947 ở Tịnh Biên, Tri Tôn (Châu Đốc), lực lượng vũ trang Hòa Hảo và Cao Đài Tây Ninh liên tục đánh phá vùng Việt Minh kiểm soát, tàn sát thường dân, đốt phá xóm làng, truy lùng cán bộ Việt Minh và quần chúng cốt cán của Việt Minh.[3] Ngược lại, các đơn vị Vệ quốc đoàn do Việt Minh chỉ huy tại miền Tây Nam Bộ đã càn quét các vùng do Hòa Hảo kiểm soát, đốt phá nhà cửa, lương thực, giết hại thường dân theo đạo Hòa Hảo.[13]

Đầu tháng 4/1947, các đơn vị vũ trang của Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt, Bình Xuyên di chuyển về Đồng Tháp Mười lập căn cứ. Trên đường hành quân, các đơn vị quân sự này bị chi đội 18 và chi đội 12 Vệ quốc đoàn phục kích ngăn chặn. Họ còn bị phi cơ Pháp bắn phá. Chỉ có một số đơn vị Hòa Hảo và Đại Việt đến nơi nhờ thông thuộc địa bàn. Các đơn vị Cao Đài và Bình Xuyên bị kẹt lại khu 7.[12] Theo Việt Minh, những người cầm đầu Dân xã Hòa Hảo phát động một cuộc thanh trừng ở Tây Nam Bộ vào ngày 6/4/1947. Những người dân không ủng hộ Dân xã Hòa Hảo đều bị xem là kẻ thù, bị giết, buộc đá vào cổ, thả trôi sông. Dân chúng vô cùng phẫn uất trước hành động dã man của Dân xã Hòa Hảo.[3] Ngoài việc giết hại dân thường, quân Dân xã Hòa Hảo còn tổ chức các hành động càn quét chống Việt Minh ở các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ.[3]

Ngày 16 tháng 4 năm 1947 Huỳnh Phú Sổ đột ngột mất tích khi đến Tân Phú, Đồng Tháp Mười để hòa giải xung đột giữa Việt Minh và Phật giáo Hòa Hảo. Ông dự Hội Nghị với Việt Minh do Bửu Vinh mời, họp tại làng Tạ Phú, Đốc Vàng, tỉnh Long Xuyên. Trong phiên họp, đèn tắt và có tiếng súng nổ, cận vệ của ông chạy thoát về báo lại. Ngay đêm đó, có thủ bút của ông viết, gửi cho các Tư lệnh Lực lượng Phật giáo Hòa Hảo:

Ông Trần Văn Soái và Ông Nguyễn Giác Ngộ;

Tôi vừa hội hiệp với ông Bửu Vinh, bỗng có sự biến cố xảy ra, tôi và ông Vinh xuýt chết, chưa rõ nguyên nhân, còn điều tra, trong mấy anh em phòng vệ không biết chết hay chạy đi, nếu có ai về báo cáo rằng tôi bị bắt hay mưu sát thì các ông đừng náo động.

Cấm chỉ đồn đãi, cấm chỉ kéo quân đi tiếp cứu, hãy đóng quân y tại chỗ.

Sáng ngày, tôi sẽ cùng ông Bửu Vinh điều tra kỹ lưỡng rồi sẽ về sau.

Phải triệt để tuân lịnh.

Ngày 16-4-1947 : 9 giờ 15 đêm

Ký tên: S

Từ đó người ta không có tin tức về ông. Hòa Hảo tin rằng Việt Minh đã hãm hại ông sau khi đã viết lá thư đêm đó. Khi mất tích ông 27 tuổi. Các tài liệu của phương Tây, Việt Nam Cộng hòa cho rằng Việt Minh thủ tiêu ông[14][15][16]. Tài liệu của công an Việt Nam thừa nhận Huỳnh Phú Sổ đã bị Việt Minh bắt và xử tử ngày 22 tháng 12 năm 1947 tại Long Xuyên[17].

Ủng hộ Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Huỳnh Phú Sổ mất tích, quan hệ Hòa Hảo – Việt Minh hoàn toàn đổ vỡ. Chi đội 2 Lưu động Vệ quốc đoàn do Trần Văn Soái chỉ huy ly khai khỏi Vệ quốc đoàn[18]. Những người chống Việt Minh trong đạo Hòa Hảo hợp tác với Pháp và được Pháp hỗ trợ trang bị và cung cấp tiền bạc[3]. Phật giáo Hòa Hảo lập ra nhiều đơn vị vũ trang mới ngoài những đơn vị vũ trang khác thành lập từ năm 1944, chiếm cứ một số vùng ở Tây Nam Bộ.[3] Lực lượng vũ trang Hòa Hảo chia thành 4 nhóm kiểm soát các khu vực khác nhau tại miền Tây Nam Bộ. Các nhóm này gồm:

  1. Nhóm Trần Văn Soái (Năm Lửa), đóng tại Cái Vồn (Vĩnh Long).
  2. Nhóm Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán), đóng tại Cái Dầu (Châu Đốc).
  3. Nhóm Lê Quang Vinh (Ba Cụt), đóng tại Thốt Nốt (Long Xuyên).
  4. Nhóm Nguyễn Giác Ngộ, đóng tại Chợ Mới (Long Xuyên).[3]

Năm 1947, các lực lượng Việt Minh vừa tổ chức tuyên truyền vũ trang, vừa mở một trận đánh lớn tại Kinh 13. Chỉ huy quân sự của Dân xã Hòa Hảo tuyên truyền: “Súng Việt Minh bắn không nổ!“, xua tín đồ tràn vào trận địa của Việt Minh. Lực lượng vũ trang của Việt Minh một mặt giải thích cho các tín đồ hiểu, mặt khác đánh quân của Dân xã Hòa Hảo, diệt nhiều lính, thu nhiều súng, có 1 Bazoka. Ở khu vực giữa Phú An – Phú Lâm (Tân Châu), Đại đội 65 đánh bật lực lượng của Dân xã ra khỏi vùng này. Việt Minh mở rộng công tác vũ trang tuyên truyền về hướng Thoại Sơn, tiếp tục tiến công ở Ba Thê, đánh lính lê dương đi tàu sắt đổ bộ lên Mốp Văn và Núi Sập, diệt trên 200 lính.[3]

Ngày 18/5/1947, Trần Văn Soái và Đại tá Cluzet, tư lệnh quân đội Pháp tại miền Tây Nam Bộ ký kết Hiệp ước liên quân tại Cần Thơ. Phật giáo Hòa Hảo và lực lượng quân sự của họ được Pháp và Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ công nhận. Pháp cho phép Hòa Hảo kiểm soát một vùng rộng lớn ở Miền Tây (Hậu Giang), đặt Tổng hành dinh tại Cái Vồn, Cần thơ.[19] Hòa Hảo được sử dụng quân đội riêng do sĩ quan Hòa Hảo chỉ huy để bảo vệ tín đồ, được cử đại diện trong các hội đồng hành chính, được phát triển lực lượng võ trang và mang phù hiệu riêng của Phật giáo Hòa Hảo. Quân lực Hòa Hảo hoạt động một mình, nhưng có thể yêu cầu quân đội Pháp yểm trợ khi cần thiết. Ngược lại Phật giáo Hòa Hảo cam kết tôn trọng luật pháp của Pháp, từ chối mọi cộng tác với Việt Minh, và trục xuất mọi cơ quan, nhân sự, hoạt động của Việt Minh ra khỏi các khu vực Hòa Hảo, phối hợp hành quân với quân đội Pháp chống lại Việt Minh, hợp tác với bộ tư lệnh Pháp và Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Trần Văn Soái được Bộ tư lệnh Pháp phong thiếu tướng, các sĩ quan Hòa Hảo khác cũng được phong cấp.[18]

Tháng 6/1947, nhằm thu hút tín đồ Hòa Hảo tạo thành khối đoàn kết các lực lượng chống Pháp, Việt Minh thành lập Ban Hòa Hảo vận tại Chợ Mới – Nhà Bàn, tập trung hoạt động vùng Long Xuyên, Châu Đốc, tuyên truyền chính sách đại đoàn kết dân tộc, vận động tín đồ Hòa Hảo cùng toàn dân kháng chiến chống xâm lược Pháp.[3]

Do Phật giáo Hòa Hảo có tín đồ rất đông ở miền Tây, nhất là các tỉnh: Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Cần Thơ… Đạo này có tổ chức chính trị là Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng làm nòng cốt, nên có nhiều diễn biến phức tạp ngay cả trong nội bộ của đạo. Các lực lượng vũ trang Hòa Hảo hợp tác với Pháp chống lại Việt Minh, khủng bố quần chúng ủng hộ Việt Minh, gây ra nhiều tội ác.[3] Dù vậy, một bộ phận tín đồ là nông dân, khi Việt Minh tích cực vận động thì lần lượt họ giác ngộ và tham gia cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo. Sư thúc Hòa Hảo Huỳnh Văn Trí là người chỉ huy một đơn vị vũ trang trong kháng chiến đã có công lớn trong công cuộc vận động tín đồ Hòa Hảo tham gia kháng chiến. Trong những năm 1949 – 1950, nhiều đồn bót đã án binh bất động, “trung lập hóa”, tránh không đụng độ với lực lượng Việt Minh.[3]

Thời kỳ 1955-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Việt Nam Cộng hòa sau khi thành lập năm 1956 thì đã mở những cuộc hành quân như “Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng” rồi “Chiến dịch Nguyễn Huệ” để bình định các giáo phái hầu thống nhất quân lực. Các lãnh tụ Hòa Hảo như tướng Trần Văn Soái (biệt danh Năm Lửa) rút về cố thủ Đồng Tháp; tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) thì đem quân về chống giữ ở Châu ĐốcLong XuyênRạch Giá. Bị truy nã Trần Văn Soái ra hàng còn Lê Quang Vinh thì bị bắt, sau đem xử tử.[20]

Năm 1964, sau khi Nền Đệ Nhất Cộng hòa bị lật đổ, trung tướng Nguyển Giác Ngộ là Ủy viên đặc trách tôn giáo trong Hội Đồng tướng lãnh, từ đó Phật giáo Hòa Hảo có cơ hội phục hồi tổ chức, xây dựng mở mang các cơ sở tôn giáovăn hóaxã hội. Hệ thống Ban trị sự được kiện toàn từ trung ương đến cơ sở (hình thành cơ cấu tổ chức 4 cấp trung ương, tỉnhhuyện). Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng cũng được củng cố để hỗ trợ cho đạo. Ngày 18-11-1964, Hội Đồng Trị Sự trung ương Giáo Hội Phật giáo Hòa Hảo được thành lập, đồng thời cơ quan lãnh đạo Hòa Hảo có sự phân đôi thành 2 ban trị sự trung ương: phái cũ do Lương Trọng Tường, phái mới do Huỳnh Văn Nhiệm đứng đầu. Theo kiểm kê năm 1965, Phật giáo Hòa Hảo chỉ có một ít chùa, có 390 Độc giảng đường, tín đồ chừng 4 triệu ở khắp các tỉnh Nam Phần, đặc biệt các tỉnh có đông đảo tín đồ là Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Rạch Gía, Cần Thơ, Vĩnh Long.

Năm 1972, Lê Quang Liêm tách ra khỏi phái cũ của Lương Trọng Tường thành lập ban trị sự trung ương mới. Lúc này đạo Hòa Hảo có tới 3 ban trị sự trung ương cùng tồn tại cho đến thống nhất đất nước. Dù phân hóa, Phật giáo Hòa Hảo tiếp tục phát triển vào thời Đệ Nhị Cộng hòa trong đó một sự kiện lớn là việc thành lập Viện Đại học Hòa Hảo năm 1972 ở Long Xuyên. Tính đến thời điểm Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, các nhóm Hòa Hảo điều hành tổng cộng sáu trường trung học phổ thông, một viện đại học và hai bệnh viện. Tất cả những cơ sở này sau đó đều bị chính quyền mới trưng dụng quốc hữu hóa.[21]

Thời kỳ 1976-1998[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ 1999-nay[sửa | sửa mã nguồn]

Phật giáo Hoà Hảo được hoạt động trở lại. Thành lập Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, xây dựng đường hướng Vì Đạo Pháp – Vì Dân tộc, thông qua hiến chương và chương trình đạo sự, hướng dẫn thống nhất toàn đạo tu đúng giáo lý, giáo luật, tôn chỉ hành đạo thuần tuý chơn truyền của Phật giáo Hòa Hảo.[22]

Từ năm 1999, tín đồ Phật giáo Hoà Hảo được phép tổ chức Lễ Khai sáng Đạo Phật giáo Hoà Hảo (18/5 ÂL) và Lễ Đản Sinh Đức Huỳnh Giáo chủ (25/11 ÂL) hằng năm.[23]

Đến nay, Phật giáo Hòa Hảo phát triển chú yếu trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có 397 Ban Trị sự cơ sở ở 17 tỉnh, thành với số lượng tính đồ trên 7 triệu người.

Theo đài RFA thì mỗi lần có các ngày lễ lớn của Phật giáo Hòa Hảo, chỉ có tín đồ thuộc các chi phái nằm trong giáo hội Phật giáo Hòa hảo chính thức do nhà nước quy định mới được làm lễ tại chùa Quang Minh Tự, các nhóm tín đồ không có giấy phép thì không được vào làm lễ[24][25]

Giáo lý Hòa Hảo[sửa | sửa mã nguồn]

Sấm giảng Thi văn Giáo lý Phật giáo Hòa Hảo.

Giáo lý Hòa Hảo được thể hiện trong những bài sấm kệ do Huỳnh Phú Sổ biên soạn, bao gồm 2 phần: Sấm Giảng giáo lý và Thi Văn giáo lý.

Phần thứ nhất: Sấm Giảng Thi văn Giáo lý. Phần này gồm 6 quyển giảng:

1. Quyển thứ nhất: Sấm giảng khuyên người đời tu niệm. Viết theo lối văn lục bát, dài 912 câu.

2. Quyển thứ nhì: Kệ dân của người khùng. Viết theo lối văn thất ngôn trường thiên, dài 476 câu.

3. Quyển thứ ba: Sám Giảng. Viết theo lối văn lục bát, dài 612 câu.

4. Quyển thứ tư: Giác mê tâm kệ. Viết theo thể văn thất ngôn trường thiên, dài 846 câu.

5. Quyển thứ năm: Khuyến thiện. Quyển này dài 776 câu, đoạn đầu và đoạn cuối viết theo thể thơ lục bát, đoạn giữa theo lối thơ thất ngôn trường thiên.

6. Quyển thứ sáu: Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền. Quyển này viết theo lối văn xuôi (tản văn), trình bày toàn bộ tôn chỉ, giới luật của Đạo.

Phần thứ hai: Thi Văn Giáo Lý. Phần này bao gồm hơn 200 bài thi thơ do Huỳnh Phú Sổ viết từ năm Kỷ Mão (1939) đến năm Đinh Hợi (1947).

Có thể coi giáo lý Hòa Hảo là sự tiếp thu và nâng cao tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương của Đoàn Minh Huyên, gồm phần “Học Phật” và phần “Tu nhân”:

  • Phần “Học Phật”: chủ yếu dựa vào giáo lý đạo Phật song được giản lược nhiều và có thêm bớt đôi chút. Tinh thần chính là khuyên tín đồ ăn ngay ở hiền.
  • Phần “Tu nhân”: theo giáo lý Hòa Hảo tu nhân có nghĩa là tu “tứ ân hiếu nghĩa”- đó là 4 điều Đoàn Minh Huyên, đã chỉ ra, bao gồm Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân đồng bào nhân loại, Ân tam bảo (Phật, Pháp, Tăng).

Đạo Hòa Hảo khuyên tín đồ vừa học Phật vừa tu nhân để tạo nên công đức. Có công đức để trở thành bậc hiền nhân. Song, họ đặc biệt yêu cầu tín đạo phải tu nhân, cho rằng việc tu hành phải dựa trên đạo đức, trước hết đạo làm người: Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên (Không có tu nhân thì không thể học Phật, hoặc học Phật mà chẳng tu nhân thì cũng vô nghĩa); Dục tu Tiên Đạo, tiên tu Nhơn Đạo. Nhơn Đạo bất tu, Tiên Đạo viễn hỹ (Muốn tu thành Tiên Phật trước hết phải tu đạo làm người, đạo người mà không tu thì Tiên Phật còn xa vời).

Nghi lễ và tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Thờ phượng[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo lý Phật giáo Hoà Hảo chủ trương thờ phượng đơn giản, không cầu kỳ phức tạp, trở về với nội tâm hơn là hình tướng bên ngoài, đúng với tinh thần vô vi mà Đức Phật Thích Ca đã đề xướng.

Người tín đồ Phật giáo Hoà Hảo thờ cúng ba ngôi hương án tại nhà, bao gồm:

– Thứ nhất là Ngôi thờ Cửu Huyền Thất Tổ: thờ cúng tổ tiên, theo đạo lý uống nước nhớ nguồn.

– Thứ hai là Ngôi thờ Tam Bảo: thờ Thập phương Phật, Pháp, Tăng. Ngôi thờ này có đặt một tấm vải màu nâu (gọi là Trần Dà) tượng trưng cho sự thoát tục và sự đoàn kết. Chúng ta hãy xem qua lời dạy của Đức Huỳnh Giáo chủ:

“Nhưng riêng về cư-sĩ ở nhà không nên tạo thêm nữa; nên thờ đơn-giản cho lòng tin-tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vào các sự hào nhoáng bề ngoài. Từ trước chúng ta thờ trần điều là di tích của Đức Phật Thầy Tây-An để lại. Nhưng gần đây có nhiều kẻ thờ trần điều tự xưng cùng tông-phái với chúng ta, làm sái phép, sái với tôn-chỉ của Đức Phật, nên toàn-thể người trong Đạo đổi lại màu dà. Lại nữa, từ trước đến giờ các sư dùng màu dà để biểu-hiện cho sự thoát tục của mình, và màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa-hiệp của nhân-loại không phân biệt chủng tộc và cá-nhân. Vì vậy chúng ta dùng nó trong chỗ thờ-phượng để tiêu-biểu cho tinh-thần vô thượng của nhà Phật”.

-Thứ ba là Ngôi Thông Thiên: đặt ngoài trời.

Về cách cúng Phật, chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi. Nước lạnh tiêu-biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu-biểu cho sự tinh khiết, còn nhang, dùng đặng bán mùi uế-trược. Ngoài ra chẳng nên cúng một món gì khác cả. Bàn thờ ông bà cúng món chi cũng đặng“. (lời Đức Huỳnh Giáo chủ).

Như trên thì, ngôi thờ Tam Bảo và ngôi Thông Thiên chỉ đặt lư hương, bình hoa, ly nước sạch, ngoài ra không cúng gì khác nữa. Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ thì ngoài ba thứ trên có thể dâng cúng thêm thực phẩm: bánh trái, thức ăn nhưng nên cúng chay.

Hành lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Huỳnh Phú Sổ dạy:

Chỉ thờ lạy Đức Phật, Tổ-tiên, ông bà, cha mẹ lúc còn sống và các vị anh-hùng cứu quốc. Với những kẻ khác, nên bỏ hẳn sự lạy lục người sống, cho đến Thầy mình cũng vậy, chỉ xá thôi.

Người tín đồ Phật giáo Hoà Hảo hành lễ mỗi ngày hai thời vào buổi sáng và buổi chiều theo nghi thức đã được chỉ dạy trong quyển thứ sáu.

Các ngày lễ tết[sửa | sửa mã nguồn]

Các ngày Lễ kỷ niệm trong Đạo đều tổ chức vào ngày âm lịch. Trong một năm, theo âm lịch đạo Hòa Hảo có các ngày lễ, Tết chính:

  • Ngày 1 tháng GiêngTết Nguyên Đán
  • Ngày Rằm tháng Giêng: Lễ Thượng Ngươn
  • Ngày 25 tháng 2: ngày Đức Huỳnh Giáo chủ vắng mặt
  • Ngày 8 tháng 4: Lễ Phật đản
  • Ngày 18 tháng 5: Lễ Khai sáng Đạo Phật giáo Hoà Hảo
  • Ngày Rằm tháng 7: Lễ Trung Ngươn, Vu Lan Báo Hiếu
  • Ngày 12 tháng 8: Vía Phật Thầy Tây An
  • Ngày Rằm tháng 10: Lễ Hạ Ngươn
  • Ngày 17 tháng 11: Lễ Phật A-di-đà
  • Ngày 25 tháng 11: Lễ Đản Sinh Đức Huỳnh Giáo chủ.
  • Ngày 8 tháng Chạp: Lễ Phật thành đạo

Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Cậu bé Ấn Độ dự đoán ôn dịch bùng phát cuối năm trùng với ‘tháng cô hồn’ Trung Quốc

Cậu bé Ấn Độ dự đoán ôn dịch bùng phát cuối năm trùng với ‘tháng cô hồn’ Trung Quốc

Kiên Định | ĐKN 03/06/2020 19,875 lượt xem

Dự đoán bùng phát ôn dịch vào cuối năm của cậu bé Ấn Độ trùng hợp với 'lễ hội ma quỷ' Trung Quốc
Ảnh: Đại Kỷ Nguyên tổng hợp.
Dự ngôn của cậu bé Ấn Độ về sự bùng phát của ôn dịch vào sáu tháng cuối năm nay lại trùng hợp với “lễ hội ma quỷ” của người Trung Quốc.

Năm 2020 kinh tâm động phách sắp đi qua nửa chặng đường. Cho đến nay, những rắc rối và khốn cùng do virus Vũ Hán gây nên cho mọi người vẫn chưa có dấu hiệu thuyên giảm. Nhiều nhà khoa học bày tỏ, virus này sẽ ẩn nấp trong cơ thể người và có thể bùng phát lần thứ hai dưới sự tiếp xúc của một nguyên nhân bên ngoài nào đó.

Trước khi virus Vũ Hán tàn phá toàn cầu, cuối năm 2019, cậu bé Ấn Độ Abhigya Anand thông qua thuật chiêm tinh học của Ấn Độ đã phát hiện, nhân loại sẽ xuất hiện đại kiếp nạn mang tính toàn cầu. Những dự ngôn của cậu bé về sáu tháng đầu năm 2020 đều đã linh ứng. Vì vậy, mọi người càng quan tâm nhiều hơn về dự đoán của cậu bé trong những tháng cuối năm.

Điểm then chốt về dự ngôn của cậu bé lại trùng lặp với lễ hội ma quỷ của Trung Quốc cũng chính là tháng cô hồn hay rằm tháng 7.

Sáu tháng cuối năm, Anand đề cập tới ba thời điểm

  • Đầu tháng 9/2020 là thời điểm vô cùng then chốt. Sẽ xuất hiện bước ngoặt chuyển tiếp, có khả năng bùng phát đợt dịch lần hai, xảy ra nạn đói hoặc những biến động lớn về chính trị. Các triệu chứng này sẽ xuất hiện vào giai đoạn từ tháng 9 đến tháng 10/2020.

Ngày 2/9 dương lịch, trùng hợp chính là ngày 15/7 âm lịch. Văn hóa truyền thống phương Đông gọi ngày này là lễ hội ma quỷ hay còn được gọi là tháng cô hồn. Đây là ngày người dân cúng lễ, thờ cúng linh hồn của tổ tiên và người quá cố. Người Phúc Kiến, Đài Loan và nhiều nước theo âm lịch tại Đông Nam Á đều gọi đây là ‘tháng ma quỷ’ hay tháng cô hồn.

Theo quan niệm dân gian, đây là tháng cổng địa ngục khai mở, những cô hồn dã quỷ vô chủ không nơi nương tựa sẽ được những đại thần ở âm gian dẫn dắt, đi từ âm gian lên dương thế để nhận cúng dường. Vì vậy, ở rất nhiều nơi đều tổ chức các hoạt động cúng lễ, để phổ độ chúng sinh, bố thí cho cô hồn dã quỷ, hy vọng những vong hồn này được an ủi động viên, bảo hộ cho mọi người bình an. Cũng vì vậy, theo quan niệm của người Trung Hoa và nhiều nơi, đây là tháng không may mắn, không thích hợp thực hiện các hoạt động quan trọng như cưới hỏi, làm nhà.

  • Ngày 20/12/2020 sẽ là thời điểm bùng phát đợt tai nạn tiếp theo

Ngày này chính là trước một ngày của lễ tiết quan trọng của người Hoa, ngày Đông chí. Tiết Đông chí, theo lịch Trung Quốc cổ đại, là tiết khí khởi đầu bằng điểm giữa của mùa đông, nó là một trong hai mươi tư tiết khí trong nông lịch. Với các triều đại trong lịch sử Trung Hoa, đây là tiết ký quan trọng để thực hiện các hoạt động cúng tế. Đây là ngày các hoàng đế nhà Minh, Thanh phải tới thiên đàn để cúng tế Trời đất, với bách tính đây cũng là ngày cần cúng tế tổ tiên, ông bà.

Trong Chu Lễ – Xuân quan tông bá có viết: “Dĩ đông nhật chí trí thiên thần nhân quỷ”, nghĩa là lấy ngày Đông chí để cúng tế dâng lên Thần, vong hồn. Trong Đế Kinh Tuế Thời kỷ thắng thời nhà Thanh cũng đề cập: “Trường chí nam giao đại tự, thứ nhật bách quan tiến biểu khánh hạ, vi quốc đại điển”, tạm dịch: “Đây là đại lễ kéo dài tới tận vùng ngoại ô phía nam, các quan lại đều tổ chức ăn mừng vào ngày hôm sau, là đại lễ lớn của quốc gia”

  • Vào ngày 10/2/2021, một hiện tượng thiên văn hiếm gặp sẽ xuất hiện trên trái đất có tên gọi “lục tinh liên châu” khi Mặt Trời, Mặt Trăng, sao Thủy, sao Mộc, sao Kim và sao Thổ nối liền với nhau tạo thành một đường thẳng. Abhigya Anand dự đoán, đây là ngày xảy ra thảm họa lớn, có thể nền kinh toàn cầu sẽ sụp đổ vì ảnh hưởng lâu dài từ dịch bệnh và nhiều phương diện khác nhau. Ngày này, chính là ngày 29/12 âm lịch, một ngày trước đêm giao thừa.
Những dự đoán của cậu bé Abhigya Anand dựa trên thuật chiêm tinh học của Ấn Độ (ảnh chụp màn hình video: Conscience / Youtube).

Đêm giao thừa của người Hoa cũng là thời điểm để thờ cúng tổ tiên. Giao thừa, Thanh Minh, Vu Lan, tết Trùng Dương là bốn ngày lễ quan trọng trong văn hóa truyền thống Trung Hoa, đây cũng là ngày nhà nhà đều cúng thờ tổ tiên.

Thời điểm cậu bé Ấn Độ dự ngôn về kiếp nạn toàn cầu lại hoàn toàn trùng hợp với ba ngày lễ liên quan tới quỷ Thần của người Trung Quốc. Nó làm người ta cảm thấy sởn gai ốc, càng lo lắng sợ hãi những điều sẽ xảy đến vào sáu tháng cuối năm nay của nhân loại.

Người được Diêm La Vương kính trọng là ai?

Người xưa có câu:

“Không làm chuyện trái lương tâm, không sợ ma gõ cửa”.

Nỗi sợ hãi và lo lắng khôn lường nhất của con người nơi thế gian chính là sinh tử sống chết của bản thân. Trong rất nhiều câu chuyện cổ đại đều có ghi chép, người có đức hạnh khi xuống địa ngục, ngay cả Diêm Vương cũng phải kính trọng ba phần, không những vậy còn nhanh chóng tìm một nơi tốt để người này luân hồi chuyển sinh hưởng phúc đức.

Trong Duyệt Vi Thảo Đường bút ký có một câu chuyện như vậy. Chuyện rằng, ở huyện nọ có một người tên Trịnh Tô Tiên, ngày nọ nằm mộng thấy đi xuống địa ngục tình cờ gặp đúng lúc Diêm Vương đang thẩm tra xử lý nghi phạm. Ông nhìn thấy vong hồn một bà lão ở thôn bên cạnh được đưa tới công đường. Khi vừa thấy bà, Diêm Vương lập tức thay đổi nét mặt uy nghiêm, đáng sợ, đứng dậy chắp tay hành lễ với bà lão, mời bà ngồi và sai người dâng trà. Sau đó lập tức hạ lệnh cho quan án nhanh chóng tìm một gia đình tốt để bà lão đi đầu thai.

Trịnh Tô Tiên nhẹ nhàng hỏi vị quan âm sai đang đứng cạnh: “Xin hỏi đại quan, bà lão nông dân này sinh thời có công đức gì?”

Vị quan âm sai trả lời: “Lão phu nhân, sinh thời cả đời không vì ích kỷ cho lợi ích cá nhân mà làm tổn thương người khác. Tâm thái này của bà lão ngay cả một vị hiền sĩ đại phu cũng khó có được”.

Người ích kỷ, chỉ biết bản thân mình chắc chắn sẽ gây tổn hại cho người khác. Sự tinh lanh, gian xảo, khéo léo đều từ đó mà sinh, nhiều tội ác, oán thù cũng được tạo ra từ đó. Thậm chí để tiếng xấu muôn đời, truyền độc tố và những tệ nạn xấu xa khắp nơi cũng đều vì một niệm ích kỷ, vì lợi ích cá nhân mà gây ra.

Tuy nhiên, những người ích kỷ chắc chắn sẽ gây hại cho người khác. Kết quả là sự khôn lỏi và phản bội được sinh ra, và nhiều tệ nạn và kẻ thù cũng được tạo ra. Thế gian ngày càng nhiều tai họa cũng là do lợi ích cá nhân của mỗi người tích tụ lại.

Bà cụ này cả đời luôn cố gắng kiềm chế, khắc phục tích vị kỷ, tư tâm cá nhân. Ngay cả những người ngày ngày học sách thánh hiền, giảng đạo của Nho gia, cũng thấy hổ thẹn khi so sánh với bà. Đây là lý do tại sao ngay cả Diêm Vương cũng tôn trọng hành lễ với bà như vậy.

Thực tế, nếu chưa bao giờ làm điều gì trái với lương tâm, cũng sẽ không lo sợ về sự sống và cái chết. Nói đi thì nói lại, nếu thực sự làm điều gì đó trái với lương tâm, hãy trân trọng những ngày còn được sống tại thế gian, học cách ăn năn hối cải, sửa lỗi vì đây chính là cơ hội tốt.

Theo Văn Tự Mẫn, Soundofhope
Kiên Định biên dịch

Video: Cậu bé Ấn Độ tiên tri về đại dịch toàn cầu

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Phận làm con đã làm được gì cho mẹ?

Phận làm con đã làm được gì cho mẹ?

Trần Phong | ĐKN 28/05/2020 242 lượt xem

Ảnh: pixabay.
Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng. Con nuôi cha mẹ tính tháng kể ngày…

Alo. Anh hai hả? Anh đang ở đâu vậy?

Anh Hai đang ở cơ quan, có gì không cô út?

Chiều về sớm tranh thủ qua nhà em đón Mẹ về nhà anh chị nhé!

Ủa, còn ba ngày nữa Mẹ mới qua nhà anh mà? Sao đón sớm vậy?

Em biết, nhưng mai vợ chồng em đi du lịch với cơ quan cả tuần mới về. Anh hai đón mẹ về nhà anh giùm em sớm vài hôm, tháng sau em bù lại cho.

Thôi được rồi, để anh về bàn với bà xã rồi tính sau

Nghe cuộc nói chuyện của cô con gái, bà Tư buông tiếng thở dài não ruột. Bà đứng lên lửng thững bước chậm chậm ra sân. Bà Tư cầm cái chổi lên quét quanh sân mà lòng ngổn ngang bao nỗi niềm. Bà Tư nhớ lại …

Chồng chết sớm để lại cho bà Tư hai đứa con còn thơ dại. Lúc đó thằng Hai vừa mới chập chững biết đi những bước đầu tiên, con Út thì đang còn nằm nôi. Biết bao nhiêu khổ cực dồn hết lên đôi vai của bà, một sớm hai sương bà tảo tần lo cho hai đứa con khôn lớn. Buông cái này là bà chụp cái kia, làm và chỉ biết làm, miễn sao có tiền nuôi con là được

Khi hai con khôn lớn. Con Út muốn se sua với bạn thỏ thẻ với bà: “Mẹ ơi con muốn mua áo mới”, thằng Hai thì “mẹ ơi, cho con tiền mua chiếc xe đạp”. Bà lúc nào cũng vui vẻ ” Uhm. Để đó mẹ lo”.

Cứ thế, thằng Hai con Út trưởng thành chỉ biết ăn và học trong vòng tay của Mẹ đến khi ra trưởng và lập gia đình riêng. Cả hai đứa đều thành danh trong xã hội. Lúc hai đứa con còn nhỏ, tuy nghèo nhưng rộn rã tiếng cười. Bà Tư buông tiếng thở dài, bà tiếc nuối cái thời gian mẹ con đầm ấm đã qua. . .

Tiếng chuông gọi cửa làm bà Tư giật mình. Bà đi vội ra mở cửa, con dâu ào vào, thằng Hai theo sau. Con dâu lên tiếng:

Cô Út có nhà không hả Mẹ?

Bà vừa đóng cửa lại vừa trả lời: Nó ở trên lầu đó. Cơm nước gì chưa mà bây qua đây?

Con dâu không trả lời, đi vội vào trong nhà. Con Út nghe ồn ào dưới nhà liền chạy xuống. Chị dâu liền hỏi:

Cô Út làm gì mà tui gọi cháy máy không chịu nghe?

Em ở trong phòng xếp mấy bộ đồ để mai đi!

Cô đi rồi mẹ sao?

Con Út hơi khó chịu: Thì em có gọi cho anh Hai nhờ đón Mẹ về bên anh chị vài hôm rồi mà.

Con dâu vội nói: Không được. Mai cuối tuần vợ chông tui cũng có việc đi tỉnh phát quà từ thiện hai ngày mới về. Cô Út xem tính sao thì tính

Con Út lớn tiếng: Anh Chị làm gì mà khó khăn vậy. Đi phát quà từ thiện thôi mà có cần phải gấp như vậy không. Chị lúc nào việc nhỏ cũng làm lên cho nghiêm trọng. Chờ em về rồi hãy đi !

Con dâu cũng không vừa: Vậy sao cô không ở nhà đi để hôm nào đến phiên Mẹ qua tui rồi cô đi du lịch.

Bà Tư sợ mấy đứa con nhìn thấy nên quay mặt đi nơi khác để lau vội giọt nước mắt đang trào ra vì kìm lại không được. Chờ cho cục đắng nghẹn ở cổ trôi xuống. Bà Tư vui vẻ cười ha hả nói:

Chuyện nhỏ mà sao tụi bây ầm ĩ thế. Được rồi để đó Mẹ lo!

Thằng Hai chen ngang: Mẹ lo cách nào?

Bà Tư chậm rãi nói: Lâu quá Mẹ không về quê, sẵn dịp vợ chồng con Út đi du lịch mươi hôm, vợ chồng thằng Hai cũng bận. Luôn tiện này Mẹ cũng muốn về Quê ở chơi với dì Năm bây vài hôm.

Bà Tư nói xong, mấy đứa con đều nhất trí cao cách giải quyết của bà. Con Út lên tiếng: Vậy thì mai anh Hai cho tài xế qua chở Mẹ ra bến xe.

Bà Tư lại vui vẻ cười to để cho mấy đứa con yên tâm: Cứ để đó Mẹ lo. Mai ta nhờ chú Ba xe ôm đầu ngỏ chở ta ra bến xe được rồi.

Đêm hôm đó bà Tư suy nghĩ nhiều lắm. Tháng này ở nhà con Út thì tháng sau ở nhà thằng Hai. Bà Tư cảm thấy mình làm vướng bận cho con cái, vì mình mà hai anh em cãi nhau về chuyện ăn ở của bà. Làm Mẹ, bà không đành lòng nhìn cảnh như vậy!

Tuần sau

Alo cô Út hả? Cô về chưa?

Còn 2 hôm nữa em mới về. Có gì không anh Hai?

Hôm nay anh nóng ruột quá nên gọi cho dì Năm hỏi thăm Mẹ ,thì dì Năm nói là không có thấy Mẹ về nhà dì Năm.

Thế là cô Út và anh Hai cãi nhau ầm ĩ. Người này đỗ lỗi cho người kia. Cô Út đành phải bỏ cuộc du lịch bay về cùng anh Hai đi tìm Mẹ trong vô vọng.

Năm năm sau!

Tại một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô cách xa thành phố, có một ngôi mộ lẻ loi ở sau chùa. Trên tấm bia có ghi:

Phần mộ bà Nguyễn Thị Tư
Pháp danh. . .
Mất ngày. . . Tháng. . . Năm
Không rõ nhân thân

Mọi người trong làng kể lại. Cách đây năm năm, có một bà cụ từ đâu đến xin ở trong ngôi chùa nhỏ này. Từ đó ngôi chùa trở nên sạch sẽ nhờ bàn tay chăm chỉ của bà cụ. Sớm tối bà cụ tụng kinh gõ mõ.

Bà cụ hiền lành phúc hậu nên được dân làng yêu quý, họ đem đến cho cụ mớ rau, khoai củ và những cây nhà lá vườn. Cứ thế, bà cụ sống nhờ vào lòng yêu thương của dân làng. Mọi người ở đây ai cũng nhìn thấy được cụ bà có một nỗi niềm gì đó mà không tỏ cùng ai. Vì nét mặt cụ luôn toát lên một nỗi buồn cho đến tận lúc bà mãi mãi ra đi

Video xem thêm: Cậu bé Ấn Độ tiên tri về đại dịch toàn cầu: Tháng 12 xảy ra thảm hoạ lớn

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

THANH THẢN VỚI VÔ THƯỜNG

THANH THẢN VỚI VÔ THƯỜNG

hoa senMuốn có sự bình tĩnhsáng suốt trong tâm, chúng ta cần thấm nhuần về nghiệp, sự vô thường, quan hệ nhân quả và duyên khởi của vạn pháp đồng thời chấp nhận sự biến dịch vô thường của thế giới. Hiểu được điều này giúp chúng ta tự tin trước các biến động vô thường của đời sống, không còn tâm lý sợ hãi và cũng không hiểu nhầm rằng những gì đang trải qua là sự trừng phạt đối với những ác nghiệp chúng ta đã phạm phải trong quá khứHoàn cảnh khó khăn hiện tại rồi cũng sẽ trôi qua. Kể cả loại virus đang hoành hành cũng sẽ phải trải qua quy luật biến dịch vô thường này.

Những nạn dịch lớn của thế giới

Phần lớn các nạn dịch trên thế giới đều có nguồn gốc từ động vật và gây tổn hại rất lớn cho con người chúng ta như: đại dịch hạch Justinian, cái chết Đen, đại dịch Ebola, Cúm lợn, hay cúm H1N1 (2009 – 2010), SARS…

Trong kinh Phật có dạy: nhân loại sẽ phải trải qua các nạn của Tiểu tam tai và Đại tam tai. Tiểu tam tai gồm nạn đói, nạn dịch và chiến tranh đao binh, gây ra những điều đau thương và hủy hoại con người. Đại tam tai là thời gian còn tương đối xa, thế giới sẽ gặp phải các đại nạn về động đất, hỏa họa, thủy tai và cuồng phong bão tố (các kiếp tai về địa, thủy, hỏa, phong, không đại). Đây là những nạn dịch lớn gần như hủy diệt toàn bộ thế giới.

Lo lắng bên ngoài không đủ

Đại dịch Covid-19 gây ra đang hoành hành trên toàn thế giớiđe dọa nghiêm trọng đến đời sốngsinh hoạtsức khỏe và tính mạng cộng đồng. Chính phủ nhiều nước đang thực hiện các biện pháp hết sức quyết liệt nhằm ngăn ngừa và đẩy lùi đại dịch. Các lực lượng chức năng, những nhân viên y tế, các tình nguyện viên cùng toàn thể xã hội đang cố gắng hết sức phòng chống dịch bệnh bằng tất cả kiến thức và sức lực. Những việc làm này thực sự vô cùng đáng trân trọng.

Hoàn cảnh dịch bệnh hiện tại tất yếu khiến mọi người thấy vô cùng lo lắngsợ hãiTâm lý bất an khiến người dân ở nhiều nơi lo tích trữ lương thực, thuốc men, nhu yếu phẩm… để đề phòng dịch bệnh. Đương nhiên chúng ta cần làm tất cả mọi việc trong khả năng để duy trì sự tồn tại của mình, nhưng nếu suy ngẫm cho kỹ thì điều đó cũng không hoàn toàn đảm bảo. Trên thực tếchúng ta mới chỉ quan tâm đến các biện pháp phòng chống bên ngoài, dù rất cần thiết, mà chưa quan tâm đúng mức đến các biện pháp phòng chống từ bên trong tâm mình.

Đức Phật đã giảng muôn vàn giáo pháp nhằm lợi ích chúng sinh, giúp chúng sinh bớt khổ đau, đem lại an vui, hạnh phúc trong đời sống thế gian và tâm linh. Khi dành thời gian suy ngẫm về những điều Đức Phật đã giảng, chúng ta thấy hiện giờ là lúc cần bình tĩnhsáng suốt, dùng cả sức mạnh trí tuệ, tình yêu thương và lòng bi mẫn của mỗi người để chung sức đồng tâm vượt qua chướng nạn này.

Thanh thản với Vô thường

Muốn có sự bình tĩnhsáng suốt trong tâm, chúng ta cần thực hành giáo pháp của Đức Phật về nghiệp, cần quan tâm đến nghiệp của bản thânChúng ta cần thấm nhuần về nghiệp, sự vô thường, quan hệ nhân quả và duyên khởi của vạn pháp trên thế gianGiáo lý về nghiệp của đạo Phật rất đơn giản nhưng đồng thời cũng mô tả rất thâm diệu về sự vô thường biến dịch của đời sống thế giới. Do ảnh hưởng của nghiệp, vạn pháp thế gian lại đều phụ thuộc lẫn nhau, nên thế giới và bản thân mỗi người đều luôn có những thăng trầm. Từ vô thủy đến naychúng ta luôn đối mặt với sự thay đổi vô thường.

Vì có suy nghĩ bám chấp không muốn bản thân hay những người thân phải trải qua những khổ đau của già, bệnh, chết, nên chúng ta thấy sợ hãi khi phải đối mặt với những hiểm nguy. Hiện giờchúng ta thấy sợ hãi vì không muốn bản thân và mọi người mắc phải căn bệnh do virus này gây ra. Mặc dù suy nghĩ này hoàn toàn chính đáng, nhưng chúng ta không được phép để nỗi sợ hãi này chế ngự bản thân. Nếu cứ bám chấp vào các xúc tình phiền não, bị nhấn chìm bởi căng thẳng lo âuchúng ta chỉ mắc kẹt trong những nỗi sợ hãi và chẳng đem lại kết quả gì tốt đẹp.

Chúng ta cần có trí tuệ hiểu biết và chấp nhận sự biến dịch vô thường của thế giớiQuan tâm đến nghiệp của bản thân chỉ đơn giản có nghĩa là chúng ta tự tạo ra sự thay đổi cho bản thân mình bằng cách thực hành các thiện nghiệp. Hiểu được điều này giúp chúng ta thấy bình tĩnh, tự tin trước các biến động vô thường của đời sống và không còn tâm lý sợ hãi, và cũng không hiểu nhầm rằng những gì đang trải qua là sự trừng phạt đối với những ác nghiệp chúng ta đã phạm phải trong quá khứ.

Đức Phật đã chỉ ra rằng vạn pháp trên thế giới đều trải qua quá trình thành – trụ – hoại – không. Để vượt qua hoàn cảnh khó khăn hiện tại, mỗi người chúng ta hãy tự mình tạo ra sự thay đổi. Hoàn cảnh khó khăn hiện tại rồi cũng sẽ trôi qua. Kể cả loại virus đang hoành hành cũng sẽ phải trải qua quy luật biến dịch vô thường này.

Drukpa Viet Nam

Bài đọc thêm:
Sự Thật Về Vô Thường (Thích Thiện Chánh)
Nguyên lý vô thường trong triết học Phật giáo (Tuệ Hạnh dịch)

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Cỏ non xanh sắc thanh minh, bao nhiêu kiếp trước của mình dưới kia…

Cỏ non xanh sắc thanh minh, bao nhiêu kiếp trước của mình dưới kia…

Cỏ non xanh sắc thanh minh
Bao nhiêu kiếp trước của mình dưới kia
Tổ tiên chài lưới, tát đìa
Ông cha dời núi cũng về nơi đây

Bỏ buông đồng dở luống cày
Quên đi năm tháng những ngày đói no
Lỡ làng xưởng máy, hầm lò
Cuộc đời người giống một trò chơi thôi

Tình, tiền, quyền lực qua rồi 
Trời xanh vẫn đợi, ai người nhớ chăng
Giật giành, thù hận, đua tranh
Ghét ghen cũng nấm cỏ xanh vuông tròn

Thanh minh mây trắng như bông
Hồn người nhang khói giữa hồn tiền nhân
Âm dương chạm cõi tri âm
Mang mang như lọc mình gần mình hơn...

Clip hay: Hiếu thuận với cha mẹ, ông Trời ắt để dành phúc phận cho

Play Video

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Blog at WordPress.com.