Tài Liệu Tham Khảo

Bs Ngô Thế Vinh: ĐBSCL 2020 CÁNH ĐỒNG CHẾT VÀ 45 NĂM ẢO VỌNG TRÍ THỨC

Bs Ngô Thế Vinh: ĐBSCL 2020 CÁNH ĐỒNG CHẾT VÀ 45 NĂM ẢO VỌNG TRÍ THỨC

01 Tháng Tư 202010:10 SA(Xem: 138)

VĂN HÓA ONLINE – TÀI LIỆU – THỨ BẨY 04 APRIL 2020

Ý kiến-Bài vở vui lòng gởi về:  vaamacali@gmail.com (VănHóa Online-California)

ĐBSCL 2020 CÁNH ĐỒNG CHẾT VÀ 45 NĂM ẢO VỌNG TRÍ THỨC

01 Tháng Tư 202010:10 SA(Xem: 106)

VĂN HÓA ONLINE – NHẬT KÝ BIỂN ĐÔNG – THỨ TƯ 01 APRIL 2020
Ý kiến-Bài vở vui lòng gởi về:  vaamacali@gmail.com (VănHóa Online-California)

image016

Bác sĩ Ngô Thế Vinh, hình chụp tháng 5 năm 1999 trên chuyến phà qua Sông Tiền,  phía xa là cây cầu Mỹ Thuận. Hình tác giả cung cấp.

image017

Bìa sách “Mekong – Dòng sông nghẽn mạch” của Ngô Thế Vinh. Tủ sách Văn Hóa.

ĐBSCL 2020 CÁNH ĐỒNG CHẾT

VÀ 45 NĂM ẢO VỌNG TRÍ THỨC

image018image019

Tưởng nhớ GS Nguyễn Duy Xuân, GS Phạm Hoàng Hộ,

Hai tượng đài trí tuệ kiệt xuất, bất khuất của Miền Nam

image020

NGÔ THẾ VINH

Lời Dẫn Nhập: Giáo sư Phạm Hoàng Hộ sau khi hoàn tất bộ sách đồ sộ “Cây Cỏ Việt Nam” mà Giáo sư gọi là “công trình của đời tôi” và vào mấy năm cuối đời, như một Di Chúc, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã đề tặng toàn sự nghiệp ấy cho:

 “Những ai còn sống hay đã chết trong tù vì tháng Tư năm 1975 đã quyết định ở lại để tiếp tục dâng góp cho đất nước.

Tặng giáo sư Nguyễn Duy Xuân nguyên viện trưởng Đại Học Cần Thơ, mất ngày 10/XI/1986 tại trại Cải Tạo Hà-Nam-Ninh.

Tặng hương hồn những ai trên biển Đông đã chết nghẹn ngào”.

Thế hệ sinh sau 30 tháng 4, 1975 nay cũng đã 45 tuổi rồi, cũng là 45 năm của một chính sách ngu dân lãng phí / huỷ diệt nguồn chất xám, và lăng nhục cả một thế hệ trí thức Miền Nam. Và nghĩ xa hơn, một Đồng Bằng Sông Cửu Long sẽ không chết như ngày nay nếu có một nhà nước biết trân trọng sử dụng nguồn chất xám ấy, mà biểu tượng là hai trí tuệ kiệt xuất của Miền Nam như Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Nguyễn Duy Xuân, là hai thành viên sáng lập Viện Đại học Cần Thơ năm 1966, và sau 1975 cả hai có cùng một ý nguyện chọn ở lại để xây dựng đất nước sau chiến tranh và thống nhất. Để rồi, GS Nguyễn Duy Xuân thì chết thảm sau 11 năm bị đầy đọa trong trại tù cải tạo Hà-Nam-Ninh ở Miền Bắc, và GS Phạm Hoàng Hộ thì trải qua một chặng đường vô cùng đau khổ qua “một thời kỳ sống trong ảo vọng là sẽ thấy đất nước đi lên, giai đoạn đi xe đạp, ăn gạo hẩm, tưởng hoa sẽ nở trên đường quê hương” để rồi kết thúc là một cái chết buồn bã xa nửa vòng trái đất bên ngoài quê hương, một quê hương mà ông suốt đời gắn bó và chẳng bao giờ muốn xa rời. Hình ảnh một Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, một Giáo sư Nguyễn Duy Xuân những năm sau 1975, là tấm gương và cũng là một trải nghiệm đau đớn cho cả một thế hệ trí thức Miền Nam. Trang sử ảm đạm ấy là một bài học đắng cay cho cả một dân tộc sẽ không thể và không bao giờ quên. Với các thế hệ trẻ sau 1975 ở khắp năm châu, cùng với bản tiếng Việt, nay có thêm bản tiếng Anh để các bạn dễ dàng tiếp cận hơn với bài học lịch sử ấy.

NHỮNG NĂM ẢO VỌNG

GIÁO SƯ PHẠM HOÀNG HỘ

VÀ BỘ SÁCH CÂY CỎ VIỆT NAM

image021

Hình 1: chân dung Giáo Sư Phạm Hoàng Hộ

[nguồn: album gia đình Gs Phạm Hoàng Hộ]

Peter Shaw Ashton, Giáo Sư Charles Bullard

Ngành Lâm Học, Đại Học Harvard

“Với những ghi chú bằng tiếng Anh, cùng với những nét minh hoạ tinh vi của hơn 10,500 chủng loại, bộ sách Hoạ Hình Cây Cỏ Việt Nam / Illustrated Flora of Vietnam của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã cung cấp cho giới độc giả tiếng Anh lần đầu tiên và cập nhật một tài liệu tham khảo thấu đáo mà chúng tôi ít biết đến. Công trình này sẽ đứng như một tượng đài của sự quyết tâm, cống hiến, và uyên bác với lòng can đảm của tác giả. Giáo sư Phạm Hoàng Hộ hầu như đơn độc hình thành một công trình sinh học thực vật có tầm vóc hàn lâm/ academic tại Đại Học Sài Gòn giữa những năm tháng khó khăn. Trong hoàn cảnh cực kỳ thử thách ấy, giáo sư Hộ đã sưu tập được những chất liệu cho bộ sách đặc sắc này và cả những chuyến du khảo nhằm thu thập những mẫu vật để minh hoạ. Và nay công trình được xuất bản, đó sẽ là nguồn khích lệ cho các nhà sinh học trẻ ở Việt Nam và cả ở hải ngoại.

“Cây cỏ Việt Nam có thể lên tới 12,000 chủng loại. Bởi vì xứ sở này nằm sát bờ Thái Bình Dương Á Châu nhiệt đới, đó là hành lang cho những chuyển dịch theo chu kỳ bắc-nam / periodic north-south migration của thảm thực vật vô cùng phong phú từ phía nam Trung Hoa và phong phú hơn nữa là thảm thực vật xích đạo Mã Lai / equatorial flora of Malaysia. Trên các rặng núi vẫn còn lưu lại những chủng loại tùng bách / conifer và thực vật có hoa / angiosperm taxa có tầm quan trọng vô song, trong khi các vùng bình nguyên mang dấu ấn của quá khứ có liên hệ tới các vùng hải đảo Phi Luật Tân và Borneo Nam Dương. Đến nay sự phong phú này hầu như tiêu vong. Những nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong chiến lược trồng cây tái sinh và bảo tồn sẽ được hỗ trợ bởi công trình của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ như một hồ sơ theo dõi các thảm thực vật đến nay còn tồn tại.” 

TIỂU SỬ:

GS Phạm Hoàng Hộ, trên giấy tờ ngày sinh là 3 tháng 8 năm 1931 tại An Bình, Cần Thơ. Nhưng theo cáo phó mới đây của gia đình GS Hộ sinh năm Kỷ Tỵ 1929, mất ngày 29 tháng Giêng năm 2017 tại Montréal, Canada hưởng thọ 89 tuổi. Anh Phạm Hoàng Dũng, con trai GS Phạm Hoàng Hộ xác nhận là “Ba tôi sinh năm Kỷ Tỵ 1929, nhưng theo lệ ngày xưa thì lâu sau đó mới khai sinh, là năm 1931”.

Văn Bằng:

— 1953: Cử nhân khoa học, thủ khoa Thực Vật học, Paris

— 1955: Cao học Vạn Vật học, Paris

— 1956: Thạc sĩ / Agrégé Vạn vật học

— 1962: Tiến sĩ Khoa học / Vạn vật học, Paris

Chức Vụ:

— 1957-1984: Trưởng phòng Thực vật Đại học Khoa học Sài Gòn

— 1965-1984: Giáo sư Thực vật học Đại học Khoa học Sài Gòn

— 1962-1966: Giám đốc Hải học viện Nha Trang

— 1963-1963: Khoa trưởng Đại học Sư phạm Sài Gòn

— 1963: Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục

— 1966-1970: Viện trưởng sáng lập Viện Đại học Cần Thơ

— 1978-1984: Chủ bút tuần báo Khoa học Phổ thông Sài Gòn

— 1984-1989: Giáo sư Khảo cứu tại Viện bảo tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris

Hội viên Khoa học:

— 1956: Hội viên Hội Thực vật học Pháp

— 1963: Hội viện Hội Tảo học Quốc tế (International Phycological Society)

— 1964: Hội viên Sáng lập Hội Sinh học Việt Nam

— 1965: Phó Chủ tịch Uỷ ban Danh từ Việt Nam

— 1967: Hội viện Hội Viện trưởng Đại học Quốc tế (APU)

— 1969: Sáng lập viên Niên san Đại học Cần Thơ

— 1971: Hội viên Uỷ ban Thẩm định hậu quả chất Da cam tại Nam Việt Nam, Viên Hàn lâm Khoa học Quốc gia, Hoa kỳ.

— 1973: Cố vấn Môi sinh Uỷ ban Quốc Tế Sông Mekong (MRC)

Ấn phẩm:

— 1960: Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam (Flore Illustrée du Sud Vietnam)

Bộ Giáo dục Việt Nam: 1 vol., 803 pp., 275 pls.

— 1964: Sinh học Thực vật

Bộ Giáo dục Việt Nam: 1 vol., 861 pp., nhiều hình

— 1968: Hiển hoa Bí tử

Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 506 pp., 264 pls.

— 1969: Rong Biển Việt Nam

Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 558 pp., 493 figs.

— 1970: Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam, in kỳ 2, quyển I

Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 1115 pp., figs. 2787

— 1972:  Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam, in kỳ 2, quyển II

Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 1139 pp., figs. 5272

Cây cỏ Việt Nam: An illustrated Flora of VietNam

— 1991, Tập 1 Quyển I: Khuyết Thực Vật. Loã Tử. Hoa-cánh-rời đến Tiliaceae

— 1992, Tập 1 Quyển II Hoa-cánh-rời từ Eleagnaceae đến Apiaceae

— 1993, Tập 1 Quyển III Từ Smilacaceae…Cyperaceae… Poaceae… đến Orchidaceae

— 1991, Tập 2 Quyển I Hoa-cánh-rời từ Sterculiaceae đến Fabaceae

— 1993, Tập 2 Quyển II Từ Daphniphyllaceae … Fagaceae…  Apocynaceae  đến Scrofulariaceae

— 1993, Tập 2 Quyển III Từ Smilacaceae… Cyperaceae… Poaceae … đến Orchidaceae

— 1998: Cây cỏ có vị thuốc ở Việt Nam

Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh: 860 pp.,

Mô tả 2149 loài có vị thuốc gặp ở Việt Nam

Vẫn trong bản Tóm lược sự nghiệp Khoa học, GS Phạm Hoàng Hộ tâm sự: “Có lẽ vì lúc còn rất nhỏ tôi đã sống ở nơi vườn tược, ruộng đồng xanh um vùng châu thổ sông Cửu Long, nên từ nhỏ tôi đã thích cây cỏ. Tôi không bao giờ quên được hình ảnh của bông Súng ở ruộng hay ao, lộng lẫy dưới ánh mặt trời ban mai, hay hình ảnh của bông Nhãn lồng phơi mình dựa bờ ruộng. Nên Thực vật học và Sinh học Nhiệt đới đã hấp dẫn tôi lúc đi du học. Và lúc học ở Đại học Khoa học Paris, tôi đã bắt đầu tìm hiểu Cây cỏ Đông Dương. Tiếp xúc đầu tiên một cách khoa học với Cây cỏ ấy, tôi thực hiện ở Viện Bảo tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris. Lúc mới học Vạn vật, tôi đã vào nhà kiếng của Viện này để tìm coi có loại nào ở nước nhà hay không. Và một số loài đã được vẽ từ lúc ấy! Tôi nhớ một số Lan đã được vẽ từ năm 1950, trong nhà kiếng ấy. Đó là những hình “xưa” nhất của bộ Cây cỏ của tôi. Sau này khi làm luận án Cao học, cũng ở Viện ấy, tôi mới có dịp vào Thảo Tập, và nhiều hình, nhất là của giống Ficus, khó, vì chưa nhiều loài đã được vẽ vì ngại sự khó khăn ấy về sau khi về bên nhà mà tài liệu thật là khó kiếm. Thật ra lúc ấy tham vọng của tôi vô cùng khiêm tốn, là sau này được biết các loại Ficus Việt Nam mà thôi! Cũng đã quá sung sướng rồi.

Sau khi thi đậu Thạc sĩ / Agrégation hạng sáu, trên 300 thí sinh, và chỉ có 30 đậu, năm 1956 tôi về nước.

[* Ghi chú của người viết: cần phân biệt với bằng Thạc sĩ hiện nay ở Việt Nam tương đương với cao học/ master, trong khi Thạc sĩ / Agrégé ở Pháp là học vị về sư phạm, trải qua kỳ thi tuyển khó khăn, nếu thi đậu sẽ trở thành giáo sư thực thụ / professeur titulaire từ bậc trung học / lycée tới các trường cao đẳng / enseignement supérieur thuộc các ngành Khoa học, Y dược, Luật khoa]

Giáo sư Hộ viết tiếp: “Lúc ấy tham vọng của tôi chỉ là về dạy học ở một trường Trung học, và lúc rảnh rang sẽ tìm hiểu cây cỏ của vùng Lục tỉnh mà thôi, nhưng Viện Đại học Sài Gòn và Hải học viện Nha Trang “kéo” tôi về giảng dạy và trông nom Hải học viện. Khi làm việc ở Nha Trang tôi khảo cứu Rong biển, như là một phận sự. Và sau vài năm khảo cứu dưới sự hướng dẫn của Giáo sư J. Felmann, tôi hoàn thành luận án Tiến sĩ mà tôi trình ở Đại học Paris, năm 1961. Công trình này được đăng trong Niên san Khoa học Đại học đường Sài Gòn, và trong quyển Rong biển Việt Nam, cũng như một số ấn phẩm trong vài tạp chí khoa học.

Ở Sài Gòn, phận sự chính của tôi là giảng dạy Thực vật và Sinh học Thực vật (thay thế Giáo sư Pháp Roger, một nhà chuyên môn về nấm gây bệnh cây) cho sinh viên dự bị và chuyên khoa. Chính vì muốn giảng dạy tốt, thích nghi vào điều kiện nhiệt đới Việt Nam, các môn ấy mà tôi lục lạo và sau đó cho ra đời công trình mà sau này sẽ là công trình của đời tôi là Cây cỏ Việt Nam. [trích dẫn tư liệu gia đình GS. Phạm Hoàng Hộ: Văn Bằng, Sự Nghiệp Khoa Học của Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Thực vật học].

1959-1960, tôi / người viết bài này mới chỉ là sinh viên lớp dự bị Y khoa PCB / Physique Chimie Biologie tại Đại học Khoa học Sài Gòn và được học Thầy Hộ mới tốt nghiệp Thạc sĩ ở Pháp về, dạy môn Sinh Học Thực vật. Tuy chỉ được học Thầy một năm, nhưng Thầy đã để lại cho đám sinh viên và riêng tôi một niềm cảm hứng với những dấu ấn rất khó phai mờ. Vào trường Y khoa rồi, không còn được học Thầy Hộ nhưng tôi vẫn mang lòng ngưỡng mộ và cả theo dõi những bước đi và sưu tập những bộ sách công trình nghiên cứu khoa học của Thầy.

image022image023

Hình 2: Bộ sách Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam gồm 2 quyển, do Trung tâm Học Liệu, Bộ Giáo Dục VNCH xuất bản 1970 [nguồn: Sách Xưa]

Vào đầu thập niên 1990, giới khoa học trong nước và hải ngoại rất đỗi vui mừng khi bộ sách Cây Cỏ Việt Nam của GS. Phạm Hoàng Hộ được lần lượt xuất bản. Theo GS Thái Công Tụng, hiện định cư tại Montréal thì các sách của GS. Phạm Hoàng Hộ hiện có đầy đủ ở Bibliothèque Jardin botanique Montréal, Canada, và dĩ nhiên là có trong nhiều thư viện lớn trên thế giới.

Trọn bộ Cây cỏ Việt Nam gồm hai Tập, mỗi Tập 3 Quyển, tổng cộng khoảng 3,600 trang, chưa kể Phần Từ Vựng tên Việt Nam và Từ Vựng tên Khoa học các Giống (Chi) bao gồm thêm cả công trình của những năm tháng giáo sư rời quê hương Việt Nam sang Pháp, vẫn tiếp tục cặm cụi làm việc.

Riêng tôi / người viết đã sớm có được trọn bộ 6 Quyển Cây Cỏ Việt Nam xuất bản ở hải ngoại do bác sĩ Phạm Văn Hoàng nguyên Giám đốc Trung Tâm Phục Hồi Cần Thơ, một đàn anh trong Y khoa gửi tặng, anh Phạm Văn Hoàng chính là bào đệ của GS Phạm Hoàng Hộ.

Tưởng cũng nên ghi lại ở đây, là trước 1975, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã từng là Cố vấn Môi sinh Uỷ ban Sông Mekong/ Mekong River Committee và khoảng năm 1974 hai Giáo sư Phạm Hoàng Hộ và Thái Công Tụng đã có một nghiên cứu chung về Môi sinh Đồng Bằng Sông Cửu Long: The Mekong Delta, Its environment, Its Problems; [do Bộ Canh Nông VNCH xuất bản, Sài Gòn 1974]; khi tìm kiếm tới tài liệu có tính cách lịch sử ấy, tôi được anh GS Thái Công Tụng bùi ngùi cho biết: là đã mất hết sau cơn binh lửa…

Để tìm hiểu thêm tại sao, các tác phẩm khoa học của Giáo Sư Phạm Hoàng Hộ lại được ưu tiên xuất bản bằng tiếng Việt cho dù ngôn ngữ chính thông thạo của GS. Hộ trong suốt quá trình đào tạo và giảng dạy là tiếng Pháp.

Trong lời mở đầu quyển Rong Biển Việt Nam xuất bản năm 1969, GS. Phạm Hoàng Hộ viết: “Lúc đầu, quyển sách này được thảo bằng ngoại ngữ, khi làm việc ở Hải học viện Nha Trang và ở Museum, và tôi có hoài bão được xuất bản trong ngoại ngữ ấy để công bố công trình khảo cứu của mình ra bốn phương, như lời hứa ngầm lúc trình luận án.

Song nay tôi đã đổi ý và cho xuất bản bằng tiếng Việt Nam. Đó là để chứng minh rằng ngôn ngữ nào, miễn được chăm sóc, đều có thể diễn tả kiến thức ở mọi trình độ. Tôi biết rằng có nhiều người cho rằng không ấn hành trong một ngôn ngữ quốc tế là phí công, giới khảo cứu làm sao biết đến. Nhưng tôi thấy chẳng cần đến việc ấy. Được mấy mươi triệu người Việt Nam biết và dùng, có giá trị hơn là được vài ngàn học giả chuyên môn thưởng thức. Tôi đã bỏ cái tự hào sai là tranh đua cùng người ngoài để tự tạo lấy thanh danh, “làm thơm lây dân Việt”. Tôi tin rằng cái tự hào ấy không thực tế, vì một người Việt Nam hay, không bằng nhiều người Việt Nam khá: cầm đuốc soi thành phố người có vẻ không thức thời trong khi nước nhà còn u ám. Cái tự hào trên thật ra chỉ để che đậy sự trốn trách nhiệm, sự bỏ phận sự trước con cháu chúng ta một cách không tha thứ được. 

Tạo ra cho chúng ta một nền văn chương khoa học là một công trình rất bao la. Vì thấy nó qúa to tát nên nhiều học giả chấp nhận giải pháp dễ nhất: học ngay trong văn chương khoa học ngoại ngữ vô cùng phong phú, dồi dào. Cái học như vậy sẽ cho ta những người giỏi, nhưng ta không quên rằng nền văn minh bây giờ là văn minh của đại chúng chứ không phải của vài người được nữa. Ta đừng để cho sự phong phú của văn hoá nước ngoài đè bẹp ta. Người Nhật, cách đây một thế kỷ, há đã không hoảng sợ trước sự hùng mạnh của khoa học nước ngoài sao? Mà nay họ đã tự tạo được một một nền văn chương khoa học riêng biệt đã đến lúc gần hay hơn cả những nước ấy!

Hơn lúc nào hết, câu của Nguyễn Văn Vĩnh vẫn còn vẳng bên tai: “Nước Việt Nam ta sau này hay hay dở là ở chữ quốc ngữ”. Trong thế giới tương lai, sự lệ thuộc về văn hoá, nhất là về văn hoá khoa học sẽ là sự lệ thuộc chánh”. [Lời Mở Đầu của quyển Rong Biển Việt Nam; Trung Tâm Học Liệu, Bộ, Giáo Dục xuất bản 1969].

image024 

Hình 3: mấy dòng tiểu sử của GS. Phạm Hoàng Hộ cùng với Lời Tựa của Peter Shaw Ashton, nhà sinh học gốc Anh, Tiến sĩ Đại Học Cambridge, Giáo Sư Charles Bullard ngành Lâm Học, Đại Học Harvard nơi bìa sau của bộ sách Cây Cỏ Việt Nam [Quyển II, Tập 2] xuất bản tại Montréal 1993.

image025

Hình 4: Một số hình bìa bộ sách đồ sộ Cây Cỏ Việt Nam gồm 6 Quyển 2 Tập của Giáo Sư Phạm Hoàng Hộ xuất bản tại hải ngoại [nguồn: Ngô Thế Vinh]

CHẶNG ĐƯỜNG ĐAU KHỔ

Hình ảnh một Giáo sư Phạm Hoàng Hộ những năm sau 1975, là một tấm gương và cũng là một trải nghiệm đau đớn cho cả một thế hệ trí thức Miền Nam mà Giáo sư Phạm Hoàng Hộ là một biểu tượng.

Theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ thì bộ sách Cây cỏ Việt Nam đã được thực hiện qua 4 giai đoạn:

— Nghiên cứu giai đoạn một: hợp tác với GS Nguyễn Văn Dương về phần dược tính, Cây cỏ Miền Nam Việt Nam, do bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1960 mô tả 1,650 loài thông thường của Miền Nam, “Đó là giai đoạn còn mò mẫm, học hỏi một thực-vật-chúng chưa quen thuộc đối với một sinh viên vừa tốt nghiệp từ vùng xa lạ mới về.

— Nghiên cứu giai đoạn hai: kỳ tái bản lần hai 1970 bộ Cây cỏ Miền Nam Việt Nam, số loài lên được 5,328 [Hình 2]. “Đó là giai đoạn mà tôi xem như vàng son của một nhà thực vật học Việt Nam chúng ta. So với bây giờ, lúc ấy tôi yên ổn làm việc, có nhiều phương tiện cá nhân cũng như của non nước và nhất là được sự khuyến khích của mọi giới, bạn bè cũng như chính quyền.

— Nghiên cứu giai đoạn ba: tiếp tục công việc nghiên cứu sau 1975, đưa thêm được vào bộ sách Cây cỏ Miền Nam Việt Nam 2,500 loài và bộ được nới rộng cho toàn cõi Việt Nam.

Sau biến cố 1975, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ cũng như người bạn đồng hành trí tuệ của ông là Giáo sư Nguyễn Duy Xuân đã cùng chọn ở lại để xây dựng đất nước sau chiến tranh và thống nhất, nhưng với cái giá rất đắt mà sau này được GS Hộ ghi lại là: “thời kỳ sống trong ảo vọng là sẽ thấy đất nước đi lên. Giai đoạn đi xe đạp, ăn gạo hẩm, tưởng hoa sẽ nở trên đường Quê hương.”

Tuy Giáo sư Phạm Hoàng Hộ vẫn còn chức danh là Hiệu phó [phó Khoa trưởng] Đại học Khoa học, nhưng chính quyền  mới chỉ sử dụng trí thức cũ như ông chủ yếu là “làm kiểng”, không có vai trò tương xứng trong giáo dục. Vì không là đảng viên, nên khi có vấn  ề gì thì Đảng bộ họp riêng và quyết định, có việc ông không bao giờ được biết. Năm 1977 sau  trải nghiệm  những ngày học chính trị, một lớp học kéo dài mười tám tháng về “Chủ nghĩa xã hội khoa học” dành riêng cho các trí thức Miền  Nam tổ chức tại TP Hồ Chí Minh; từ rất sớm, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã phản đối cách đào tạo đưa thời gian học chính trị quá nhiều vào chương trình. Ông cảnh báo: “Nếu chính trị can dự quá mạnh, các nhà khoa học sẽ mất căn bản”. [Huy Đức, Bên Thắng Cuộc]

Rồi phải chứng kiến một thiểu số trí thức cũ xu thời, mau chóng hợp tác toàn diện với chế độ mới, bất chấp sự liêm khiết, sẵn sàng cống hiến những công trình mệnh danh khoa học theo phong trào để mừng các ngày lễ hội 3-2 hay 19-5 như các bài báo chứng minh “ăn mấy ký khoai mì bổ bằng một ký thịt bò” hoặc là “ăn bo bo nhiều dinh dưỡng hơn cả gạo”… những công trình “giả khoa học / pseudo-science ” ấy đã mau chóng trở thành giai thoại đầy mỉa mai được lan truyền trong các trại tù Cải tạo, nơi mà đám tù nhân Miền Nam đang bị thiếu ăn suy dinh dưỡng với thực phẩm cung cấp chủ yếu là gạo hẩm “đại mễ” của Trung Cộng cùng với bo bo và khoai mì / ngoài bắc gọi là sắn.

Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, cũng như số trí thức cũ khẳng khái của Miền Nam còn ở lại, thấy không thể tiếp tục sống trong một xã hội giả dối và suy đồi đến như thế, việc ông đi tới quyết định phải chấm dứt những năm “ảo vọng” và lãng phí ấy, là điều không thể tránh. Và rồi dịp ấy đã tới, năm 1984 khi được chính phủ Pháp mời sang làm giáo sư thỉnh giảng, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã quyết định chọn cuộc sống lưu vong và ở lại Pháp.

— Nghiên cứu giai đoạn bốn: một giai đoạn mà giáo sư Phạm Hoàng Hộ gọi là “vừa hiếm có vừa đau khổ nhất”. Giáo sư Hộ viết tiếp: “Đau khổ vì rời quê hương mà không hy vọng trở lại. Đau khổ vì xa gia đình thân yêu, vĩnh biệt mẹ hiền đã trọn đời hy sinh cho các con. Đau khổ vì thấy đất nước thân yêu đang ở trong một nỗi khổ khôn lường, một sự nghèo khôn tả, một sự tuyệt vọng thương tâm.”

Nhưng rồi với hùng tâm, ông cũng vượt lên trên sự khổ đau khôn lường ấy. Giáo sư Hộ đã kiên nhẫn đằm mình trong Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris, cật lực làm việc ròng rã suốt sáu năm. Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia ở Paris / Muséum National d’Histoire Naturelle (MNHN) thuộc hệ thống Đại học Sorbonne, bên tả ngạn Sông Seine, được thành lập từ thế kỷ XVIII thời kỳ Cách Mạng Pháp.

Giáo sư Phạm Hoàng Hộ cho rằng: “Hiếm có một nhà Thực vật học, nhất là người Việt Nam, đã lục lạo cây cỏ ở nước nhà, lại được ở lại nghiên cứu tại Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Pháp, chứa một thảo tập phong phú vào bậc nhất thế giới, với 8 tới 10 triệu mẫu vật cây cỏ. Ít nhất cho Việt Nam, nó là kho tàng duy nhất, vì chứa hơn 10 ngàn loài thu được ở nước ta. Trong sáu năm làm việc ở Viện ấy, không một ngày nào mà khi chiều ra về, dù trời đông âm u lạnh lẽo, hay chiều hè vắng vẻ nóng khô, mà tôi không thốt ra câu “Thật là một ngày tuyệt” vì đã biết thêm cho Việt Nam ít nhất là một loài hiếm, lạ hay mới!” Trong giai đoạn chót này, ông bổ túc thêm cho bộ Cây Cỏ được trên 3000 loài. Số loài mô tả khoảng 10,500.

Tại Pháp khi gặp lại người học trò cũ, nay đã là thành viên trong ban giảng huấn Đại học Khoa học Sài Gòn, cũng đang làm việc tại Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Pháp nghiên cứu về Cá / Laboratoire d’Ichthyology, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã tâm sự:

Tôi ráng làm càng nhiều càng tốt. Bộ sưu tập của Pháp rất dồi dào, đúng phương pháp khoa học. Do được sưu tập từ mấy mươi năm trước, các mẫu vật đã cũ, mình không làm gấp e sẽ hư hỏng thì uổng quá… Nhiều người Trung Quốc từ đại lục và cả từ Đài Loan, Singapore đã đến tìm học các bộ sưu tập thực vật Đông Dương của Pháp. Tôi không biết họ có chủ trương gì đó không. Tài nguyên nước mình, mình phải biết. Mình không biết mà người ta biết thì người ta xài hết của dân mình. Lãnh vực nào cũng vậy riết rồi người ta áp chế mình, ăn trên ngồi trước còn mình cắm đầu dưới đất, tiếng là có độc lập mà còn thua hồi thuộc Pháp!” [4]

image026image027

Hình 5: Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Pháp, Paris nơi Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đơn độc làm việc ròng rã suốt sáu năm để hoàn tất bộ sách Cây Cỏ Việt Nam. [nguồn: internet]

Sau khi hoàn tất bộ sách Cây Cỏ Việt Nam, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã bày tỏ lòng tri ân sâu xa đối với Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris và các bạn đồng sự Pháp, ông đã rất chân thành tâm sự: “thực hiện những điều mà lúc nhỏ dù điên rồ tới đâu tôi cũng không dám mơ ước: nô lệ của một thuộc địa, học ở một trường thường, ở một tỉnh nhỏ, bao giờ dám nghĩ đến tạo một quyển sách dù nhỏ bé, mê cây cỏ xung quanh nhưng bao giờ nghĩ đến biết cây cỏ cả nước!”

Người “trí thức đau khổ” Phạm Hoàng Hộ đã vươn lên và hoàn tất được “giấc mơ điên rồ” tưởng như không thể được ấy và trở thành cây “đại thụ” trong Khoa học Thực vật của Việt Nam và cả thế giới.

CHÚT GIAI THOẠI VĂN HỌC

Trong cuốn Bông Hồng Tạ Ơn, khi viết về bộ sách của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, nhà văn Nguyễn Đình Toàn nhớ lại: “Các năm trước 1975, bộ sách của giáo sư Phạm Hoàng Hộ còn mang tên là Cây Cỏ Miền Nam. Cuộc chia cắt đất nước đã giới hạn tầm mức của cuốn sách. Thế nhưng công trình của giáo sư Phạm Hoàng Hộ không phải chỉ được coi là quý đối với các nhà chuyên môn về thực vật học, mà theo nhà văn Võ Phiến có kể lại trong bộ sách Văn Học Miền Nam soạn thảo tại hải ngoại sau 75, thì đã có nhiều nhà văn, [trong số đó có Nguyễn Đình Toàn] đã tìm đọc cuốn Cây Cỏ Miền Nam để biết thêm về một vài loại cây cỏ quanh mình, để khi cần, có thể đưa vào tác phẩm”. Giai thoại văn học này có lẽ, chính Giáo sư Phạm Hoàng Hộ không hề biết tới.

SÁNG LẬP VIỆN ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Khoảng thập niên 1960, do sự vận động của các nhân sĩ trí thức Cần Thơ, với hai tên tuổi hàng đầu là Giáo sư Phạm Hoàng Hộ và bác sĩ Lê Văn Thuấn, Viện Đại học Cần Thơ được phép thành lập vào ngày 31.03.1966 và cũng là Đại học đầu tiên của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Giáo sư Phạm Hoàng Hộ là Viện trưởng đầu tiên của Đại học Cần Thơ từ 1966 tới 1970.

Với uy tín lớn về thành tích khoa học và cả về nhân cách, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã quy tụ được rất nhiều “chất xám” tinh hoa của Miền Nam thời bấy giờ; chỉ riêng trong lãnh vực Nông Nghiệp có thể kể tới sự hợp tác của những tên tuổi như GS Tôn Thất Trình, GS Thái Công Tụng, TS Nguyễn Viết Trương, TS Trần Đăng Hồng với công lao bước đầu đưa giống Lúa Thần Nông/ HYV / High Yield Variety vào ĐBSCL.

Rồi phải kể tới một đội ngũ giảng huấn đầy khả năng khiến Đại Học Cần Thơ mau chóng trở thành một trung tâm giáo dục và khoa học có tầm cỡ, đáp ứng nhu cầu trí tuệ của của một vùng châu thổ rộng lớn rất giàu nguồn tài nguyên thiên nhiên nhưng chưa được khai thác. Để có thể thấy được thành quả bước đầu của Viện Đại học Cần Thơ, đó là các lớp sinh viên đầu tiên trưởng thành và tốt nghiệp 4 năm sau đó.

Giáo sư Đỗ Bá Khê [là thầy dậy tôi môn Vật lý năm PCB], trong “think tank”  của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, cũng đến từ Đại học Khoa học Sài Gòn, cách đây 50 năm, trong bài diễn văn “xuất trường” của Viện Đại Học Cần Thơ, đã có một tầm nhìn rất xa về vai trò của Viện Đại Học này đối với tương lai vùng Đồng Bằng Châu Thổ:

 “Ngày nay (19/12/1970) trong Thời Đại Khoa Học Kỹ Thuật, các tỉnh ĐBSCL đang trông chờ nơi ánh sáng soi đường của Viện Đại Học Cần Thơ và ước mơ một chân trời mới, tô điểm bằng những cành lúa vàng nặng trĩu, những mảnh vườn hoa quả oằn cây, dân cư thơ thới, một cộng đồng trù phú trong một xã hội công bằng.”

Giáo sư Đỗ Bá Khê cũng là người khai sinh ra hệ thống Đại học Cộng đồng [ĐHCĐ] tại Miền Nam trước 1975, theo mô hình Community College Concept của Mỹ, với điển hình là Đại học Cộng đồng Tiền Giang thành lập năm 1971 tại Mỹ Tho, tiếp theo là ĐHCĐ Duyên hải tại Nha Trang… nhưng rồi sau 1975, cùng chung số phận của cả một hệ thống giáo dục tốt đẹp Miền Nam bị sụp đổ, mô hình Đại học Cộng đồng cũng đã hoàn toàn bị chế độ mới làm cho biến thể, và mất hết ý nghĩa tâm nguyện ban đầu của người khai sinh sáng lập.       

image028

Hình 6: Những năm về sau này, cho dù đã phải sống xa quê nhà, nhưng tấm lòng GS Đỗ Bá Khê vẫn cứ luôn đau đáu hướng về “tương lai ĐBSCL và vai trò của Đại Học Cần Thơ trong việc bảo vệ và phát triển vùng này.” [tư liệu Ngô Thế Vinh: thư tay của GS Đỗ Bá Khê viết từ Thành phố Concord, California ngày 29.05.2002]

GIÁO SƯ NGUYỄN DUY XUÂN

NGỌN HẢI ĐĂNG TRÍ TUỆ MIỀN TÂY       

NGƯỜI BẠN ĐỒNG HÀNH

Đến năm 1970, bước đầu xây dựng được một Đại học Cần Thơ vững vàng, để có thể trở về Sài Gòn tiếp tục các công trình nghiên cứu khoa học và giảng dạy, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ chính thức mời Giáo sư Nguyễn Duy Xuân về thay ông, làm Viện trưởng thứ hai của Viện Đại Học Cần Thơ.

Giáo sư Nguyễn Duy Xuân cũng là người Cần Thơ, sinh năm 1925 hơn Giáo sư Phạm Hoàng Hộ 4 tuổi, tốt nghiệp Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Vanderbilt Hoa Kỳ, trở về Việt Nam 1963, giáo sư Luật. Nhận chức Viện trưởng từ Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Nguyễn Duy Xuân đã nỗ lực phát triển Viện Đại học Cần Thơ trên mọi lãnh vực từ chương trình giảng dạy, đào tạo ban giảng huấn, xây cất thêm giảng đường, phòng thí nghiệm, thiết lập ký túc xá như hệ thống campus cho sinh viên đến từ các tỉnh xa Miền Tây. Ông là người tiên phong thực hiện giáo dục đại học theo tín chỉ / credits (thay vì chứng chỉ, certificate như trước đây); giống như mô hình hệ thống Đại học Hoa Kỳ. Ông còn gửi cả một đội ngũ giảng viên trẻ đi du học, điển hình như anh Trần Phước Đường đi Mỹ tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Michigan, sau đó họ trở về trường phục vụ ngành Sinh học, Giáo sư Trần Phước Đường sau này trở thành Viện trưởng Đại học Cần Thơ từ 1989 tới 1997.

Năm 1972, ông cũng đích thân mời nhà nông học trẻ Võ Tòng Xuân khi ấy đang công tác ở Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế Los Banos Philippines về trường giảng dạy. Sau này anh Võ Tòng Xuân kể lại, khi nhận được thư của GS Nguyễn Duy Xuân: “Anh Nguyễn Duy Xuân nói ĐBSCL là cái vựa của lúa gạo nên rất cần những nhà khoa học về nông nghiệp. Chiến tranh rồi có ngày hòa bình, đất nước sẽ cần những người như tôi. Đó là một trong những lý do tôi về công tác ở Đại học Cần Thơ.” TS Võ Tòng Xuân sau này trở thành một Giáo sư Nông học danh tiếng, “Doctor Rice” tên tuổi anh VTX gắn liền với sự tiếp nối phát triển cây Lúa Thần Nông và sau đó anh là Viện trưởng Đại học An Giang là Đại học lớn thứ hai của ĐBSCL sau Viện Đại học Cần Thơ.

Chỉ trong vòng 9 năm [1966 – 1975] với công lao xây dựng của hai Viện trưởng tiền nhiệm: GS Phạm Hoàng Hộ, GS Nguyễn Duy Xuân, Viện Đại Học Cần Thơ như một Ngọn Hải đăng Miền Tây, trở thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học, đặc biệt bước đầu ưu tiên phát triển hai lãnh vực Sư phạm và Nông nghiệp, vững vàng sánh bước với các Viện Đại học lâu đời khác của Miền Nam, đóng góp cho sự thăng tiến của vùng ĐBSCL.

TỪ ẢO VỌNG TỚI THẢM KỊCH

Chỉ mấy ngày trước biến cố 30 tháng 4, 1975, cũng như GS Phạm Hoàng Hộ, GS Nguyễn Duy Xuân như một trí thức dấn thân, quyết định ở lại và giữa cảnh dầu sôi lửa bỏng, ông vẫn can đảm nhận chức Tổng trưởng Bộ Văn hóa Giáo dục cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Giữ chức vụ đó chưa đầy một tuần lễ thì chính quyền Miền Nam sụp đổ, TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.

GS Nguyễn Duy Xuân bị đưa vào trại tù cải tạo, sau đó bị đưa ra Bắc, giam trong trại tù Hà-Nam-Ninh, hầu như không có ngày về. Vẫn theo anh Võ Tòng Xuân (VTX), năm 1983, trong một lần ra Hà Nội dự họp, anh VTX đã vô trại Ba Sao để thăm lại vị Viện trưởng của mình khi còn ở Viện Đại học Cần Thơ. Gặp lại đồng nghiệp, GS Nguyễn Duy Xuân rất mừng, và dù đang trong nghịch cảnh tù đầy, ông vẫn đau đáu quan tâm hỏi han tới hiện trạng của Đại học Cần Thơ, nơi mà ông và GS Phạm Hoàng Hộ đã dầy công xây dựng.

Tôi, người viết bài này không thể không tự hỏi nếu không có 11 năm giam hãm đầy đoạ độc ác và vô ích của những người Cộng sản thắng cuộc, nếu GS Nguyễn Duy Xuân, một Tiến sĩ Kinh tế tài ba và giàu lòng yêu nước như ông vẫn tiếp tục ở lại xây dựng Viện Đại học Cần Thơ với nhịp độ 1966-1975, không biết Viện Đại học Cần Thơ và ĐBSCL sẽ phát triển và tiến xa tới đâu.

Năm 1983 là lần gặp gỡ đầu tiên của hai Giáo sư cùng tên Xuân sau 1975 ở trại Ba Sao và cũng là lần cuối cùng GS VTX được gặp lại GS Nguyễn Duy Xuân. Tiếp tục bị đầy ải thêm 3 năm nữa tổng cộng 11 năm, GS Nguyễn Duy Xuân đã chết trong tù cải tạo Hà- Nam-Ninh ngày 10 tháng 11 năm 1986 trong đói khát và bệnh tật không thuốc men. Xác của ông được vùi nông trong nghĩa địa tù cải tạo trên triền núi phía sau trại tù Ba Sao.

Phải mãi đến tháng 4 năm 2015, gần 30 năm sau, di cốt của GS Nguyễn Duy Xuân, mới được người con gái là bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga từ Pháp về bốc mộ đưa từ nghĩa địa trại tù Ba Sao Hà-Nam-Ninh về Chùa Thiên Hưng, Quận Bình Thạnh Sài Gòn để lưu giữ tại đây. Trong buổi lễ cầu siêu, ngoài các thành viên của gia đình cố Viện trưởng Nguyễn Duy Xuân, còn có một số cựu giảng huấn và các cựu sinh viên tốt nghiệp Đại học Cần Thơ trước 1975 như GS Võ Tòng Xuân, TS Nguyễn Tăng Tôn (cựu SV), TS Nguyễn Văn Mận (Cựu SV), KS Minh (Cựu SV) Ông Hòa (nhân viên hành chánh), đến tham dự buổi lễ.

image029

Hình 7: Trại tù Ba Sao Hà-Nam-Ninh, Miền Bắc Việt Nam, nơi triền núi phía sau trại tù là nghĩa địa chôn vùi xác rất nhiều tù nhân cải tạo có gốc từ Miền Nam sau 1975, thân xác Giáo sư Nguyễn Duy Xuân được vùi nông trong nghĩa địa trại tù Ba Sao này. Mãi 30 năm sau, con gái ông là bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga từ Pháp về bốc mộ cha đưa từ nghĩa địa trại tù Ba Sao về Chùa Thiên Hưng, Quận Bình Thạnh Sài Gòn.

image030

Hình 8: từ trái, GS Võ Tòng Xuân, bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga con gái GS Nguyễn Duy Xuân, ôm bình tro cốt của cha, bạn trai Alan và một thân hữu  [nguồn: Võ Tòng Xuân] 

VIỆN ĐẠI HỌC CẦN THƠ SAU 1975

Thay thế Giáo sư Viện trưởng Nguyễn Duy Xuân là ông Phạm Sơn Khai, gốc Miền Nam Tập kết là đảng viên Cộng sản, với học vị “Chuyên Ngành Lịch Sử Đảng”, ông Khai được đề cử giữ chức Viện trưởng và lãnh đạo Đại học Cần Thơ trong suốt 13 năm từ 1976 tới 1989.

Kể từ sau 1975, chính quyền mới với chủ trương một nền giáo dục “hồng hơn chuyên” nên học trình của Đại học Cần Thơ, cũng như toàn hệ thống các Đại học Miền Nam đã có thêm môn học chính trị cưỡng bách “Chủ nghĩa Mác Lê và Tư Tưởng Hồ Chí Minh”. Một môn học mà “thầy không muốn dạy, trò không muốn học” nhưng vẫn cứ được duy trì cho đến ngày hôm nay. Ngót nửa thế kỷ, 45 năm sau ngày thống nhất đất nước, trên toàn cõi Việt Nam vẫn chưa có được một nền “tự trị đại học”. Quá sớm để nói tới dân chủ hoá đất nước, khi mà các Đại Học như những “Think Tank” vẫn còn bị chi phối lãnh đạo bởi những Chi bộ Đảng Cộng Sản.

image031

Hình 9: Những Hiệu trưởng Viện Đại học Cần Thơ từ ngày thành lập tới nay; từ trái, 1. GS Phạm Hoàng Hộ, 1966-1970; 2. GS Nguyễn Duy Xuân, 1970-1975; 3. Ông Phạm Sơn Khai, 1976-1989; 4. GS Trần Phước Đường, 1989-1997; 5. TS Trần Thượng Tuấn, 1997-2002; 6. TS Lê Quang Minh, 2002-2006; 7. GS Nguyễn Anh Tuấn, 2007-2012; 8. TS Hà Thanh Toàn, 2013 đến nay. [nguồn: tư liệu Lê Anh Tuấn]

image032

Hình 10: GS Võ Tòng Xuân mời GS Phạm Hoàng Hộ tham gia chuyến khảo sát Đồng Tháp Mười của Đại học Cần Thơ, tháng 3, 1981. Từ trái, TS Trần Thượng Tuấn, TS Nguyễn Thị Thu Cúc (bị che), ThS Đỗ Thanh Ren, GS Võ-Tòng Xuân, GS Trần Phước Đường, một cán bộ Phân Viện Qui Hoạch, GS Phạm Hoàng Hộ, một cán bộ tỉnh Đồng Tháp. [nguồn: tư liệu Võ Tòng Xuân]

Qua một eMail, anh Võ Tòng Xuân kể lại: “Tôi nhớ mãi GS Hộ trong chuyến đi đó, ông rất kỹ về vấn đề ăn uống, đem theo đồ ăn và bình ton đựng nước uống riêng”.

GS PHẠM HOÀNG HỘ SINH NHẬT 80

Tháng 7 năm 2009, một số môn sinh đã tổ chức tại Montréal một lễ mừng sinh nhật 80 tuổi của GS Phạm Hoàng Hộ, cùng với một bức tượng được đem tới tặng Thầy với phát biểu đầy xúc động của một môn sinh: “Bức tượng không phải chỉ là hình ảnh của một giáo sư Thực Vật đáng kính mà còn là biểu tượng của người trí thức Miền Nam, đã hiến trọn đời mình cho khoa học, hết sức khiêm tốn so với tài năng của mình và nhất là hết lòng yêu quê hương đất nước.”

Cũng rất ý nghĩa, trong buổi họp sinh nhật ấy, bác sĩ Tăng Quang Kiệt đã đọc lời chúc của Giáo sư Phùng Trung Ngân, định cư tại California, người sáng lập ra Bộ Môn Sinh Môi Học / Ecology Department cũng là Khoa trưởng Đại Học Khoa Học Saigon từ 1973-1975, là bạn đồng môn và cùng tuổi với GS Phạm Hoàng Hộ:

“Anh Hộ thân mến, Tôi thành thật cám ơn Anh Chị và gia đình đã cho phép tôi gởi bài phát biểu trong buổi lễ long trọng này. Với 80 tuổi đời, Anh đã đóng góp một công trình đồ sộ về Cây Cỏ Việt Nam đồng thời với việc hướng dẫn sinh viên yêu Thực vật và Thiên nhiên Việt Nam. Là người cộng tác gần gũi với Anh trong công tác giáo dục sinh vật cho lớp trẻ VN tôi đã thấy sự tận tụy với nghề nghiệp của Anh và lòng hăng say nghiên cứu của Anh. Kết quả là công trình nghiên cứu vĩ đại về Cây Cỏ Nam Việt Nam và nhứt là công trình bổ sung đầy đủ Cây cỏ toàn bộ VN với các mẫu cây quý báu đang bị bỏ quên trong Viện Thảo Tập ở Paris. Trước năm 1975 Anh và tôi thường dẫn sinh viên đi thực tập ở Lâm Đồng-Đà Lạt, cho các em leo lên đỉnh Lâm Viên, một trong những ngọn núi cao khoảng 2000m ở miền Nam, chúng ta thường ước mong khi hòa bình trở lại sẽ cùng nhau ra miền Bắc khảo sát Cây cỏ Đỉnh Fan Xi Pan cao hơn 3000m ở Hoàng Liên Sơn. Rất tiếc đến ngày hôm nay ước mong của chúng ta chắc không bao giờ thực hiện được. Tuy nhiên Anh đã tự mình tiếp xúc với đỉnh Fan Xi Pan qua các mẫu cây còn lưu trữ tại Viện thảo Tập Paris và cũng từ đó hình thành bộ công trình Cây Cỏ Việt Nam cho Khoa học. Tôi rất may mắn là cộng tác viên thân cận của Anh trong nhiều năm nên đã học được tính chu đáo trong nghiên cứu, sự tận tụy trong giảng dạy và lòng say mê nghiên cứu Thiên nhiên Việt Nam.” [3]

image033

Hình 11: GS Phạm Hoàng Hộ bên bức tượng bán thân do một điêu khắc gia người Canada là bác sĩ Megerditch Tarakdjian thực hiện nhân dịp sinh nhật thứ 80 do một số môn sinh tổ chức tại Montréal, Canada. (3)

DI CHÚC GIỮ XANH ĐẤT MẸ

Trong Quyển cuối cùng của bộ sách Cây Cỏ Việt Nam [Quyển III, Tập 2] xuất bản tại Montréal 1993, chỉ với hai trang Thay Lời Tựa, GS Phạm Hoàng Hộ đã để lại một Thông điệp; cũng có thể coi như một Di Chúc cho Việt Nam.

“Thực-vật-chúng Việt Nam có lẽ gồm vào 12,000 loài. Đó là chỉ kể các cây có mạch, nghĩa là không kể các Rong, Rêu, Nấm.

Đó là một trong những thực-vật-chúng phong phú nhất thế giới.  Sự phong phú ấy là một diễm phúc cho dân tộc Việt Nam. Vì như tôi đã viết từ 1968, Hiển hoa là ân nhân vô giá của loài người. Hiển hoa cho ta nguồn thức ăn căn bản hàng ngày; Hiển hoa cung cấp cho ta, nhất là người Việt Nam, nơi sinh sống an khang. Biết bao cuộc tình duyên êm đẹp khởi đầu bằng một miếng Trầu, một miếng Cau. Bao nhiêu chúng ta đã không chào đời bằng một mảnh Tre để cắt rún, rời nhao? Lúc đầy nguồn sống lúc nhàn rỗi, chính Hiển hoa cung cấp cho loài Người thức uống ngon lành để say sưa cùng vũ trụ. Lúc ốm đau, cũng chính Cây cỏ giúp cho ta dược thảo hiệu linh.

Các điều ấy rất đúng hơn với chúng ta, người Việt Nam mà ở rất nhiều nơi còn sống với một nền văn minh dựa trên thực vật.

Nhưng ân nhân của chúng ta ấy đang bị hiểm hoạ biến mất, vì rừng nước ta đã lùi dưới mức độ an toàn, đất màu mỡ bị soi mòn mất ở một diện tích lớn, và cảnh sa mạc đang bành trướng mau lẹ. Đã đến lúc theo nhạc của một bài ca, ta có thể hát: “Thần dân nghe chăng? Sơn hà nguy biến. Rừng dày nào còn, Xoi mòn đang tiến… Đâu còn muôn cây làm êm ấm núi sông.” [Ghi chú của người viết: bài ca Hội nghị Diên Hồng, nhạc của Lưu Hữu Phước, lời: Huỳnh Văn Tiễng – Mai Văn Bộ – Lưu Hữu Phước].

Kho tàng thực vật ấy chúng ta có phận sự bảo tồn. Sự bảo tồn và phục hồi thiên nhiên ở nước ta rất là cấp bách. Nó có thể thực hiện, vì mỗi người của chúng ta, dù lớn dù nhỏ đều có thể góp phần vào sự bảo tồn ấy. Bằng những cử chỉ nhỏ nhặt hàng ngày, sự đóng góp của chúng ta quan trọng không kém.

Không quăng bậy một tia lửa, một tàn thuốc, là ta góp phần tránh nạn cháy rừng. Không đốn bậy một cây, là ta bảo vệ Thiên nhiên của ta. Trồng cây là phận sự của chính quyền hay của các Công ty gầy rừng. Nhưng quanh nhà chúng ta, chúng ta có thể tìm trồng một cây lạ, đặc biệt, hiếm của vùng hay chỉ có ở Việt Nam. Dân ta yêu cây hoa-kiểng, nhưng các nhà nhàn rỗi có thể trồng cây lạ, đặc biệt, cũng là một thú không kém hay đẹp. Các thị xã nên có một công viên hay vườn bách thảo, không lớn thì nhỏ để khoe các cây hay của vùng, không bắt buộc là cây hữu ích hay đẹp. Cây Dó đâu có gì lạ? Nhưng nó là niềm tự hào cho dân tộc vì từ Hồng Bàng, dân ta đã biết lấy trầm từ nó. Cả ngàn loài cây khác chỉ có ở Việt Nam mà thôi! Các cây này có thể trồng như cây che bóng mát dựa lộ. Các làng, các quận, các tỉnh nên tạo phong trào trồng nhiều loài lý thú như vậy. Ta không cần đợi các lâm viện, khu dự trữ để bảo vệ tài nguyên quý báu cho thế hệ sau, mà ta cũng có thể chính mình góp phần vào sự bảo vệ ấy. Trồng các cây lạ, đặc biệt ấy còn là một yếu tố quến [chữ GS Phạm Hoàng Hộ theo cái nghĩa quyến rũ] du khách quan trọng: Lan Thuỷ tiên hường Dendrobium amabile của ta, chỉ có ở một Vườn Bách thảo ngoại quốc trồng được và họ tự hào đến đỗi đã ghi trong “Sách ghi quán quân thế giới 1988.”

Hàng năm ta có thể tuyên dương nhà nào đã trồng cây hay, lạ. Tất nhiên là công với nước nhà mới trông không bằng những ai đã đem Rhizobium vào để tăng năng xuất đậu nành, đã trồng được cây Dó tạo trầm, đã du nhập lúa Thần nông hay Nho. Nhưng nếu cả ngàn người, cả triệu người đóng góp cho non nước những “nhỏ-nhen” [chữ GS Phạm Hoàng Hộ theo cái nghĩa nhỏ nhặt], cả triệu cái nhỏ-nhen chắc chắn trở nên một khối đồ sộ.

Đóng góp lớn, tôi vẫn cho là việc khó. Tôi quý các đóng góp nhỏ, hằng ngày mà ai cũng làm được. Nó hay hơn. Kẻ sĩ, theo tôi không phải chỉ là những kẻ đã làm được những chuyện lớn. Đóng góp những chuyện nhỏ hàng ngày cũng là hành động của một kẻ sĩ, kẻ sĩ vô danh. Kẻ sĩ vô danh cao quý không kém. Với những đóng góp nhỏ ấy, chắc chắn bạn không làm buồn lòng cho Tổ Quốc và không thẹn với Non Sông. [lược dẫn Thay Lời Tựa, bộ sách Cây Cỏ Việt Nam; Quyển III, Tập 2].

Qua “Di Chúc” ấy của GS Phạm Hoàng Hộ, từ nay môn Sinh học Thực Vật không còn là lý thuyết mà đã đi vào đời sống; Giữ Xanh Đất Mẹ phải là kim chỉ Nam cho mọi trình độ giáo dục từ Tiểu học tới Đại học, cả trong công dân giáo dục, là giá trị phổ quát và xuyên suốt cho mọi thể chế chính trị và cả trên tầm vóc toàn cầu là Giữ Xanh Trái Đất này / Keep this Planet Green.

THAY CHO MỘT KẾT TỪ

Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã xem bộ sách “Cây Cỏ Việt Nam là công trình của đời tôi” và Giáo sư đã đề tặng toàn sự nghiệp ấy cho:

 “Những ai còn sống hay đã chết trong tù vì tháng Tư năm 1975 đã quyết định ở lại để tiếp tục dâng góp cho đất nước.

 Tặng giáo sư Nguyễn Duy Xuân nguyên viện trưởng Đại Học Cần Thơ, mất ngày 10/XI/1986 tại trại Cải Tạo Hà-Nam-Ninh.

Tặng hương hồn những ai trên biển Đông đã chết nghẹn ngào”.

 Bài viết này như lời cầu nguyện gửi tới hương linh các Giáo sư Nguyễn Duy Xuân, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Đỗ Bá Khê – những nhà khoa học với nhân cách lớn, những kẻ sĩ khí phách biểu tượng của giới trí thức Miền Nam, đã đi hết chặng đường đau khổ với trọn đời cống hiến trong một giai đoạn vô cùng đen tối của đất nước. Viết trong nỗi xúc động, cùng với nén nhang tưởng nhớ, nghĩ tới câu thơ của thi hào Nguyễn Du: Thác là thể phách còn là tinh anh. Tấm gương của các Thầy vẫn cứ mãi là Ngọn Hải Đăng soi sáng và dẫn đường cho Đồng Bằng Sông Cửu Long đang như một con tàu lạc hướng sắp đắm, sẽ vượt qua mọi sóng gió, vào được bến đỗ an toàn. Và cũng ước mong một ngày nào đó “hoa sẽ nở trên đường quê hương”, và rồi ra trên một đất nước có tự do dân chủ, sẽ có một tượng đài của GS Phạm Hoàng Hộ trên đỉnh Fan Xi Pan cao hơn 3000 mét ở Hoàng Liên Sơn để các thế hệ môn sinh tiếp tục được Thầy Hộ hướng dẫn tới đó khảo sát Cây Cỏ và hoàn tất Giấc Mơ Việt Nam của Thầy.

NGÔ THẾ VINH

Sài Gòn 30 tháng 4, 1975 – ĐBSCL 30.tháng 4, 2020

[Chân Dung VHNT & VH, Việt Ecology Press 2017]

Tham Khảo:

1/ GS. Phạm Hoàng Hộ & GS. Nguyễn Duy Xuân đối với việc hình thành và phát triển Viện Đại học Cần Thơ (1966 – 1975); Phạm Đức Thuận; Tập San Xưa và Nay Số 439 Tháng 11 Năm 2013; http://www.cantholib.org.vn/Database/Content/1188.pdf

2/ Vị Tổng Trưởng quyết không rời Quê hương. Trung Hiếu; Báo Thanh Niên 28.04.2015; http://thanhnien.vn/thoi-su/giu-huyet-mach-cho-hon-ngoc-vien-dong-ky-6-vi-tong-truong-quyet-khong-roi-que-huong-556577.html

3/ Anh Chị Thuỷ – Thu Vân thăm Thầy Phạm Hoàng Hộ, http://truongxuabancu.fpb.yuku.com/topic/118/Anh-Ch-ThuThu-Vn-thm-Thy-Phm-Hong-H#.WJNVUxTcdwg

4/ Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, một người thầy của tôi. Lê Học Lãnh Vân; Một Thế Giới.VN 02.02.2017; http://motthegioi.vn/giao-duc-c-69/cau-chuyen-giao-duc-c-108/giao-su-pham-hoang-ho-mot-nguoi-thay-cua-toi-55462.html

5/ Đại học cộng đồng được thành lập trước 1975. GS Đỗ Bá Khê; Đặc san Tiền Giang, July 1998. 

http://daihoc.tripod.com/199807-tiengiang.html

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Prescription for the Rescue of the Mekong: Gray Matter with a Voice / Vũ khí giải cứu Mekong: “Chất xám và Tiếng nói”

image034image035

BS. Ngô Thế Vinh: Tốt nghiệp Y khoa Sài Gòn, làm báo sinh viên Tình thương, y sĩ liên đoàn 81 Biệt cách dù, bác sĩ nội trú các trường đại học New York, hiện là bác sĩ điều trị tại một bệnh viện Nam California, Mỹ. Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng là một dữ kiện tiểu thuyết liên quan tới môi sinh và phát triển lưu vực sông Mekong và ĐBSCL. Nối tiếp sau đó là ký sự Mekong dòng sông nghẽn mạch ra đời; bên cạnh bản tiếng Việt, ký sự này được dịch sang tiếng Anh, thu hút khá nhiều quan tâm của giới khoa học, nhà báo, nhà hoạt động môi trường thế giới…

Lê Quỳnh

VĂN HÓA Online

image036image037image038image039image040image041image042image043image044image045image046

Phỏng vấn Bác sĩ Ngô Thế Vinh – người đi dọc 4.800 km sông Mekong

LTS. Gần 20 năm tâm huyết với các vấn đề trên dòng Mekong cũng như đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), bác sĩ Ngô Thế Vinh không chỉ là một nhà văn với hai tác phẩm Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng và Mekong – dòng sông nghẽn mạch, ông còn là một nhà hoạt động môi trường bền bỉ. Ông đã có những chuyến đi dọc dòng Mekong dài 4.800km, từ Tây Tạng đổ xuống Biển Đông. Người Đô Thị có cuộc phỏng vấn ông Ngô Thế Vinh về các vấn đề nóng bỏng hiện nay trên dòng Mekong và ĐBSCL.

Thưa, dù đã 17 năm trôi qua, từ những chuyến đi dọc dòng sông Mekong dài 4.800km, bức tranh sống động mà ông “phác họa” về những tác hại khủng khiếp do các con đập thủy điện gây ra cho đời sống người dân lưu vực sông Mekong đến nay vẫn nóng hổi tính thời sự. Từ những dự cảm rất sớm về những hậu quả do các đập thủy điện gây ra trên dòng Mekong và cho ĐBSCL nói riêng, ông nhận định gì về thực trạng hiện nay?

image034

Băng qua Biển Hồ đến khu Bảo tồn sinh thái Tonle Sap (nguồn: tư liệu Ngô Thế Vinh)

Năm 2000, khi nói “Cửu Long cạn dòng”, nhiều người xem đó là phát biểu “nghịch lý” bởi đó là năm có lụt lớn ở miền Tây. Một vị tu sĩ đang tất bật lo việc cứu trợ, mới nghe tên cuốn sách đã phát biểu: “Đang lũ lụt ngập trời với nhà trôi người chết mà lại nói “Cửu Long cạn dòng” là thế nào?” Nhưng cần hiểu rằng lũ và hạn tương ứng với mùa mưa và mùa khô là chu kỳ tự nhiên đã có hàng ngàn năm trên dòng Mekong và các vùng châu thổ, và đến nay thì mức độ càng trầm trọng và gay gắt. Chúng ta không thể đổ lỗi hết cho “thiên tai”, mà cần can đảm gọi cho đúng tên những yếu tố “nhân tai” bởi do chính con người gây ra qua suốt quá trình phát triển không bền vững và có tính tự hủy từ nhiều thập niên qua, đã làm gãy đổ sự cân bằng của cả một hệ sinh thái vốn phức tạp nhưng cũng hết sức mong manh của dòng Mekong.

Một chuỗi những tai ương do chính con người gây ra đó là: (1) Phá hủy tự sát những khu rừng mưa trong toàn lưu vực. Những khu rừng mưa này có tác dụng như những tấm bọt biển khổng lồ giữ nước trong mùa mưa, xả nước trong mùa khô với chức năng điều hoà lưu lượng nước của dòng sông trong suốt hai mùa khô lũ, thì nay không còn nữa. (2) Xây các con đập thủy điện không chỉ trên dòng chính mà ngay trên khắp các phụ lưu sông Mekong từ thượng nguồn xuống tới hạ lưu, và đáng kể nhất là chuỗi những con đập bậc thềm (Mekong Cascades) Vân Nam của Trung Quốc. Hồ chứa các con đập ấy không những chỉ giữ nước mà còn ngăn chặn phù sa như một dưỡng chất xuống vùng châu thổ ĐBSCL. Nguồn thủy điện cũng đưa tới kỹ nghệ hóa, đô thị hóa với trút đổ các chất phế thải xuống sông gây ô nhiễm nguồn nước sông Mekong. (3) Còn phải kể tới kế hoạch Trung Quốc cho nổ mìn phá các ghềnh thác khai thông lòng sông Mekong để mở thủy lộ từ Vân Nam xuống xa tới Vạn Tượng, Trung Quốc đã làm biến dạng toàn dòng chảy, gây xói lở trầm trọng các khu ven sông. (4) Cộng thêm những sai lầm về các kế hoạch thủy lợi tự phát ngay nơi ĐBSCL như be bờ ngăn đập rồi tới nạn “cát tặc” ngày đêm nạo vét lòng sông…

Tình trạng này gây thảm họa nhãn tiền: nếu lụt thì sẽ rất lớn ngay mùa mưa, hạn hán sẽ gay gắt hơn trong mùa khô và nạn ngập mặn ngày càng lấn sâu vào trong đất liền. Như vậy chủ yếu là do các nguyên nhân nhân tai, nay cộng thêm với biến đổi khí hậu, El Nino… là phần thiên tai cộng thêm vào. Không gọi đúng tên, đổ hết cho thiên tai là một thái độ chối bỏ nguy hiểm của giới chức Việt Nam hiện nay.

image047

Trên dòng chính Mekong, Trung Quốc đã và vẫn tiếp tục xây đập thủy điện trên thượng nguồn, Lào xây đập dưới hạ nguồn, còn Thái Lan dẫn nước từ dòng Mekong vào ngay cả mùa khô… Trong tình hình ấy, điều ông lo ngại nhất là gì?

Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, sau khi Trung Quốc hoàn tất hai con đập lớn nhất: Nọa Trác Độ (Nuozhadu) 5.850MW và Tiểu Loan (Xiaowan) 4.200MW, về tổng thể Bắc Kinh hầu như đã hoàn thành kế hoạch thủy điện của họ trên suốt nửa chiều dài con sông Lan Thương (Lancang – tên Trung Quốc của sông Mekong). Theo Fred Pearce, Đại học Yale, con sông Mekong nay đã trở thành tháp nước và là nhà máy điện của Trung Quốc. Philip Hirsch, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu sông Mekong thuộc Đại học Sydney nhận định: “Hai con đập khổng lồ Nọa Trác Độ và Tiểu Loan sẽ ảnh hưởng trên suốt dòng chảy của con sông Mekong xuống tới tận ĐBSCL của Việt Nam”. Chỉ với sáu con đập dòng chính hoàn tất, Trung Quốc đã đạt được công suất 15.150MW – nghĩa là hơn một nửa toàn công suất tiềm năng thủy điện của con sông Lan Thương. Với 8 dự án đập còn lại, và có thể sẽ còn thêm nhiều dự án mới nữa, Trung Quốc sẽ dễ dàng dứt điểm sớm trong vòng mấy thập niên đầu thế kỷ XXI.

Chúng ta không thể chỉ dựa vào một con số 16% lượng nước sông Mekong đổ xuống từ Trung Quốc, để bảo rằng ảnh hưởng chuỗi đập Vân Nam là không đáng kể. Xây chuỗi đập Vân Nam, Trung Quốc đã khởi đầu phá hủy sự cân bằng bền vững của toàn hệ sinh thái lưu vực sông Mekong. Dung lượng các hồ chứa Vân Nam ngoài khả năng giữ hơn 30 tỉ mét khối nước còn chặn lại một trữ lượng rất lớn phù sa không cho xuống tới ĐBSCL. Thiếu nước, thiếu phù sa lại thêm ngập mặn với nước biển dâng, cả một vùng đất phì nhiêu ĐBSCL, cái nôi của một nền văn minh miệt vườn, có tương lai trở thành một vùng đất chết do sa mạc hóa.

Điều gì đáng lo ngại nhất hiện nay? Rõ ràng Việt Nam đã mất cảnh giác và thiếu chuẩn bị trong cuộc chiến môi sinh “không tuyên chiến” của Trung Quốc. Lời kêu gọi Trung Quốc xả nước từ hồ chứa Vân Nam để cứu hạn cho ĐBSCL đã nói lên tình thế bị động của Việt Nam. Lẽ ra giới lãnh đạo phải tiên liệu nguy cơ này từ nhiều năm trước. Nay lại thêm 9 dự án đập dòng chính hạ lưu của Lào và 2 của Campuchia sẽ khiến bài toán cứu nguy ĐBSCL khó khăn và phức tạp hơn nhiều, mà Việt Nam thì chưa có một chiến lược đối phó.

Hiệp định Mekong 1995 được xem là một cơ sở kiểm soát bảo vệ dòng Mekong, tuy nhiên Trung Quốc từ chối tham gia. Tương tự, Công ước Liên Hiệp Quốc 1997 về sử dụng các nguồn nước liên quốc gia, Việt Nam thuận ký năm 2014, được biên soạn đặc biệt nhằm bổ sung và hạn chế những bất cập trong các hiệp định lưu vực hiện có như Hiệp định Mekong 1995, cũng thiếu tên Trung Quốc. Trong diễn tiến đó, Trung Quốc nay lại khởi xướng một diễn đàn mới: Hợp tác Lancang – Mekong ra mắt tháng 11.2015. Ông nhận định như thế nào về cơ chế này? Cơ hội của Việt Nam cũng như các nước trên lưu vực tham gia có thể là gì? Theo ông, liệu Trung Quốc có động cơ gì đằng sau đó không?

Uỷ ban Sông Mekong (MR Committee) được Liên Hiệp Quốc thành lập từ 1957, nhưng mọi dự án phát triển hầu như bị tê liệt do cuộc chiến tranh Việt Nam. Sau 1975, bước vào thời bình, con sông Mekong trở lại là mục tiêu khai thác của các quốc gia trong lưu vực. Nhu cầu phục hồi một tổ chức điều hợp liên quốc gia tương tự Ủy ban Sông Mekong trước đây là cần thiết. Ngày 5.4.1995, bốn nước hội viên gốc thuộc lưu vực hạ lưu Mekong đã họp tại Chiang Rai – Bắc Thái, để cùng ký kết Hiệp ước Hợp tác phát triển bền vững hạ lưu sông Mekong và đổi sang một tên mới là Ủy hội Sông Mekong (MR Commission).

Đại diện Việt Nam đặt bút ký vào Hiệp định Mekong 1995 là Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm với chấp nhận một thay đổi cơ bản trong hiệp ước mới: thay vì như trước, mỗi hội viên trong Ủy ban sông Mekong (1957) có quyền phủ quyết bất cứ một dự án nào bị coi là có ảnh hưởng tác hại tới dòng chính sông Mekong, nay theo nội quy mới (1995), không một quốc gia nào có quyền phủ quyết. Phát biểu trong Hội nghị Mekong 1999 tại Nam California (Mỹ), chúng tôi nhận định đây là khởi điểm một bước sai lầm chiến lược của Việt Nam, vì là quốc gia ở cuối nguồn.

Sáu nước lưu vực sông Mekong đang đứng trước nhiều vấn đề bức thiết liên quan đến kinh tế, xã hội cũng như bảo tồn môi trường sinh thái. Tuy nhiên, những khác biệt về yếu tố địa chính trị lại là rào cản không nhỏ trong tiến trình hợp tác, và đặt ra bài toán phải giải quyết hài hòa lợi ích của mỗi quốc gia. Theo ông, diễn biến chính trị ảnh hưởng như thế nào trong vấn đề hợp tác vùng và phát triển vùng trên dòng Mekong? Viễn cảnh phát triển Mekong sẽ là như thế nào trong bối cảnh biến đổi khí hậu?

Nhắc tới sự kiện Trung Quốc mới đây cho thành lập khối Hợp tác Lancang – Mekong, một cơ chế bao gồm 6 nước cùng sử dụng sông Mekong, nhiều người vội lạc quan cho rằng đó có thể là một phương tiện tốt để buộc Trung Quốc quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của các nước hạ nguồn. Mối lạc quan đó có thể đúng có thể không. Nhưng cần nhận thức rõ một điều: từ 1995, Trung Quốc chọn đứng ngoài Ủy hội Sông Mekong chỉ gồm 4 nước hạ lưu: Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam. Tới nay với 6 con đập dòng chính, về tổng thể, Trung Quốc đã hoàn tất kế hoạch thủy điện trên khúc sông Mekong 2.200km của họ.

Nay nếu có mở ra thêm khối Hợp tác Lancang – Mekong thì đó cũng chỉ là một bước chiến lược của Trung Quốc, tạo cho mình một hình ảnh hữu nghị nhưng thực tế là nhằm tăng cường ảnh hưởng đưa tới khống chế toàn bộ lưu vực sông Mekong. Trung Quốc sẵn có khả năng kỹ thuật, có nguồn tài chính hầu như vô hạn, Bắc Kinh thừa sức để gạt ảnh hưởng của Hoa Kỳ và Nhật Bản ra khỏi lưu vực sông Mekong, cũng như họ đã đánh sập thế thượng phong của Đệ thất hạm đội Hoa Kỳ trên Biển Đông bằng các đảo chiếm của Việt Nam rồi mở rộng xây dựng căn cứ quân sự trên đó.

Tương lai khối Hợp tác Lancang – Mekong ra sao, vẫn tùy thuộc thiện chí rất đáng ngờ của Trung Quốc. Những ai từng theo dõi cách hành xử của Trung Quốc trong bao năm nay, cũng nhận thấy là Bắc Kinh chưa hề có Hồ sơ theo dõi tốt (Good track records).

Nhưng rồi cũng phải kể tới tiềm năng “chất xám” mỗi quốc gia thành viên khi tham dự khối Hợp tác Lancang – Mekong, và quan trọng hơn hết là liệu có được một mẫu số chung đoàn kết của các nước nhỏ hay không. Thiếu một “tinh thần sông Mekong” nơi các quốc gia hạ lưu như hiện nay (vẫn cái cảnh “đồng sàng dị mộng”), lại thêm ác ý như từ bao giờ (Trung Quốc luôn luôn chia để trị), thì khối Hợp tác Lancang – Mekong chỉ là chiếc dù tạo thêm ảnh hưởng quyền lực của Trung Quốc trên mỗi quốc gia hạ nguồn.

Nếu Trung Quốc có thực tâm, phải đòi hỏi Bắc Kinh đi đến một Hiệp ước Lancang – Mekong theo đó mỗi quốc gia thành viên phải được tôn trọng và đối xử bình đẳng, có thể xem đây như một Ủy hội Sông Mekong mở rộng bao gồm thêm Trung Quốc và Myanmar.

Điểm qua tình hình hiện nay: Thủ tướng Campuchia Hunsen gần như hậu thuẫn vô điều kiện chính sách của Trung Quốc; Lào thì bất chấp mọi khuyến cáo vẫn từng bước thực hiện xây 9 con đập dòng chính Mekong (đang xây hai đập Xayaburi và Don Sahong); Thái Lan không ngừng lấy nước từ sông Mekong cung cấp cho các vùng khô hạn của họ; Myanmar thì không phải là yếu tố quan trọng khi chỉ tiếp cận một khúc sông Mekong vùng Tam giác vàng; riêng Việt Nam gần như bị động và chưa có “một chiến lược trên bàn cờ Mekong” khi quyết định tham dự khối Hợp tác Lancang – Mekong.

Điều cần làm ngay, là cấp thiết di chuyển Ủy ban Mekong Việt Nam từ Hà Nội về ĐBSCL để cùng bắt tay hình thành một phân khoa Mekong nơi Đại học Cần Thơ, giúp phái đoàn Việt Nam có một hồ sơ Mekong mang tính chiến lược, có cơ sở pháp lý khi họ tới dự những hội nghị thượng đỉnh Mekong. Mekong Delta SOS phải là ưu tiên số một trong nghị trình của Hội đồng Chính phủ, của Quốc hội và cả của Bộ Chính trị. Thảm hoạ đại hạn nơi ĐBSCL nếu cần phải đưa ra trước Diễn đàn Liên Hiệp Quốc.

Ông đánh giá thế nào về vai trò của tiếng nói cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ (NGO) trong bối cảnh các quốc gia lưu vực sông Mekong còn nhiều quan điểm khác biệt? Ở Việt Nam, theo ông, vai trò tiếng nói này hiện nay thế nào, và cần như thế nào?

Khi nhìn chung vào lưu vực 5 nước sông Mekong hạ nguồn (thêm Myanmar), một ký giả ngoại quốc nhận xét: tiếng nói của các cộng đồng dân sự, các mạng xã hội Việt Nam về vấn đề sông Mekong được kể là “khá hiếm” so với những tiếng nói của cư dân Bắc Thái Lan, người dân Lào và ngay cả dân Campuchia. Điều này hầu như lại càng rất hiếm thấy nơi cộng đồng 20 triệu cư dân ĐBSCL. Cũng dễ hiểu, đa số nông dân bị thiếu học với một nền giáo dục thấp hơn cả Tây nguyên, lại thêm bị bưng bít thông tin thì làm sao bảo họ có tiếng nói ngoài thái độ cam chịu. Tiếng nói của những “tổ chức được gọi là NGO” thì luôn luôn luôn bị kiểm soát và định hướng bởi Nhà nước, và những định hướng thiển cận như hiện nay đã triệt tiêu mọi sáng kiến từ các nguồn trí tuệ. Nhưng dẫu sao, quan sát từ bên ngoài, đã thấy ánh sáng cuối đường hầm, đang có những nỗ lực tích cực từ trong nước để hình thành những cộng đồng dân sự xã hội thực sự có tiếng nói, nhưng dĩ nhiên có một cái giá phải trả cho những bước tiên phong ấy. Đó là một tiến trình không thể đảo nghịch và cũng đã đến lúc Nhà nước ý thức được rằng họ không thể tạo nút chặn cho cả một xu thế thời đại.

Cảm nhận của ông như thế nào về vai trò của các nhà khoa học Việt Nam hiện nay trong “bài toán” sông Mekong nói chung và ĐBSCL nói riêng? Họ cần có “cơ chế” gì để tiếng nói thực sự đạt hiệu quả?

Tuy chưa có dịp được gặp hết, chúng tôi vẫn theo dõi sinh hoạt của các nhà khoa học Việt Nam từ những năm qua. Họ đã và đang phải làm việc trong những điều kiện vô cùng khó khăn, nhưng nỗ lực của các anh chị ấy để cất tiếng nói bảo vệ một hệ sinh thái lành mạnh cho Việt Nam, tuy thầm lặng, đã được nhiều người biết đến. Từ bên ngoài, chúng tôi luôn quan niệm “bài toán” sông Mekong và cứu nguy ĐBSCL phải từ các nhà khoa học và giới trẻ trong nước. Việt Nam không hề thiếu chất xám nhưng giới khoa học ấy không có phương tiện, không có tự do hoạt động ngay cả trong môi trường đại học. Có thể đi tới một kết luận: “dân chủ và môi sinh” phải là bộ đôi không thể tách rời.

Tôi cũng cho rằng, cứu vãn được nhịp đập của “trái tim Biển Hồ” là giải pháp khả thi cứu nguy cho các vùng châu thổ Tonle Sap của Campuchia và ĐBSCL của Việt Nam, dĩ nhiên với cái giá rất cao mà Việt Nam không thể không hợp tác với Campuchia đầu tư vào.

Ngô Thế Vinh: Ông có một kho dữ liệu quý về văn hóa, lịch sử, môi trường… liên quan đến 4.800km dòng Mekong, từ Tây Tạng đổ xuống Biển Đông, nơi hơn 65 triệu cư dân sinh sống. Đó là những tư liệu chuyên ngành chẳng liên quan gì đến nghề bác sĩ của ông cả. Nên nếu được tự nói về mình, ông nhận mình là một bác sĩ, nhà văn, nhà báo, hay là một nhà khoa học?

LÊ QUỲNH thực hiện

25/4/2016

Người Đô Thị, tháng 4.2016

http://nguoidothi.net.vn/phong-van-ngo-the-vinh-nguoi-di-doc-4-800km-song-mekong-3533.html

http://nguoidothi.net.vn/don-doc-nguoi-do-thi-phat-hanh-ngay-29-4-3227.html

(*) Tên bài trên bản báo giấy: “Vũ khí giải cứu Mekong: chất xám và tiếng nói”

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Đạo dạy học cốt yếu ở chỗ coi trọng Đức, quý chuyên Tâm

Đạo dạy học cốt yếu ở chỗ coi trọng Đức, quý chuyên Tâm

Học làm người trước, học việc sau (ảnh: Shutterstock).
Trẻ em như giấy trắng, viết thứ gì vào thì chính là lưu giữ lại thứ ấy, cho nên người lớn cần suy nghĩ cẩn trọng. Trong kho tàng tri thức của nhân loại, hỏi đâu là giá trị tinh túy để dạy trẻ em? Câu trả lời thực đã có tự ngàn xưa.

Người xưa coi trọng giáo dục Đức. Bao trùm và xuyên suốt hàng ngàn năm lịch sử, cách dạy con của cổ nhân đều tập trung và nhấn mạnh vào việc phải tu thân dưỡng Đức.

ADVERTISING

“Người ban đầu, vốn tính thiện
Tính gần nhau, thói cách xa.
Nếu không dạy, tính thay đổi
Đạo dạy học, quý chuyên tâm”.

(Tam Tự Kinh)

Con người sinh ra vốn tính lương thiện, nhưng nếu không được giáo dục thì dưới ảnh hưởng của hoàn cảnh khác nhau, hậu thiên dễ dàng che mờ tiên thiên. Trong vô minh, chúng ta lạc mất bản tính, tự mình đánh mất Đức mà không biết.

Vậy trọng tâm của giáo dục chính là làm sao để con người nhận ra bản chất của mình là cái lương thiện ban đầu ấy, chứ không phải những thứ phù hoa sớm nở tối tàn. Khi đạo đức đang xuống cấp, trách nhiệm của giáo dục lại càng quan trọng. Bởi vì giữa dòng đời đục trong, giáo dục giúp con người hồi tâm chuyển hướng, trở về với bản tính tiên thiên của mình. Và để làm được điều này, việc dạy và học cần duy trì thường hằng, không được bỏ dở giữa chừng.

Thế nhưng, giáo dục ở nhà trường và gia đình hiện nay dường như đã rời xa cái tinh túy ấy. Đó là lý do vì sao người trẻ bây giờ không hiểu Đức là gì. Trường học thường lấy danh lợi làm trọng, quen nhồi nhét kiến thức cho học sinh, tập trung vào thành tích. Ở nhà, cha mẹ có thể quan tâm giáo dục, quản giáo con cái nhưng nếu không dạy điều Thiện thì cũng như không dạy.

Việc dạy và học nếu không lấy “coi trọng Đức, quý chuyên Tâm” làm cốt lõi, trẻ có học ngày học đêm cũng không thành người nhân cách, nghĩa là không kính trọng thầy cô, không biết ơn cha mẹ, không có thành tín, chí hướng, khoan dung, hối lỗi, không có tinh thần ham học tri thức, quý trọng sách vở thì nói đến việc học làm sao đặng?

Vì vậy, trong suy nghĩ của trẻ em ngày nay, chúng cảm thấy trường học khô khan cứng nhắc, thầy cô hay phàn nàn. Mặc dù thầy cô và nhà trường dồn bao công sức nhưng chúng vẫn chán nản học tập, lại thêm tính tình ích kỷ, nóng giận. Nạn bắt nạt học đường là phổ biến. Giáo dục gia đình càng khó khăn vì cha thường không đủ kiên nhẫn, con thường không biết dạ vâng…

Nhiều thầy cô và phụ huynh than thở rằng dạy trẻ thời nay sao khó quá! Nhìn chung là trên bảo dưới không nghe, cũng bởi vì không lấy Đức làm trọng, hơn nữa nếu trên không đủ Thiện thì dưới không thể thuận mà làm theo.

Tất nhiên, trường học có cái khổ của trường học, gia đình có cái khó của gia đình, cái khó cái khổ ấy thuộc về thời đại! Thật may là giáo dục có nhiều con đường khác tươi sáng.

Tự hỏi, có con đường nào mà ở đó thấm nhuần đạo lý nhân sinh, trẻ hiểu được bản tính tiên thiên, rồi nguyện ý nhìn vào nội tâm, tự ước thúc thay đổi phần hậu thiên không tốt của mình?

Cần hiểu rằng người lớn hay trẻ em đều có một điểm chung: con người ta chỉ khi thật tâm muốn thay đổi thì mới thay đổi, bằng không mọi sự ép buộc chỉ gây ra tổn thương cho mối quan hệ đôi bên, căn bản là không động được vào cái tâm ấy thì không tác dụng gì.

Từ xưa tới nay, sách luôn được coi là người thầy mẫu mực của mỗi người, chính là vì có thể cải biến tư tưởng con người, làm thay đổi nhân tâm. Người xưa coi việc đọc sách vừa để tu học, vừa để tu tâm dưỡng tính. Thừa tướng nổi tiếng của triều đại Bắc Tống, đồng thời là nhà sử học Tư Mã Quang (1019 – 1086) một ngày nhìn thấy con trai đang cầm quyển sách một cách hờ hững trong tay, ông đã ngay lập tức dạy bảo: “Một người cao quý thích đọc sách Thánh hiền. Điều đầu tiên là người ấy phải yêu quý và trân trọng những cuốn sách”.

Còn cha mẹ người Do Thái lại xức dầu thơm vào từng trang sách để khuyến khích con trẻ yêu và đam mê việc đọc. Họ tin rằng: “Chúng ta sẽ trở thành gì, phụ thuộc vào điều chúng ta đọc sau khi tất cả các thầy cô giáo đã xong việc với chúng ta. Trường học vĩ đại nhất chính là sách vở”.

Chỉ có điều, sách có nhiều mà đọc nhiều dễ loạn. Nếu sách không đủ tốt thì cũng không cải biến được con người, thậm chí có thể ô nhiễm tư tưởng hoặc làm tư tưởng hạn hẹp, nhỏ bé đi. Quý hồ tinh bất quý hồ đa. Nếu có một cuốn sách nào đó mà khiến chấn động nhân tâm, lòng người quy phục, đạo đức hồi thăng thì cuốn sách ấy nên đọc, nên đọc lắm.

Để con người quy về bản tính lương thiện, nhất định cuốn sách ấy tự nó phải chứa đựng sự chân chính, thiện lương, khoan dung và nhẫn nại. Một cuốn sách “uy đức to lớn” có thể cải biến tư tưởng của chúng ta như “từ bi có thể làm nóng chảy cả sắt thép”.

Thế mới có chuyện người ta đọc xong cuốn sách mà cảm thán như tìm được báu vật: “Vừa đọc cuốn sách là tôi đọc mãi từ sáng đến tối, đến nỗi chẳng muốn bật đèn nữa, vì đã bị cuốn vào trong đó rồi. Đọc xong một phần thì lại muốn xem phần tiếp theo, đọc xong rồi thì lại muốn biết phần sau còn nói điều gì. Sau khi đọc xong rồi thì thấy toàn bộ thế giới quan đều thay đổi cả. Một số sự việc rất mơ hồ trước đây như thể được giải quyết hết tại thời khắc đó. Lúc đó cảm giác được đây chính là thứ mà tôi cần”. Phải rồi, mong mỏi từ sâu thẳm của sinh mệnh con người là phản bổn quy chân, trở về bản tính tiên thiên!

Quá trình trở về ấy thật không dễ dàng với người lớn, bởi vì sau những năm tháng gian khó của đời người thì bụi phủ một lớp đã dày, quan niệm hậu thiên tầng tầng lớp lớp che mờ bản tính tiên thiên. Trong khi đó, trẻ con vốn có tâm hồn trong sáng, mọi chuyện với chúng thành thật và tự nhiên như hít thở vậy.

Dưới đây là những suy nghĩ của Eli, Ivan, Emi, Lilia, Angela, Kalina, bọn trẻ viết nhật ký về quá trình thay đổi bản thân, quả thực đã làm được “coi trọng Đức, quý chuyên Tâm”. Tất cả đều là nhờ đọc một cuốn sách phi thường lấy Chân – Thiện – Nhẫn làm nguyên lý cốt lõi, nên chúng hiểu được bản tính tiên thiên là gì, nguyện ý nhìn vào nội tâm, tự ước thúc thay đổi phần hậu thiên không tốt của mình.

Trẻ chăm chú đọc sách, bồi dưỡng thiện lương (ảnh: Minh Huệ Net).

Trong nhật ký ngày 5 tháng 9 của mình, Eli đã viết rằng: “Hôm nay mình và các bạn bắt được một con thằn lằn. Chúng mình muốn giữ nó ở trong lọ để làm vật nuôi. Nhưng sau đó mình nhận ra rằng như vậy là không Thiện, chúng mình đã bắt nó rời khỏi môi trường sống tự nhiên, và không quan tâm đến sức khỏe của nó. Sau đó, chúng mình đã thả cho con thằn lằn đi”. Eli đã nhận ra bản tính tiên thiên của mình là Thiện, nghĩ đến cái khổ của người khác, và ngay lập tức em sửa chữa hành động của mình.

Cậu bé Ivan 12 tuổi viết trong nhật ký ngày 2 tháng 9 của mình về việc cậu có mâu thuẫn với bà. Bà muốn Ivan tắt tivi bởi vì em đã xem quá thời gian quy định. Nhưng em đã xin phép bà xem hết tập phim và hứa sẽ tắt tivi ngay sau khi xem xong. Ivan làm đúng như lời đã hứa, và hiểu rằng em đã thực hiện được Chân.

Vào ngày 4 tháng 9, Ivan viết: “Hôm nay mình có mâu thuẫn với bà vì vụ những chiếc bánh kếp. Mình đã thực hiện được Chân bởi vì mình đã thú nhận với bà rằng mình đã ăn chiếc bánh cuối cùng.”

Cậu bé Ivan 12 tuổi (ảnh: Minh Huệ Net).

Cô bé 9 tuổi Kalina là em gái của Ivan. Cháu viết trong nhật ký của mình rằng: “Hôm qua, chúng mình chơi bài với anh trai. Anh đã thắng bởi vì anh chơi ăn gian, vì vậy mình đã nổi khùng lên và cất hết các lá bài đi. Sau đó mình nhận ra rằng mình đã không Thiện, vì vậy mình đã lấy bài ra và chơi một ván mới”. Bản tính Thiện và Nhẫn được đánh thức đã khiến Kalina không tính đến lỗi lầm của anh trai nữa, coi như chưa có chuyện gì xảy ra.

Cô bé 9 tuổi Emi tự ngăn mình không làm việc xấu và còn thú nhận về ý nghĩ xấu cho người khác, một điều mà ngay cả người tốt bình thường cũng chưa chắc làm được. Trong nhật ký của mình, em viết: “Hôm nay mình muốn lấy một ít tiền trong con lợn tiết kiệm của em gái. Nhưng thứ gì đó đã ngăn mình lại, mình nhận ra rằng việc này là không tốt, vì vậy mình đã không làm nữa. Sau đó mình đã thú nhận với em về ý định xấu của mình.”

Lilia 11 tuổi nói rằng đối với cháu, thực hành Thiện là dễ nhất và Nhẫn là khó nhất. Cháu chia sẻ rằng khi gặp mâu thuẫn với người khác hay khi không làm được điều như mong muốn, cháu rất khó giữ vững bản thân. Nhưng bây giờ, cháu đang cố gắng không cãi lại người khác. “Năm nay, cháu đã trở nên bao dung hơn với thầy cô và bạn bè. Cháu làm những việc mình nên làm, và cháu sẵn lòng làm bài tập về nhà mà không phàn nàn hay oán thán.” Cháu viết trong nhật ký ngày 3 tháng 10 của mình rằng: “Em gái mình không muốn chuẩn bị sách vở cho vào cặp. Mình đã chiểu theo nguyên lý Thiện và giúp đỡ em làm việc này.”

Có người thấy thật kỳ lạ, làm sao mà bọn trẻ có thể tự nhận ra mình đã không tốt và tự sửa ngay lập tức? Chúng hiểu được thế nào là đúng sai, theo Chân – Thiện – Nhẫn mà làm, chẳng phải quá tốt hay sao!

Bởi vì sách đã cải biến được tư tưởng của chúng, làm thay đổi nhân tâm.

Tuy nhiên, trẻ con cũng có thiên tính ham chơi và môi trường xung quanh dễ khiến chúng bị xao nhãng. Bởi vậy, cuốn sách quý dùng để chỉ đạo, còn cha mẹ thì phải đồng hành.

Thuở xưa, một lần Mạnh Tử bỏ học trở về nhà, mẹ Mạnh Tử đã tức giận cắt miếng vải đang dệt dở và khung cửi ngay trước mặt con. Bà răn dạy con rằng: “Đi học cũng giống như dệt vải vậy. Một miếng vải tốt được dệt bắt đầu từ từng sợi một, dệt thành một tấc rồi sau đó dần dần được một thước, cuối cùng mới được một súc vải hoàn chỉnh hữu dụng. Nếu việc học cũng như mảnh vải dệt dở chừng bị cắt như thế này thì bao công sức trước đây đều uổng phí, sẽ thành vô dụng”.

Vì vậy trẻ thực sự cần người lớn nhắc nhở việc đọc sách và ước thúc tâm tính của mình (ghi nhật ký là một cách làm rất tốt), phải kiên trì không được bỏ dở giữa chừng, nhớ học làm người trước. Làm được như vậy là đạt được cái gốc của giáo dục, coi trọng Đức, quý chuyên Tâm.

Video: Cổ nhân thường nói “tích đức, thất đức” – Đức ấy là gì?

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Phật giáo, tính dục và sự thèm khát

Phật giáotính dục và sự thèm khát

25/02/20204:37 CH(Xem: 3562)
Phật giáo, tính dục và sự thèm khát

PHẬT GIÁOTÍNH DỤC VÀ SỰ THÈM KHÁT
Philippe Cornu | Không rõ người dịch

Philippe CornuPhật giáo nhìn tính dục dưới khía cạnh của sự thèm khát và đau đớn: Đó là một mối hiểm nguy xô đẩy con người vào cảnh đoạ đày của dục vọng và đau khồ.

1/Phía sau thân xác và giới tính là sự thèm khát

Phật giáo không áp đặt một quy luật nào cho xã hội con người, không hề làm luật cũng không thiết đặt một nền luân lý mang tính tập thể nào cả. Phật giáo hướng vào cá nhân con người, khuyên con người nên chọn cho mình cách sống như thế nào và cách tu tập ra sao để diệt trừ khổ đau và tự giải thoát khỏi những trói buộc của hiện hữu. Vì thế, những lời giáo huấn của Đức Phật (thế kỷ V trước Tây lịch) có nói đến tính dục, đấy là những lời khuyên bảo mang tính cách cá nhântuyệt nhiên không phải là những phán lệnh áp đặt cho toàn thể xã hội con người.

Đức Phật nêu lên khái niệm về Bốn Sự thật Cao quý (Tứ diệu đế) làm nền tảng cho giáo lý của Ngài, nhấn mạnh trước hết đến bản chất khổ đau bàng bạc khắp nơi và không thể nào tránh khỏi (sự thật thứ nhất). Sau đó Ngài giải thích nguồn gốc làm phát sinh khổ đau (sự thật thứ hai), đấy là sự thèm khát, trong đó có sự ham muốn quá độ các lạc thú tính dục; mong muốn tìm được mãi những lạc thú ấy, kể cả sự ham muốn tìm thấy sự huỷ diệt và sự phi hiện hữu. Tại sao Phật giáo lại kết án sự thèm khát? Vì Phật giáo xem đó là sản phẩm của vô minh – có nghĩa là không hiểu mình và bản chất của sự hiện hữu của chính mình là gì. Tác động của vô minh mang lại một cảm tính về một “cái ngã” tự tại, cảm tính đó được củng cố vững chắc thêm dựa vào các kỷ niệm, thói quen, những thứ tình cảm quen thuộc thường xảy ra trong tâm thức và nhất là sự bám víu vào thân xác của mình. Thế nhưng tất cả những thứ ấy thật phù du; vì thế để cưỡng lại sự phù du ấy ta càng củng cố thêm cảm tính về “cái tôi” trường tồn bằng cách gia tăng thêm những cảm nhận lạc thú và luôn phóng nhìn vào tương lai. Tiếc thay, cách kéo dài và bảo vệ “cái tôi” ấy chỉ hoài công, bởi vì không thể tránh né được quy luật của vô thườngGià nua, bệnh tật và cái chết cho thấy vô thường lúc nào cũng hiển nhiên ra đó.

Tính dục liên hệ trực tiếp đến sự cảm nhận của thân xác. Thế nhưng thân xác lại là sản phẩm phát sinh từ nghiệp trong quá khứ, tức là hậu quả phát sinh từ các hành động của mình từ trước. Thân xác thường được ví như một cỗ xe quý giá, một phương tiện đưa đến giác ngộ, thế nhưng thân xác cũng được mô tả như một gánh nặng hay nguyên nhân làm phát sinh dâm dục và mọi thứ lo lắng khác, cản trở đời sống tâm linh của chính mình. Vậy hai cách hình dung ấy có mâu thuẫn với nhau hay không? Hoàn toàn không! Bởi vì mọi khó khăn đều phát sinh từ sự bám víu do chính mình tạo ra cho thân xác nhưng tuyệt nhiên không phải thân xác tự tạo ra những khó khăn ấy cho nó. Thân xác nhờ có ngũ giác nhận biết được sự tiếp xúc phát sinh từ cảm nhận, dù đấy là sự cảm nhận thích thú, khó chịu hay trung hoà; vì thế thân xác tự nó chỉ là một cửa ngõ tiếp nhận các thứ giác cảm. Trong số đó, giác cảm tính dục là một trong những giác cảm thích thú nhất mà thân xác có thể mang lại cho ta. Sự kiện cảm nhận thích thú không có gì tệ hại cả, nếu như sự cảm nhận ấy không gây ra sự bám víu và thèm khát quá đáng: tức muốn được thích thú nhiều hơn nữa. Vì thế mọi thứ khó khăn xảy ra là do phản ứng của ta đối với sự thích thú, nhưng tuyệt nhiên không phải do chính sự thích thútóm lại, sự thèm khát thích thú và muốn tiếp tục được cảm nhận sự thích thú mới chính là nguyên nhân của khổ đau. Sự thèm khát và ham muốn đó làm phát sinh một loạt đủ mọi thứ dục vọng – chiếm giữ, ghen tuông, tức giận, oán hờn – chúng thay nhau hành hạ ta và khiến ta mù quáng. Đấy là các thứ dục vọng gây ra tội lỗi. Thế nhưng tội lỗi phát sinh từ đâu? Từ trong tâm thức của chính mình.

Điểm then chốt trong giáo lý Phật giáo là thân xác gánh chịu sự kiểm soát của tâm thức. Thân xác và lạc thú tính dục không giữ một vai trò chủ động nào cả. Chính sự bám víu của tâm thức là nguyên nhân làm bùng lên mọi thứ dục vọng, vốn là nguyên nhân của khổ đau. Sự thèm khát là động cơ chủ yếu tạo ra các phản ứng trong tâm thức. Dù cho chữ ham muốn (désir, desire trong ngôn ngữ Tây phương) phản ánh khá trung thực ý nghĩa của chữ Phạn “râga”, thế nhưng cũng cần hiểu đối với Phật giáo, chữ râga không hề mang sắc thái tích cực như trong ngôn ngữ phương Tây. Kinh sách định nghĩa chữ râga như sau: “Đấy là sự ham muốn bám víu, có nghĩa vừa là sự bám víu cực mạnh vào sự hiện hữu và các vật thể chiếm hữu khác, vừa là sự thèm muốn do tất cả các thứ ấy tạo ra. Tác động của nó làm phát sinh mọi thứ khổ đau”. Cách định nghĩa trên đây cho thấy tính cách cảnh giác khía cạnh tiêu cực trong ý nghĩa của sự ham muốn. Thế nhưng trong tư tưởng phương Tây, ham muốn được hiểu như một trạng thái căng thẳng thúc đẩy con người hành động; trạng thái ấy trên một khía cạnh nào đó có thể mang lại sự sáng tạo và những phẩm tính thượng thặng, chẳng hạn như sự mong muốn của trời hay của người nghệ sĩ khi sáng tạo; nhưng đồng thời ham muốn cũng có nghĩa là một động lực xô ta vào khổ đau của dục vọng. Vì thế ý nghĩa chữ ham muốn trong ngôn ngữ phương Tây không được minh bạchthí dụ như ham muốn tình yêu có thể hiểu như một sự khích lệ, dù rằng hậu quả do sự ham muốn đó mang lại lắm khi chỉ là sự tàn phá. Giáo lý Phật giáo luôn chú trọng đến phương pháp phân tích và cho rằng ham muốn bám víu chỉ là một thứ nọc độc của tâm thứctuy nhiên Phật giáo rất cẩn thận và cũng nghĩ đến một trường hợp khác là ham muốn khá t vọng, tức là một yếu tố tâm thần tương tợ với ý nghĩa ham muốn thúc đẩy của người Tây phương.

Tính dục tự nó không có gì để chê tráchchính tâm thức mới là những gì phải lên án khi nó bị lạc thú làm mù quáng và biến nó thành một mảnh đất thuận lợi giúp các thứ nọc độc tâm thần phát sinh. Tính dục là một thể dạng trao đổi giữa hai con người mang lại cơ hội thuận lợi giúp cho họ đón nhận nhau, chỉ khi nào có sự chiếm hữuthèm khát quá đáng và ham muốn thỏa mãn xen vào thì khi đó tính dục mới trở thành ích kỷ và làm phát sinh khổ đau. Đấy là thông điệp chính yếu của Phật giáo về vấn đề tính dụcPhật giáo không quan tâm đến việc nối dõi tông đường hay hôn phối vì đấy chỉ là các thể dạng trói buộc trong cuộc sống, các mối tương giao giữa con người và sự khống chế của sinh lý.

Dưới nhãn quan Phật giáohôn nhân không mang tính cách thiêng liêng, không cần đến các lễ nghi ban phép lành. Giáo lý nhà Phật chỉ đòi hỏi có sự tương kính, hy sinh cho nhau và tránh mọi hung bạo. Phật giáo không hề xem thân xác và thế giới này là những gì xấu xaĐức Phật chủ trương trung đạobác bỏ mọi hình thức khổ hạnh và hành xác, giữ đúng vị thế giữa hai thái cực, một bên là đời sống thế tục, một bên là sự khắc nghiệt của khổ hạnh, sự khắc nghiệt ấy chỉ đày đoạ thêm cho thân xác mà không mang lại một sự giải thoát nào. Ý thức được bổn phận của mình tức là cách giữ gìn đạo đức tính dụchôn nhân không phải là một sự chiếm đoạt. Đối với những người chưa thấu triệt đạo lýđời sống tính dục sẽ biến thành động cơ chính yếu thúc đẩy sự vận hành của khổ đau trong chu kỳ hiện hữu (thế giới ta-bà). Dựa trên quan điểm đó người Phật tử tại gia phải biết kính trọng mình và người khác; còn người tu hành, khi đã xa lánh cuộc sống thế tục, phải tuyệt đối tránh các hành vi tính dục. Thế nhưng Phật giáo Đại thừa có vẻ cởi mở hơn so với sự khắt khe của Phật giáo Nguyên thuỷ. Trong học phái Tantra thừa, tính dục được chuyển thành một hình thức tập luyện Du-già (Yoga) và được xem như là một phương pháp mang lại giác ngộ. Nói chung, Phật giáo giữ một thái độ phóng khoáng đối với vấn đề tính dục.

2/Con đường xa lìa thế tục

Vai trò của Phật giáo đối với vấn đề tính dục tuỳ thuộc bối cảnh và trình độ hiểu biết về đạo pháp của người Phật tửKỷ cương giới luật ghi chép trong kinh sách được xem như trực tiếp xuất phát từ những lời giáo huấn của Đức Phật, do đó, thường được áp dụng chung cho tất cả các tông phái trừ một vài ngoại lệ đối với Phật giáo Nhật Bản. Tại quốc gia này sự gìn giữ giới luật quy định cho người xuất gia không mấy khi được tôn trọng, và ngày nay một số nhà sư có gia đình, họ vừa là người xuất gia vừa là học giả. Trong Luật tạng, có một phân đoạn mang tên Pratimoksha (Lời nguyện giải thoát mang tính cá nhân) trình bày chi tiết các giới luật quy định chung cho cư sĩ, các Sa-di và các Tỳ-kheo cả nam và nữ. Phật tử tại gia có thể nguyện giữ năm giới luật, trong số này có ba giới luật liên quan đến thân xác: Không tước đoạt sự sống, không tự ý chiếm giữ những gì không phải của mình, không thực hiện những hành động tính dục thiếu hạnh kiểm. Nguyên văn giới luật thứ ba như sau “Tôi nguyện giữ giới không thực thi hành vi sai lầm về lạc thú tính dục”.

Không phải ai trong xã hội cũng bắt buộc phải tuân thủ giới luật trên đây, thế nhưng khi đã nguyện giữ giới thì phải giữ một cách nghiêm chỉnh: Hành động giữ giới mang tính cách cá nhân, một sự tự nguyện. Phật giáo không nêu lên một tác phong tính dục chính xác nào để cấm đoán, nếu có thì đấy là những hành vi sai trái mang lại khổ đau cho người khác. Tại Á châu, giới luật liên quan đến tính dục được mô tả rõ ràng hơn các nơi khác, chẳng hạn như sự răn cấm ngoại tình, dầu sao đấy cũng chỉ là cách giới hạn bớt tính cách quá rộng rãi của giới luật về tính dục vì giới luật này chỉ răn dạy sự kính trọng chính mình và người khác. Giới luật đó không hề ám chỉ sự đồng tính luyến ái, thật vậy, đồng tính luyến ái được chấp nhận khá dễ dàng tại các quốc gia Đông Nam Á.

Thế nhưng các hành động tính dục bị cấm đoán triệt để nơi chùa chiền, sự cấm đoán đó tuỳ thuộc vào hai giai đoạn tu tập: Giai đoạn Sa-di và giai đoạn Tỳ-kheo đã thụ phong. Người sa-di cả nam lẫn nữ phải tuân thủ mười giới luật, trong số này có giới luật bắt buộc phải giữ gìn sự trong trắng (đoạn dục, tức không được thực thi các hành động dâm dụctính dụcdâm ô). Người xuất gia sau khi được thụ phong sẽ chính thức được xem như người đã “từ bỏ đời sống gia đình”, được gọi là Tỳ-kheo hay Tỳkheo-ni, tức là các nam hay nữ tu sĩ, họ phải chọn một lối sống đơn giản và đạm bạc. Đó là con đường quyết tâm xa lìa thế tục; trên con đường đó, người tu hành phải loại bỏ mọi hành vi tiêu cực và chọn cho mình một thể dạng tâm thức đạo hạnh, tập trung nghị lực vào việc tu học và thực thi đạo pháp. Sự đoạn dục hoàn toàn là một trong bốn giới luật căn bản mà họ phải tuân thủ, nếu vi phạm vào đấy sẽ bị khai trừ tức khắc và vĩnh viễn khỏi tập thể Tăng đoànTuy nhiên, cũng có những giới luật kém triệt để hơn, chẳng hạn trong số này có mười ba giới cấm nghiêm trọng, nếu phạm vào đấy sẽ bị khai trừ khỏi Tăng đoàn nhưng chỉ tạm thời. Trong số mười ba giới này có sự thủ dâmcố ý phóng tinh dịch, đụng chạm thân xác hay sờ mó phụ nữ, nói những lời lẳng lơ hoặc hàm ý dâm dục, xúi dục người phụ nữ bán dâm hay đứng ra làm mối lái. Tuy nhiên, sự ô nhiễm ban đêm xảy ra lúc đang ngủ không phải là một hành động lỗi lầm.

Một người tu hành nếu có những ý tưởng thèm muốn phải tức khắc thiền định về sự kinh tởm của thân xác. Nếu không kềm chế được sự ham muốn phải xin hoãn lại các lời nguyện và hoàn tục trước khi xảy ra tình trạng không hàn gắn được, xử sự như thế sẽ không có ai chê trách. Ngược lại, nếu người tu hành không khắc phục được sự cám dỗ sẽ bị khai trừ ngay khỏi Tăng đoàn theo đúng quy định của giới luật. Đối với người nữ tu, giới luật cũng tương tợ như thế chớ không có nhiều khác biệt; tuy nhiên, trong trường hợp một người nữ tu bị hãm hiếp, nghĩa là không có sự ưng thuận của đương sự và không hề phát lộ sự thích thú, thì đấy không phải là một sự vi phạm nghiêm trọng và có thể tha thứ.

Mặc dù Phật giáo Nguyên thuỷ chủ trương sự cấm đoán khắt khe về tính dục, thế nhưng đời sống xã hội trong các quốc gia Đông Nam Á theo Phật giáo Nguyên thuỷ lại không quá khắc nghiệt nếu các tác phong tính dục không mang tính cách hung bạo và ngoại tình gây ra đau khổ cho người khác.

3/. Vị thế của Đại thừa giữa sự khắt khe và các hành vi phạm giới

Các giới luật nệu lên trong Phật giáo Nguyên thuỷ vẫn tiếp tục được các tông phái Đại thừa tôn trọng. Người xuất gia phải tuân thủ giới luật ghi chép trong Luật tạng và người Phật tử thế tục phải noi theo năm giới luật. Thế nhưng đối với vị Bồ-tát – tức một sinh linh giác ngộ hành động trong tinh thần từ bi vì lợi ích của người khác – nền đạo đức dành cho họ vượt lên trên khuôn khổ quy định cho người xuất gia sống nơi chùa chiền, và nền đạo đức đó cũng được áp dụng cho người Phật tử tại giaKỷ cương đạo đức đó liên hệ mật thiết đến động cơ thúc đẩy từ bên trong hành động hơn là được áp đặt từ bên ngoài, vì thế nó mang tính cách phóng khoáng hơn tuy rằng vẫn được quy định bởi một số quy tắc rõ rệt nào đó. Tính cách phóng khoáng của giới luật trong một số trường hợp có thể giúp vị Bồ-tát hành động hữu hiệu hơn vì lợi ích của chúng sinh. Vì thế, các quy tắc của Luật tạng cũng trở nên rộng rãi hơn đối với họ.

Tánh Không của tính dục

Nói chung thì các điều khoản liên quan đến tính dục quy định cho người xuất gia được trước tác và ghi chép trong kinh sách Đại thừa đều nhất thiết dựa vào Luật tạng của Phật giáo Nguyên thuỷ, tiếp tục tôn trọng lý tưởng cao đẹp của lối sống rời xa thế tụcTịch Thiên (Shantideva) trong Nhập Bồ-đề hành luận (Bodhicaryavatara) bài bác quyết liệt thể dạng quyến rũ trên thân xác phụ nữ, ngài so sánh thân xác phụ nữ với một cái bọc chất chứa những thứ nhơ nhớp và uế tạp (đối với một nữ tu sĩ thì thân xác của một người đàn ông cũng như thế).

Tại Trung Quốc, trong tập kinh Phạm võng (Bhramajala-sutta) có ghi chép giới luật bắt buộc vị Bồ-tát phải đoạn dục, thế nhưng nếu vi phạm thì vẫn không bị khai trừ khỏi Tăng đoàn mà chỉ cần thú nhận và hối cải thành thực. Kinh Duy-ma-cật sở thuyết (Vimalakirtidesa sutta) kể chuyện một vị Bồ-tát thế tục [không phải là người xuất gia] nêu lên hai tác phong khác nhau đối với thân xác: tránh không bám víu vào thân xác ảo giác nhưng cũng có thể sử dụng nó như một phương tiện giúp người khác nhìn thấy con đường đạo. Một đoạn kinh văn khác thuật lại một câu chuyện khá lý thú về một nữ thần thuyết cho một vị đệ tử của Đức Phật là ngài Xá-lợi-phất thế nào là tánh Không của giới tính. Tánh Không toàn diện giúp vị Bồ-tát vượt lên trên khuôn khổ giới tính của thân xác, với điều kiện vị Bồ-tát phải thực hiện được các kết quả tâm linh đích thực, không phải chỉ là những khái niệm đơn thuần, và nhất là vị Bồ-tát phải loại bỏ được mọi bám víu vào ảo giác của hiện thực.

Phật giáo truyền sang Trung Quốc vào thế kỷ thứ I thoáng cho thấy một khúc quanh mới, nhất là trong Thiền học (Chan). Thiền nhắm vào việc tu tập thực hiện bản chất không thực của dục vọng thay vào chỉ biết dựa vào các giới luật cứng ngắc. Tuy nhiên, đấy không có nghĩa là gạt bỏ Luật tạng mà chỉ muốn nêu lên sự vận hành của tâm thức quan trọng hơn sự gò bó của chữ nghĩaTruyền thuyết kể lại nhiều giai thoại về các nhà sư “điên rồ” vượt qua ranh giới của các giới luật quy định cho họ. Xin kể ra trường hợp của Tế Điên hoà thượng (Jigong, 1127-1209) được người đương thời xem là một nhà sư thích say sưa và phóng túng. Một nhà sư khác người Triều Tiên là Nguyên Hiểu (Whonhyo, 617-686) là một học giả uyên thâm, trước tác rất nhiều tập luận và bình giải kinh điển, thế nhưng ông không giữ tròn giới luật và có khi lui tới những khu vực không thích hợp, về sau ông hoàn tục cưới một công chúa và sinh được một người con trai. Cuối đời ông lang thang rày đây mai đó truyền bá Phật giáo Tịnh độ. Tại Nhật Bản, các điều khoản trong Luật tạng quy định cho người xuất gia không mấy khi được hoàn toàn tôn trọng. Vào thế kỷ thứ IX, Đại sư Tối Trừng (Saichô, 767-822), người sáng lập tông Thiên Thai, thay thế các điều khoản quy định cho người xuất gia trong Luật tạng bằng các lời nguyện của Bồ-tát. Trong Thiền học Nhật Bản (Zen), Đạo Nguyên (Dogen, thế kỷ XIII) khuyên nên đơn giản hoá mười giới luật quy định cho người xuất gia nhưng tuyệt đối phải giữ giới luật đoạn dục như một kỷ cương nơi chùa chiền. Thế nhưng điều khoản ấy không cấm được nhà sư Nhất Hưu (Ikkyu, 1394-1481) hoàn tục. Ông là một vị thiền sư rất phóng khoáng, trước tác nhiều bài thơ hài hước mang tính cách dung tục đả kích sự kiện đồng tính luyến ái trong các tu viện. Trong tông phái Tịnh độPháp Nhiên (Honen, 1133-1212) là một nhà sư chân chính nhưng đệ tử của ông là Thân Loan (Shinran, 1173-1262) lại là người có gia đình và lập ra một học phái mới là Tịnh độ Chân tông (Jodoshin), và các nhà sư trong phái này đều có gia đình. Sau cùng, dưới triều đại Minh Trị (Meiji, 1868-1912) các nhà sư bắt buộc phải chọn cuộc sống cố định, do đó, họ phải lập gia đình để có người nối dõi gìn giữ chùa chiền do dòng họ xây dựng.

4/ Tantra thừa và tính dục

Từ lâu nay đã có không biết bao nhiêu sự hiểu lầm và thành kiến đối với Tantra thừa. Trước hết là người Tây phương quá hấp tấp khi xem Tantra thừa đơn thuần như là một thứ kỹ thuật áp dụng trên đường tu tập. Thật ra thì Tantra thừa, còn gọi là Kim cương thừaxuất phát trực tiếp từ Đại thừa, là một con đường toàn vẹn mang lại thể dạng của Phật. Tantra thừa hoàn toàn không đơn giản như một thứ kỹ thuật giúp giải thoát khỏi tính dụcBiểu tượng của tính dục nêu lên trong Tantra thừa mang mục đích trình bày sự kết hợp bất khả phân giữa các cực đối nghịch trong tâm thức, trong vũ trụ và trong thực tế. Do đó, các thần linh nam tính trong Tantra thừa tượng trưng cho các phương tiện thiện xảo trên đường tu tập và các thần linh nữ mang tính cách đối nghịch tượng trưng cho trí tuệ hay là sự hiểu biết tánh Không, giữ vai trò chứng nhận kết quả do phương pháp mang lại. Trong lĩnh vực tâm linh, tính chất phân cực tính dục cho thấy nếu phương pháp (nam tính) không hướng vào một sự mở rộng (nữ tính) sẽ trở nên vô cùng nguy hiểm. Cũng tương tự như thế, các hiện tượng trong vũ trụ (phân cực nam tính) chỉ có thể triển khai được trong môi trường không gian mở rộng (phân cực nữ tính) làm nền tảng tiếp nhận hiện tượng.

Tinh khiết hoá các hiện tượng

Tâm thức mang bản chất giác ngộ tức là không gian mở rộng (thể dạng nữ tính) đón nhận và phối hợp với sự sáng tỏ (thể dạng nam tính). Các biểu tượng chủ yếu của Kim cương thừa gồm có một cây gậy kim cương [vajra] tượng trưng cho nam tính và một cái chuông nhỏ [ghanta] tượng trưng cho nữ tính hay phân cực vũ trụ. Các biểu tượng của chư Phật được trình bày bằng sự kết hợp nam tính và nữ tính, không hề hàm chứa tính cách truy hoan dù cho cố tình gán thêm cho chúng tính cách thiêng liêng.

Vậy, đối với vấn đề tính dục xác thịt thì sao?

Tại Nhật Bản, các học phái Chân Ngôn và Thiên Thai [vốn là những học phái xuất phát từ Kim Cương thừahoàn toàn loại bỏ các kinh sách Tantra mang các biểu tượng có tính cách diễn đạt cụ thể. Trong Chân Ngôn tông và Thiên Thai tông, các biểu tượng tính dục được trình bày thật kín đáo, thần linh thuộc hai phái tính được xếp bên cạnh nhau và các biểu tượng đó được sử dụng như một kỹ thuật tinh khiết hoá các tác động của hậu quả và các cảm nhận ô nhiễm về hiện thực. Thế nhưng vào thế kỷ XII cũng có một chi phái Chân Ngôn tông mang tính lệch lạc, gọi là Tachikawa-ru. Chi phái này chủ trương sử dụng thể dạng phúc hạnh của sự phối hợp tính dục trong mục đích mang lại sự giác ngộThực raLão giáo chịu ảnh hưởng nặng nề hơn hết trước các dị giáo diễn đạt lệch lạc về Tantra thừa. Nhờ vào các ảnh hưởng lệch lạc đó, Lão giáo thu hút được nhiều tín đồ và phát triển rất mạnh. Các nhà sư Phật giáo thuộc nhiều tông phái khác nhau phản đối tính cách dị giáo đó trong Lão giáo khiến Lão giáo bị cấm đoán ở Nhật vào thế kỷ XIV và các kinh sách Lão giáo bị đốt sạch.

Tại Ấn Độ và Tây Tạng, kỹ thuật tu tập Tantra mang tính cách hoàn toàn nội tâm, do đó các biểu tượng tính dục thường được trình bày lộ liễu hơn. Tuy nhiên, sự kết hợp với người phối ngẫu (mudra) chỉ có thể được xem là một phép tu tập giác ngộ khi nào hành giả đã đạt được một cấp bậc thật cao, phải có căn bản vững chắc về sự hiểu biết tánh Không, phát huy được lòng từ bi, chủ động được sự quán tưởng và các phép tụng niệm man-tra, cũng như các phương pháp luyện tập du-già về khí lực. Nếu xem cách sử dụng tính dục là một kỹ thuật loại bỏ sự bám víu vào thế tục thì hoàn toàn không hiểu gì cả về sự tu tập Tantra. Do đó, cũng không nên ngạc nhiên khi thấy tính dục được sử dụng như một phương tiện biến cải: Tantra thừa là con đường chủ trương sự tu tập dựa trên sự biến cải giúp người tu tập biến cải các thứ nọc độc của tâm thành trí tuệ nhờ vào các phương pháp cực mạnh của dugià. Trong khi tính dục tầm thường của thế tục biểu hiện sự thèm khát bám víu và lạc thú thì Tantra biến thể dạng ấy trở thành thiêng liêng và xem đó là cơ hội giúp cảm nhận thể dạng phúc hạnh, xoá bỏ hoàn toàn thể dạng tâm thức thô thiển để thay vào đó thể dạng tinh khiết của ánh sáng trong suốt. Thông thường, ánh sáng trong suốt chỉ thể hiện khi chết, nhưng việc chủ động được sự phối hợp tính dục sẽ tạo ra một thể dạng tương tợ như thể dạng tâm thức khi rời bỏ thân xác.

Nhờ vào du-già, cái chết ngắn ngủi và u tối của khoái lạc sẽ nhường chỗ cho các tia sáng rạng đông của ánh sáng trong suốt; khi thực hiện được thể dạng đó, hành giả du-già và người phối ngẫu đạt được sự tỉnh thức phát sinh trong lúc chết. Đây là một trong nhiều thí dụ nêu lên xung năng dục tính (eros) đi đôi với xung năng của cái chết (Thanatos).

Nguyên tác: Le bouddhisme, le sexe et le désir, Philippe Cornu. Nguồn: https://www.lepoint.fr/religion/le-bouddhismele-sexe-et-le-desir-04-07-2016-2051818_3958.php  Văn Hóa Phật Giáo số 337 +338 ngày 15-1-2020

Xem nguyên văn bản dịch gốc của Dịch giả Hoang Phong (Pháp Quốc):
Phật Giáo Và Vấn Đề Tính Dục (Hoang Phong dịch từ nguyên bản Pháp ngữ)

Tạo bài viết

11/12/2017(Xem: 26790)

11/11/2010(Xem: 175806)

01/04/2012(Xem: 21743)

08/11/2018(Xem: 3676)

02/09/2016(Xem: 7088)

08/02/2015(Xem: 31737)

22/05/2017(Xem: 15136)

20/12/2010(Xem: 192100)

01/02/2016(Xem: 14227)

25/07/2011(Xem: 103304)

25/07/2011(Xem: 100382)

10/10/2010(Xem: 97909)

10/10/2010(Xem: 101309)

10/08/2010(Xem: 104986)

08/08/2010(Xem: 110118)

21/03/2015(Xem: 13468)

27/10/2012(Xem: 58533)

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Tây Du Ký: Thầy trò Đường Tăng thỉnh kinh là đại biểu cho sự tu hành của một người

Tây Du Ký: Thầy trò Đường Tăng thỉnh kinh là đại biểu cho sự tu hành của một người

Tranh vẽ Tây Du Ký (ảnh: Wikipedia).
Đọc kỹ Tây Du Ký, chúng ta  sẽ phát hiện quá trình thầy trò Đường Tăng đi thỉnh kinh, kỳ thực chỉ là sự miêu tả quá trình tu luyện của một người, trong đó 81 nạn trên đường thỉnh kinh cũng như yêu quái gặp phải, tất cả đều là những ma nạn mà một người tu luyện cần phải đối diện. Ở đây có thể thấy rõ một điều: Ngộ được chính đạo là điều không dễ dàng… 

Tu luyện chân chính là hình thức tu luyện thể hiện trong cuộc sống xã hội thường ngày. Với một người bình thường thì những ý niệm vui buồn oán giận trong cuộc sống chỉ là những điều nhỏ bé, nhưng đối với người tu luyện thì ngược lại, tất cả đều là những vấn đề cực kỳ quan trọng, là mấu chốt quyết định thành bại của người chân tu.

Người tu luyện chính là thông qua sự tiếp xúc với mọi người, với xã hội mà “ma luyện” chính mình, mà đề cao tâm tính. Trong đó huyền cơ thì lại chỉ có người tu luyện chân chính mới thấu tỏ, vậy nên trong bài này người viết sẽ không lấy việc thỉnh kinh để so sánh, nó sẽ khiến người thế nhân khó mà tiếp thụ. Ở đây chúng tôi chỉ mượn hình ảnh thầy trò Đường Tăng để liễu giải ẩn ý thâm sâu của người tu luyện giữa đời thường.

Vì sao lại nói năm thầy trò Đường Tăng đi thỉnh kinh kỳ thực lại là biểu hiện cho quá trình tu hành của một người?

Đường Tăng đại biểu chính niệm của một người tu luyện

Mặc dù trên đường đi thỉnh kinh, ma nạn trùng trùng, nguy hiểm vô số nhưng mỗi lần đối diện với quan nạn, Đường Tăng luôn thể hiện một lòng chính niệm, kiên định cầu được chân kinh, từ đầu đến cuối không hề mê lạc. Đây chính là đại biểu cho sự tín Sư tín Pháp của người tu luyện. Quá trình tu luyện cũng có thể nói là quá trình không ngừng kiên định, thành tín với Phật pháp, với Chân kinh. Cũng chính là để xem trong khi đối diện với khảo nghiệm, với muôn vàn thật giả lẫn lộn, với sự cám dỗ mê hoặc của thế tục muôn màu có thể một lòng kiên định không thay đổi hay không?

Có người tự nhận rằng mình rất tin vào Thần Phật, nhưng khi gặp phải nguy nan họ lại thường kêu lên “Mẹ ơi”. Thay vì nhớ đến Phật, họ sớm đã quên rằng mình là người tín Phật ắt sẽ được Phật bảo hộ chở che. Đây chính là sự thể hiện lòng thành, đức tin của bản thân đã thực sự tín Phật hay chưa? Khi gặp thời khắc mấu chốt, lúc khảo nghiệm lòng thành của họ thì họ lại quên đi mất Phật ở trên cao, họ chỉ nhớ tới mẹ mình.

Lại có người nói mình tinh tấn thực tu nhưng ngược lại lúc nào cũng bận bịu lo toan cho cuộc sống cá nhân, mong sao cuộc sống được tốt hơn, mong sao gặp được bạn đời như ý, thay vì tinh tấn dụng tâm tu luyện họ lại bận tâm tới rất nhiều thứ khác. Cứ như vậy họ luôn phân vân đứng giữa hai con đường: tu luyện và đời thường, mãi không thể từ nội tâm mà buông bỏ những vui buồn thế tục.

Lại cũng có người hiểu rõ sự thần thông quảng đại của Thần Phật, tu luyện chính là không nên sợ hãi mà cần phải chính niệm chính hành, nhưng họ lại sợ cái này sợ cái kia làm cho tự mình trói buộc chân tay không thể bước đi tinh tấn trên con đường thực tu, cứu độ chính mình.

Ảnh chụp màn hình báo Thanh Niên.

Tôn Ngộ Không đại biểu cho siêu năng lực của người tu luyện

Một người chân chính tu luyện, từ khi bước trên con đường tu luyện, thì đã xuất ra rất nhiều công năng, chỉ có điều trong giai đoạn đầu, những công năng này chỉ có tác dụng ước chế tại không gian này mà thôi. Sau này cảnh giới tu luyện cao lên thì những công năng này lại được thay thế bằng Phật Pháp thần thông. Mà Phật Pháp thần thông lại có thể ước chế  các không gian lớn nhỏ trong vũ trụ, uy lực vô tỉ không gì sánh được.

Một người bước trên con đường tu luyện chính là bước lên con đường siêu thường, đương nhiên sẽ có những năng lực vượt khỏi người bình thường. Công năng và thần thông của họ chính là sự biểu hiện cho thành tựu tu luyện của mình, là khả năng tự bảo hộ bản thân. Vậy nên người tu luyện trong quá trình tu luyện cần phải học cách vận dụng thần thông, pháp lực của mình. Họ cũng cần phải dũng cảm đối diện với tất cả vấn đề như Tôn Ngộ Không, lên trời xuống biển, thiên đàng địa ngục đều đi qua. Họ có thể vận dụng thần thông, pháp lực của mình để giải quyết những ma nạn tự thân gặp phải trong quá trình tu luyện. Trong quá trình vận dụng công năng của mình thì họ ngày càng biến thành cường mạnh, uy lực vô tỉ.

Trư Ngộ Năng đại biểu cho phần thế tục của người tu luyện

Người tu luyện bất luận là có dũng mãnh tinh tấn thế nào thì vẫn là người đang tu, là người thì ắt có nhân tâm, điều thể hiện ra bên ngoài thường là những tâm chấp mê của người đời.

Ví như tại hồi thứ 79:

“Tìm hang bắt quái gặp Thọ Tinh; Giữa điện dạy vua mừng nhận trẻ”, nguyên tác kể rằng:

Quốc vương cười nói:

– Trẫm mắc bệnh đã lâu mà chẳng khỏi. May nhờ quốc trượng ban cho một bài thuốc, các vị đã đủ cả, chỉ còn thiếu một vị thuốc dẫn mà thôi. Nay mời trưởng lão vào, xin ngài vị thuốc dẫn ấy. Nếu bệnh trẫm khỏi, trẫm sẽ lập miếu thờ trưởng lão, bốn mùa cúng tế, mãi mãi là hương hỏa truyền quốc của trẫm.

Đường Tăng giả nói:

– Tôi là người xuất gia, trần trụi vác thân người tới đây, không biết quốc trượng cần vị thuốc dẫn nào? Bệ hạ hỏi xem.

Hôn quân nói:

– Muốn cần đến bộ tim gan của trưởng lão.

Đường Tăng giả nói:

– Chẳng giấu gì bệ hạ, tim tôi có mấy loại, không biết bệ hạ cần loại màu gì?

– Hòa thượng kia, ta cần tới quả tim đen của nhà ngươi.

Đường Tăng giả nói:

– Đã như vậy, mau mang dao lại đây mổ bụng tôi ra, nếu có tim đen, xin tuân lệnh dâng lên.

Hôn quân mừng quá cảm ơn rối rít, sai ngay quan Đương giá mang tới mọt con dao tai trâu ngắn, đưa cho Đường Tăng giả.

Đường Tăng giả cầm dao trong tay, cởi luôn quần áo, ưỡn ngực tay trái xoa bụng, tay phải cầm dao xoẹt một tiếng, rạch đứt đôi da bụng, rồi từ ổ bụng một đống tim tuồn tuột chảy ra, làm cho quan văn tái mặt, tướng võ hoảng hồn. Quốc trượng đứng trong điện thấy vậy nói:

– Hòa thượng này sao lắm tim thế!

Đường Tăng giả cầm số tim máu chảy ròng ròng, bới từng quả cho các quan xem, thấy toàn là những quả tim đỏ, tim trắng, tim vàng, tim tham lam, tim danh lợi, tim đố kỵ, tim mưu mẹo, tim hiếu thắng, tim hãnh tiến, tim khinh mạn, tim sát hại, tim độc ác, tim sợ sệt, tim tà vọng, tim vô danh, tim mờ ám… toàn là các loại tim xấu xa, chẳng thấy có một quả tim đen nào. Hôn quân sợ quá như dại như ngây, chẳng nói nên lời, run rẩy lắp bắp nói:

– Hãy cất đi! Hãy cất đi!

Ảnh chụp màn hình từ Youtube.

Kỳ thực những tim này đều là tâm người thường, đều là những tâm người tu luyện cần bỏ, chỉ khi nào trừ sạch những tâm này mới có thể công thành viên mãn. Đương nhiên người thường vẫn là người thường, người thường là dựa vào lý tưởng, vào truy cầu mà sống. Có người truy cầu cả đời vẫn không được thứ gì, có người trong mệnh đã có, vốn dĩ không cần nỗ lực cũng có được những điều mình muốn nhưng họ lại tự làm khó chính mình, tranh tranh đấu đấu cả đời cơ cực. Người thường chính là vậy, người tu luyện thì lại cần nhảy ra ngoài cái lý của người thường, cần phải dựa theo chân lý của Phật pháp mà chỉ đạo bản thân.

Sa Ngộ Tĩnh đại biểu cho phía chính thường của người tu luyện

Xuyên suốt Tây Du, chúng ta luôn thấy một hình ảnh Sa Tăng cần cù chịu khó, vất vả không nản, khó khăn không lùi, điềm đạm, chân thành, trung thực, không bao giờ bị cám dỗ bởi những điều trần tục nơi nhân thế. Bởi vậy mới nói Sa Ngộ Tĩnh chính là đại biểu cho phía chính thường của người tu luyện: Người tu luyện chính là bảo trì tâm thái thanh tỉnh, không có vọng niệm ham muốn những điều thế tục, một lòng lấy Pháp làm thầy, không ngừng tinh tấn tu luyện, trước sau như một. Có như vậy thì khi đối diện với ma nạn khảo nghiệm mới thể hiện được sự thanh tỉnh của người chân tu.

 Bạch Long Mã đại biểu cho sự nhẫn nại và dũng mãnh của người tu luyện

Bạch Long Mã mang vác hành lý và cõng Đường Tăng đi Tây Thiên thỉnh kinh, có thể nói đó là công lao không hề nhỏ. Người tu hành cần có tinh thần này: một mực tiến về phía trước bất luận khó khăn ra sao cũng vượt qua, trèo đèo lội suối, lên thác xuống ghềnh đều không quay đầu chùn bước. Chuyện qua đi đã là dĩ vãng, bất luận làm tốt hay không, việc buồn hay vui đều không bận tâm đến nữa, chỉ chuyên tâm một lòng đối đãi với những việc trước mắt. Người tu hành chính là bước trên con đường xả bỏ, không còn vấn vương chuyện cũ đã qua. Nguyên nhân bởi người chân tu hiểu rằng nhanh chóng tu luyện đến viên mãn mới là đích cuối của người tu.

Giống như Đường Tăng, vạn khó không từ, một lòng thành tâm hướng Phật.

Giống như Ngộ Không, rèn giũa và vận dụng thần thông, pháp lực của bản thân để đối kháng yêu ma can nhiễu.

Giống như Bát giới, cần luôn giới bỏ những tâm người thường.

Giống như Sa Tăng, thanh tỉnh thực tu.

Giống như Bạch Long Mã, tinh thần dũng mãnh luôn luôn kiên nhẫn tiến về phía trước.

Đây chính là đại biểu cho một người tu luyện chân chính giữa đời thường vậy.

Quả đúng là:

Tu luyện như chống thuyền vượt thác
Đừng buông lơi, sóng sẽ cuốn thụt lùi
Nào tinh tấn phăng chèo vươn tới trước
Nơi cuối nguồn Thệ ước, Cố hương mong…

(Vô danh cư sỹ).

Vũ Minh
Theo Zhengjian

Video: Thần Phật bảo hộ cho ‘người tín Thần Phật’ như thế nào?

Play Video

Tranh vẽ Tây Du Ký (ảnh: Wikipedia).
Đọc kỹ Tây Du Ký, chúng ta  sẽ phát hiện quá trình thầy trò Đường Tăng đi thỉnh kinh, kỳ thực chỉ là sự miêu tả quá trình tu luyện của một người, trong đó 81 nạn trên đường thỉnh kinh cũng như yêu quái gặp phải, tất cả đều là những ma nạn mà một người tu luyện cần phải đối diện. Ở đây có thể thấy rõ một điều: Ngộ được chính đạo là điều không dễ dàng… 

Tu luyện chân chính là hình thức tu luyện thể hiện trong cuộc sống xã hội thường ngày. Với một người bình thường thì những ý niệm vui buồn oán giận trong cuộc sống chỉ là những điều nhỏ bé, nhưng đối với người tu luyện thì ngược lại, tất cả đều là những vấn đề cực kỳ quan trọng, là mấu chốt quyết định thành bại của người chân tu.

Người tu luyện chính là thông qua sự tiếp xúc với mọi người, với xã hội mà “ma luyện” chính mình, mà đề cao tâm tính. Trong đó huyền cơ thì lại chỉ có người tu luyện chân chính mới thấu tỏ, vậy nên trong bài này người viết sẽ không lấy việc thỉnh kinh để so sánh, nó sẽ khiến người thế nhân khó mà tiếp thụ. Ở đây chúng tôi chỉ mượn hình ảnh thầy trò Đường Tăng để liễu giải ẩn ý thâm sâu của người tu luyện giữa đời thường.

Vì sao lại nói năm thầy trò Đường Tăng đi thỉnh kinh kỳ thực lại là biểu hiện cho quá trình tu hành của một người?

Đường Tăng đại biểu chính niệm của một người tu luyện

Mặc dù trên đường đi thỉnh kinh, ma nạn trùng trùng, nguy hiểm vô số nhưng mỗi lần đối diện với quan nạn, Đường Tăng luôn thể hiện một lòng chính niệm, kiên định cầu được chân kinh, từ đầu đến cuối không hề mê lạc. Đây chính là đại biểu cho sự tín Sư tín Pháp của người tu luyện. Quá trình tu luyện cũng có thể nói là quá trình không ngừng kiên định, thành tín với Phật pháp, với Chân kinh. Cũng chính là để xem trong khi đối diện với khảo nghiệm, với muôn vàn thật giả lẫn lộn, với sự cám dỗ mê hoặc của thế tục muôn màu có thể một lòng kiên định không thay đổi hay không?

Có người tự nhận rằng mình rất tin vào Thần Phật, nhưng khi gặp phải nguy nan họ lại thường kêu lên “Mẹ ơi”. Thay vì nhớ đến Phật, họ sớm đã quên rằng mình là người tín Phật ắt sẽ được Phật bảo hộ chở che. Đây chính là sự thể hiện lòng thành, đức tin của bản thân đã thực sự tín Phật hay chưa? Khi gặp thời khắc mấu chốt, lúc khảo nghiệm lòng thành của họ thì họ lại quên đi mất Phật ở trên cao, họ chỉ nhớ tới mẹ mình.

Lại có người nói mình tinh tấn thực tu nhưng ngược lại lúc nào cũng bận bịu lo toan cho cuộc sống cá nhân, mong sao cuộc sống được tốt hơn, mong sao gặp được bạn đời như ý, thay vì tinh tấn dụng tâm tu luyện họ lại bận tâm tới rất nhiều thứ khác. Cứ như vậy họ luôn phân vân đứng giữa hai con đường: tu luyện và đời thường, mãi không thể từ nội tâm mà buông bỏ những vui buồn thế tục.

Lại cũng có người hiểu rõ sự thần thông quảng đại của Thần Phật, tu luyện chính là không nên sợ hãi mà cần phải chính niệm chính hành, nhưng họ lại sợ cái này sợ cái kia làm cho tự mình trói buộc chân tay không thể bước đi tinh tấn trên con đường thực tu, cứu độ chính mình.

Ảnh chụp màn hình báo Thanh Niên.

Tôn Ngộ Không đại biểu cho siêu năng lực của người tu luyện

Một người chân chính tu luyện, từ khi bước trên con đường tu luyện, thì đã xuất ra rất nhiều công năng, chỉ có điều trong giai đoạn đầu, những công năng này chỉ có tác dụng ước chế tại không gian này mà thôi. Sau này cảnh giới tu luyện cao lên thì những công năng này lại được thay thế bằng Phật Pháp thần thông. Mà Phật Pháp thần thông lại có thể ước chế  các không gian lớn nhỏ trong vũ trụ, uy lực vô tỉ không gì sánh được.

Một người bước trên con đường tu luyện chính là bước lên con đường siêu thường, đương nhiên sẽ có những năng lực vượt khỏi người bình thường. Công năng và thần thông của họ chính là sự biểu hiện cho thành tựu tu luyện của mình, là khả năng tự bảo hộ bản thân. Vậy nên người tu luyện trong quá trình tu luyện cần phải học cách vận dụng thần thông, pháp lực của mình. Họ cũng cần phải dũng cảm đối diện với tất cả vấn đề như Tôn Ngộ Không, lên trời xuống biển, thiên đàng địa ngục đều đi qua. Họ có thể vận dụng thần thông, pháp lực của mình để giải quyết những ma nạn tự thân gặp phải trong quá trình tu luyện. Trong quá trình vận dụng công năng của mình thì họ ngày càng biến thành cường mạnh, uy lực vô tỉ.

Trư Ngộ Năng đại biểu cho phần thế tục của người tu luyện

Người tu luyện bất luận là có dũng mãnh tinh tấn thế nào thì vẫn là người đang tu, là người thì ắt có nhân tâm, điều thể hiện ra bên ngoài thường là những tâm chấp mê của người đời.

Ví như tại hồi thứ 79:

“Tìm hang bắt quái gặp Thọ Tinh; Giữa điện dạy vua mừng nhận trẻ”, nguyên tác kể rằng:

Quốc vương cười nói:

– Trẫm mắc bệnh đã lâu mà chẳng khỏi. May nhờ quốc trượng ban cho một bài thuốc, các vị đã đủ cả, chỉ còn thiếu một vị thuốc dẫn mà thôi. Nay mời trưởng lão vào, xin ngài vị thuốc dẫn ấy. Nếu bệnh trẫm khỏi, trẫm sẽ lập miếu thờ trưởng lão, bốn mùa cúng tế, mãi mãi là hương hỏa truyền quốc của trẫm.

Đường Tăng giả nói:

– Tôi là người xuất gia, trần trụi vác thân người tới đây, không biết quốc trượng cần vị thuốc dẫn nào? Bệ hạ hỏi xem.

Hôn quân nói:

– Muốn cần đến bộ tim gan của trưởng lão.

Đường Tăng giả nói:

– Chẳng giấu gì bệ hạ, tim tôi có mấy loại, không biết bệ hạ cần loại màu gì?

– Hòa thượng kia, ta cần tới quả tim đen của nhà ngươi.

Đường Tăng giả nói:

– Đã như vậy, mau mang dao lại đây mổ bụng tôi ra, nếu có tim đen, xin tuân lệnh dâng lên.

Hôn quân mừng quá cảm ơn rối rít, sai ngay quan Đương giá mang tới mọt con dao tai trâu ngắn, đưa cho Đường Tăng giả.

Đường Tăng giả cầm dao trong tay, cởi luôn quần áo, ưỡn ngực tay trái xoa bụng, tay phải cầm dao xoẹt một tiếng, rạch đứt đôi da bụng, rồi từ ổ bụng một đống tim tuồn tuột chảy ra, làm cho quan văn tái mặt, tướng võ hoảng hồn. Quốc trượng đứng trong điện thấy vậy nói:

– Hòa thượng này sao lắm tim thế!

Đường Tăng giả cầm số tim máu chảy ròng ròng, bới từng quả cho các quan xem, thấy toàn là những quả tim đỏ, tim trắng, tim vàng, tim tham lam, tim danh lợi, tim đố kỵ, tim mưu mẹo, tim hiếu thắng, tim hãnh tiến, tim khinh mạn, tim sát hại, tim độc ác, tim sợ sệt, tim tà vọng, tim vô danh, tim mờ ám… toàn là các loại tim xấu xa, chẳng thấy có một quả tim đen nào. Hôn quân sợ quá như dại như ngây, chẳng nói nên lời, run rẩy lắp bắp nói:

– Hãy cất đi! Hãy cất đi!

Ảnh chụp màn hình từ Youtube.

Kỳ thực những tim này đều là tâm người thường, đều là những tâm người tu luyện cần bỏ, chỉ khi nào trừ sạch những tâm này mới có thể công thành viên mãn. Đương nhiên người thường vẫn là người thường, người thường là dựa vào lý tưởng, vào truy cầu mà sống. Có người truy cầu cả đời vẫn không được thứ gì, có người trong mệnh đã có, vốn dĩ không cần nỗ lực cũng có được những điều mình muốn nhưng họ lại tự làm khó chính mình, tranh tranh đấu đấu cả đời cơ cực. Người thường chính là vậy, người tu luyện thì lại cần nhảy ra ngoài cái lý của người thường, cần phải dựa theo chân lý của Phật pháp mà chỉ đạo bản thân.

Sa Ngộ Tĩnh đại biểu cho phía chính thường của người tu luyện

Xuyên suốt Tây Du, chúng ta luôn thấy một hình ảnh Sa Tăng cần cù chịu khó, vất vả không nản, khó khăn không lùi, điềm đạm, chân thành, trung thực, không bao giờ bị cám dỗ bởi những điều trần tục nơi nhân thế. Bởi vậy mới nói Sa Ngộ Tĩnh chính là đại biểu cho phía chính thường của người tu luyện: Người tu luyện chính là bảo trì tâm thái thanh tỉnh, không có vọng niệm ham muốn những điều thế tục, một lòng lấy Pháp làm thầy, không ngừng tinh tấn tu luyện, trước sau như một. Có như vậy thì khi đối diện với ma nạn khảo nghiệm mới thể hiện được sự thanh tỉnh của người chân tu.

 Bạch Long Mã đại biểu cho sự nhẫn nại và dũng mãnh của người tu luyện

Bạch Long Mã mang vác hành lý và cõng Đường Tăng đi Tây Thiên thỉnh kinh, có thể nói đó là công lao không hề nhỏ. Người tu hành cần có tinh thần này: một mực tiến về phía trước bất luận khó khăn ra sao cũng vượt qua, trèo đèo lội suối, lên thác xuống ghềnh đều không quay đầu chùn bước. Chuyện qua đi đã là dĩ vãng, bất luận làm tốt hay không, việc buồn hay vui đều không bận tâm đến nữa, chỉ chuyên tâm một lòng đối đãi với những việc trước mắt. Người tu hành chính là bước trên con đường xả bỏ, không còn vấn vương chuyện cũ đã qua. Nguyên nhân bởi người chân tu hiểu rằng nhanh chóng tu luyện đến viên mãn mới là đích cuối của người tu.

Giống như Đường Tăng, vạn khó không từ, một lòng thành tâm hướng Phật.

Giống như Ngộ Không, rèn giũa và vận dụng thần thông, pháp lực của bản thân để đối kháng yêu ma can nhiễu.

Giống như Bát giới, cần luôn giới bỏ những tâm người thường.

Giống như Sa Tăng, thanh tỉnh thực tu.

Giống như Bạch Long Mã, tinh thần dũng mãnh luôn luôn kiên nhẫn tiến về phía trước.

Đây chính là đại biểu cho một người tu luyện chân chính giữa đời thường vậy.

Quả đúng là:

Tu luyện như chống thuyền vượt thác
Đừng buông lơi, sóng sẽ cuốn thụt lùi
Nào tinh tấn phăng chèo vươn tới trước
Nơi cuối nguồn Thệ ước, Cố hương mong…

(Vô danh cư sỹ).

Vũ Minh
Theo Zhengjian

Video: Thần Phật bảo hộ cho ‘người tín Thần Phật’ như thế nào?

Play Video

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Lịch Sử Việt Nam Thời Tự Chủ (Phần 17)

Lịch Sử Việt Nam Thời Tự Chủ (Phần 17)

Hồ Bạch Thảo

27-12-2019

Tiếp theo phần 1 — phần 2 — phần 3 — phần 4 — phần 5 — phần 6 —  phần 7 —  phần 8 —  phần 9 —  phần 10 —  phần 11 — phần 12 — phần 13 — phần 14 — phần 15 —  phần 16

17. Vua Lý Thánh Tông [1054-1072]: Ngoại giao, nội trị

Niên Hiệu: Long Thụy Thái Bình: 1054-1058; Chương Thánh Gia Khánh: 1059-1065; Long Chương Thiên Tự: 1066-1067; Thiên Huống Bảo Tượng: 1068; Thần Vũ: 1069-1071

Việc giao thiệp với Trung Quốc đã trình bày ở chương trên, riêng chương này đề cập đến các lân bang về phía tây và nam. Về phía nam, nước Chân Lạp sát nách với Chiêm Thành cho người đến cống:

Mùa xuân, tháng giêng, Lý Thánh Tông Long Thụy Thái Bình năm thứ 3 [1056]. nước Chân Lạp sang cống”. Toàn Thư (1), Bản Kỷ, quyển 3.

Tại miền đông nam xa xôi, có lái buôn Trảo Oa [Java thuộc nước Indonesia], ghé đến dâng ngọc:

Lý Thánh Tông, năm Long Chương Thiên Tự thứ nhất [1066]; lái buôn người nước Trảo Oa dâng ngọc châu dạ quang, trả tiền giá 1 vạn quan”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Về phía tây, các nước Ai Lao, Ngưu Hống (2) đều mang vàng bạc và các vật quí đến cống: “Ngày Đinh Mùi, Lý Thánh Tông Long Chương Thiên Tự năm thứ 2 [1067]. Mùa xuân, tháng 2, các nước Ngưu Hống, Ai Lao dâng vàng bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi và các thứ sản vật địa phương. Lễ cống gồm có vàng, bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Riêng nước Chiêm Thành không chịu thần phục; tuy vào năm 1068 mang voi trắng đến cống, nhưng chẳng bao lâu lại mang quân đến cướp phá nơi biên giới: “Lý Thánh Tông năm Thiên Huống Bảo Tượng thứ nhất [1068]. Chiêm Thành dâng voi trắng, sau lại quấy nhiễu biên giới”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Năm sau Vua thân chinh đi đánh Chiêm Thành, nhưng đánh mãi không được bèn mang quân trở về. Đến nửa đường, được tin Nguyên Phi coi việc nước yên ổn, nhà Vua nhận thấy một người đàn bà còn làm được như vậy; với tấm lòng phục thiện hướng theo điều phải, bèn quay trở lại quyết đánh cho kỳ được; bắt sống Vua Chiêm, mở rộng lãnh thổ đến tận tỉnh Quảng Trị:

Ngày Kỷ Dậu, Lý Thánh Tông năm Thiên Huống Bảo Tượng thứ 2 [1069], Mùa xuân tháng 2, Vua thân đi đánh Chiêm Thành, bắt được Vua nước ấy là Chế Củ và dân chúng 5 vạn người. Trận này Vua đánh Chiêm Thành mãi không được, đem quân về đến châu Cư Liên, nghe tin Nguyên phi giúp việc nội trị, lòng dân cảm hoá hoà hợp. Trong cõi vững vàng, tôn sùng Phật giáo, dân gọi là bà Quan Âm, vua nói:

‘Nguyên Phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc gì hay sao?’

 Bèn quay lại đánh nữa, thắng được.

Mùa hạ, tháng 6 đem quân về. Mùa thu, tháng 7, vua từ Chiêm thành về đến nơi, dâng tù ở Thái Miếu, đổi niên hiệu là Thần Vũ năm thứ 1. Chế Củ xin dâng ba châu Địa Lý [Quảng Bình] (3), Ma Linh [Quảng Trị] (4), Bố Chính [Quảng Bình] (5) để chuộc tội. Vua bằng lòng, tha cho Chế Củ về nước”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Sau trận này Chiêm Thành thần phục, lại sai Sứ sang cống như cũ:

Lý Thánh Tông, Thần Vũ năm thứ 3 [1071] Chiêm Thành sang cống”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Lý Thánh Tông thành công trong việc phạt Tống bình Chiêm là nhờ tổ chức quân đội có qui củ, tỏ ra hữu hiệu:

Lý Thánh Tông năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 1 [1059]. Định hiệu quân, gọi là Ngự Long, Vũ Thắng, Long Dực, Thần Điện, Bổng Thánh, Bảo Thắng, Hùng Lược, Vạn Tiệp đều chia làm tả hữu, thích vào trán ba chữ “Thiên tử quân“. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Lại dựa vào chính sách “Ngụ binh ư nông”, quân lính được cấp ruộng, thời bình làm nông, thời chiến đăng lính; nhờ vậy nhà nước ít tốn kém:

Chế độ binh lính của nhà Lý đại lược theo quân Phủ vệ của nhà Đường, quân Cấm sương của nhà Tống, mỗi tháng lên cơ ngũ một lần, gọi là đi canh, hết hạn canh lại về quê làm ruộng, quan không phải cấp lương, duy có người trưởng cấm quân theo hầu chực tức vệ, được cấp cho 10 bó lúa, 1 tấm vải, cho ăn gọi là đại hòa, cấp cho lúa mạch gọi là chiêm mễ. Không có phí tổn nuôi lính, mà có công hiệu dùng sức lính, cũng là chế độ hay”. Việt Sử Tiêu Án, Ngô Thời Sĩ, trang mạng 51

Sách Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quí Đôn kê cứu tư liệu đời Tống, cho biết quân sự gia Thái Diên Khánh từng dâng binh pháp triều Lý nước Đại Việt cho vua Tống Thần Tông tham khảo, được Vua Tống khen và đem áp dụng:

“Lý Thánh Tông năm Chương thánh gia khánh thứ 1 (1059) Sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn có trích dẫn truyện Thái Diên Khánh nhà Tống: “Diên Khánh từng phỏng theo phép hành quân của An Nam: bộ đội chia ra chín tướng, gồm có các binh chủng như chính binh (6), tay cung tên (7), đoàn người ngựa (8). Mỗi tướng, từ quân bộ đến quân kỵ và khí giới, đều như nhau. Lại chia ra bốn bộ là Tả, Hữu, Tiền, Hậu, gộp lại là 100 đội. Mỗi đội đều có quân trú chiến (9) và quân thác chiến (10). Còn người và ngựa của quân Phiên thì chia riêng làm đội khác, không cho lẫn lộn với quân khác để phòng sự biến loạn, gần đâu thì cho họ lệ thuộc vào đó. Hạng quân già yếu thì cho đóng ở thành trại. Diên Khánh đem binh pháp ấy trình bày tường tận trong bức thư dâng lên vua Tống. Tống Thần Tông (1068-1085) khen là hay”. Binh pháp triều Lý được Trung Quốc phỏng theo là thế đấy. Nhà Lý, phía bắc, phá được châu Ung, châu Liêm, phía nam, bình được Chiêm Thành, Chân Lạp, đánh đâu được đấy, thật là có cớ thế chứ!” Cương Mục, Chính Biên, quyển 3.

Với chính sách an dân, nhà Vua chăm lo cho dân no ấm, khuyến khích việc nông tang, thường ban chiếu nhắc nhở việc canh nông:

Lý Thánh Tông năm Long Thụy Thái Bình thứ 3 [1056]. Mùa hạ, tháng 4, xuống chiếu khuyến nông”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Bấy giờ lương bổng các quan, ngoài việc phát tiền, còn thưởng thêm nhu yếu phẩm lúa, cá, muối:

Lý Thánh Tông năm Long Chương Thiên Tự thứ 2 [1067], cho Viên ngoại lang là Ngụy Trọng Hoà và Đặng Thế Tư làm Đô hộ phủ sĩ sư (11), đổi mười người thư gia (12) làm án ngục lại (13). Cho Trọng Hoà và Thế Tư mỗi người bổng hàng năm là 50 quan tiền, 100 bó lúa và các thứ cá muối v.v… ngục lại mỗi người 20 quan tiền, 100 bó lúa để nuôi đức liêm khiết của họ”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Triều đình lập kho lúa tại các địa phương; gặp năm hạn hán thiên tai, cấp phát cho dân:

Lý Thánh Tông năm Thần Vũ thứ 2 [1070]. Mùa xuân, làm điện Tử Thần. Mùa hạ, tháng 4 đại hạn, phát thóc, và tiền lụa trong kho để chẩn cấp cho dân nghèo”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Về lãnh vực nhân văn, thời Vua Thánh Tông lưu ý đến ca nhạc, du nhập thêm nhạc khúc Chiêm Thành, sai nhạc công ca hát, giúp cho nền âm nhạc nước nhà phong phú hơn:

“Lý Thánh Tông năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 2 [1060]. Tháng 8, phiên dịch nhạc khúc và điệu đánh trống của Chiêm Thành, sai nhạc công ca hát”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Buổi đầu nhà Lý dời đô từ Trường Yên đến Thăng Long là chốn ngàn năm văn vật; cho mở mang cung điện, đặt thêm quan chức trong triều và các địa phương, áo mũ y phục, đến nay lễ nghi đã đi vào nền nếp:

Lý Thánh Tông năm Chương thánh gia khánh thứ 1 (1059) tháng 8, mùa thu. Đặt ra kiểu mẫu triều phục. Nhà vua ngự ở điện Thủy Tinh, sai các quan đội mũ phốc đầu (14) đi giày và bí tất vào chầu. Tục đội mũ phốc đầu là trước từ đấy.

Sách Giao Chỉ di biên (không rõ họ tên người làm sách) chép: An Nam lúc mới dựng nước, mọi việc hãy còn đơn giản sơ sài; đến nhà Lý mới làm ra cung thất. Cung điện thì có điện Thủy Tinh, điện Thiên Quang. Quan trong và quan ngoài thì có những chức như phụ quốc thái uý, gián nghị đại phu, tả hữu ti lang trung, viên ngoại lang, xu mật sứ, kim ngô, lĩnh binh sứ. Lễ nhạc văn vật xem ra cũng đã đầy đủ”. Cương Mục, Chính Biên, quyển 3.

Lúc nhà Vua tuổi 40 vẫn chưa có con trai, một hôm đi kinh lý vùng Bắc Ninh, dân chúng nô nức đến xem, duy có một người con gái vẫn nép bên khóm lan; nhà Vua trông thấy, đưa vào cung, phong làm Ỷ lan phu nhân. Chẳng bao lâu Phu nhân sinh được Hoàng Tử, tức anh quân Lý Nhân Tông sau này. Buổi gặp gỡ Ỷ lan phu nhân, có lẽ mang nặng kỷ niệm trong lòng, nên Vua đổi tên làng quê Phu nhân là Thổ Lỗi thành làng Siêu Loại (15):

Ngày Quý Mão, Lý Thánh Tông năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 5 [1063]. Bấy giờ vua xuân thu đã nhiều, tuổi 40 mươi mà chưa có con trai nối dõi, sai Chi hậu nội nhân Nguyễn Bông làm lễ cầu tự ở chùa Thánh Chúa, sau đó Ỷ Lan phu nhân có mang, sinh hoàng tử Càn Đức tức Nhân Tông, (Tục truyền rằng vua cúng khấn cầu tự chưa thấy hiệu nghiệm, nhân đi chơi khắp các chùa quán, xa giá đi đến đâu, con trai con gái đổ xô đến xem không ngớt, duy có một người con gái hái dâu cứ nép trong bụi cỏ lan. Vua trông thấy, gọi đưa vào cung, được vua yêu, phong làm Ỷ Lan phu nhân”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Việc học trước kia tổ chức trong chùa, nay nhà Vua cho lập văn miếu, tạc tượng các danh Nho, đưa Hoàng tử đến học:

“Lý Thánh Tông năm Thần Vũ thứ 2 [1070], mùa thu, tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối (16), vẽ tượng Thất thập nhị hiền (17), bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến học ở đây”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Về phương diện pháp luật, sửa đổi luật chuộc tiền của triều trước, xét theo tội nặng nhẹ, cho phép mọi người chuộc tiền nhiều hay ít:

Lý Thánh Tông năm Thần Vũ thứ 3 [1071] Định tiền chuộc tội theo thứ bậc khác nhau.

Trước đó, Lý Thái Tông đặt ra pháp lệnh: phàm kẻ phạm tội, nếu là dân mà là người già hay trẻ con, nếu là người họ thân nhà vua mà còn phải để tang nhau từ 9 tháng trở lên, đều được nộp tiền chuộc cả. Đến đây, định lệ lại: phàm người được nộp tiền chuộc tội phải tùy theo tội nặng hay nhẹ mà bắt nộp tiền nhiều hay ít khác nhau”. Cương Mục, Chính Biên, quyển 3.

Tháng giêng năm Thần Vũ thứ 4 [1072] vua Thánh Tông mất tại điện Hội Tiên, Vua Tống bèn sai Sứ đến phụng điếu:

“Trường Biên quyển 231. Năm Hy Ninh thứ 5 [1072]

Ngày Giáp Ngọ tháng 3 [5/4/1072], Ty kinh lược Quảng Nam Tây Lộ tâu Nam bình vương Lý Nhật Tôn [vua Lý Thánh Tông] mất; con là Càn Đức [vua Lý Nhân Tông] nối ngôi. Chiếu ban Chuyển vận sứ Khang Vệ làm Điếu tặng sứ”.

(甲午,廣南西路【一】經略司言南平王李日尊卒,子乾德嗣。詔轉運使康衛為弔贈使。)

Xét ra lời bàn của Sử thần Ngô Sĩ Liên có thể tóm tắt được sự nghiệp vua Lý Thánh Tông, xin ghi lại như sau: “Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Xót thương vì hình ngục, nhân từ với nhân dân, là việc đầu tiên của vương chính. Thánh Tông lo tù nhân trong ngục hoặc có kẻ vô tội mà chết vì đói rét, cấp cho chiếu chăn ăn uống để nuôi sống, lo quan lại giữ việc hình ngục hoặc có kẻ vì nhà nghèo mà nhận tiền đút lót, cấp thêm cho tiền bổng và thức ăn để nhà được giàu đủ. Lo dân thiếu ăn thì xuống chiếu khuyến nông, gặp năm đại hạn thì ban lệnh chẩn cấp người nghèo, trước sau một lòng, đều là thành thực. Huống chi lại tôn sùng đạo học, định rõ chế độ, văn sự thi hành mau chóng bên trong; phía nam bình Chiêm; phía bắc đánh Tống, uy vũ biểu dương hiển hách bên ngoài. Tuy có việc lầm lỗi nhỏ khác cũng vẫn là bậc vua hiền. Hoặc có người bảo là vua nhân nhu có thừa mà cương đoán không đủ, ngu ý chưa cho là phải”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Chú Thích:

  1. Toàn ThưĐại Việt Sử Ký Toàn Thư, tác giả Ngô Sĩ Liên.

2. Bản dịch Toàn Thư chú: Ngưu Hống: tộc người Thái ở vùng Sơn La, có thể là người Thái Đen. Ngưu Hống có thể là phiên âm tên Ngù Háu trong tiếng Thái, có nghĩa là “Rắn hổ mang”. Theo Quắm tố mướu (truyện kể bản Mường) của người Thái Đen thì chúa Lò Rẹt ở Mường Muổi (khoảng thế kỷ XIV) lấy hiệu là Ngù Háu. Nhưng Ngù Háu có thể là hình tượng của tộc Thái Đen từ trước.

3. Địa Lý: Xưa là đất Việt Thường; đời Hán, thuộc quận Nhật Nam; đời Tống, là châu Địa Lý thuộc Chiêm Thành; nhà Lý đổi là Lâm Bình, nhà Trần đổi là Tân Bình; khi thuộc Minh vẫn để tên như thế; nhà Lê đổi là Tiên Bình. Bấy giờ là đất phủ Quảng Ninh thuộc tỉnh Quảng Bình. (Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, viết tắt Cương Mục, Chính Biên, quyển 3).

4. Ma Linh: Xưa là đất Việt Thường; đời Hán, thuộc quận Nhật Nam; đời Tống, là châu Ma Linh thuộc Chiêm Thành; nhà Lý đổi là Minh Linh; nhà Trần vẫn để tên như thế; thuộc Minh, đổi là châu Nam Linh; nhà Lê đặt làm huyện. Bây giờ là đất đai huyện Minh Linh và Do Linh thuộc tỉnh Quảng Trị. (Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, viết tắt Cương Mục, Chính Biên, quyển 3).

5. Bố Chính: Xưa là châu Bố Chính; đời Hán là đất huyện Thọ Lãnh thuộc quận Nhật Nam; đời Tống là châu Bố Chính thuộc Chiêm Thành; nhà Lý vẫn để tên như thế; thuộc Minh đổi là châu Trấn Bình; nhà Lê chia làm hai châu Nội Bố Chính và Ngoại Bố Chính. Bây giờ là đất ba huyện Bình Chính, Minh Chính và Bố Trạch thuộc tỉnh Quảng Bình. (Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, viết tắt Cương Mục, Chính Biên, quyển 3).

6. Chính binh: Quân chính quy.

7. Cung tên: Quân chuyên bắn cung.

8. Đoàn người ngựa: Đoàn quân kỵ.

9. Quân trú chiến: Chiến đấu trong khi đóng giữ.

10. Quân thác chiến: Chiến đấu trong khi tấn công.

11. Sĩ sư: tên chức quan coi việc hình pháp ở Đô hộ phủ (Đô hộ phủ vốn là tên gọi cơ quan cai trị cấp châu đời Đường, các triều đình Đinh, Lê, Lý vẫn giữ tên Đô Hộ Phủ, nhưng chỉ chuyên việc hình pháp) [Bản dịch Toàn Thư chú].

12. Thư gia: Theo Lê Quý Đôn, thư gia tức là ty lại (Kiến Văn Tiểu Lục, bản dịch, Nxb Sử học, 1962, tr. 129 – 130), có thể cũng như tên gọi “thư lại” đời sau. Phan Huy Chú ghi tên các thư gia như: Nội hỏa thư gia, Ngự khố thư gia, Chi hậu thư gia, Nội thư gia, Lệnh thư gia v.v … (Lịch triều hiến chương loại chí, bản dịch, T.2, Nxb Sử học, 1962, tr. 6) [Bản dịch Toàn Thư chú].

13. Án ngục lại: người giúp việc xét hỏi về công việc hình án. [Bản dịch Toàn Thư chú]

14. Phốc đầu: tên mũ, tức là mũ cánh chuồn, có hai dải cánh giương ra hai bên.

15. Làng Siêu Loại: nay thuộc địa phận huyện Thuận Thành tỉnh Hà Bắc. ( Chú thích của bản dịch Toàn Thư.)

16. Tứ phối: chỉ Nhan Uyên, Tăng Sâm, Tử Tư, Mạnh Tử là bốn học trò của Khổng Tử được thờ với thầy ở Văn Miếu.( Bản dịch Toàn Thư chú)

17. Thất thập nhị hiền: 72 học trò giỏi của Khổng Tử. (Bản dịch Toàn Thư chú)

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Thành duy thức luận – chuyên đề IV: Nhân – Duyên – Quả

Thành duy thức luận – chuyên đề IV: Nhân – Duyên – Quả

02/12/20191:02 SA(Xem: 2064)
Thành duy thức luận - chuyên đề IV: Nhân - Duyên - Quả
THÀNH DUY THỨC LUẬN
CHUYÊN ĐỀ IV: NHÂN – DUYÊN – QUẢ
Thích Phước Nguyên chủ giảng
**************

thich phuoc nguyenGiảng Tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam – Cơ Sở I. Tv. Vạn Hạnh
Giáo Thọ Sư: Đ.Đ. Thích Phước Nguyên

Dẫn:
Thành duy thức luận, trình bày hệ thống vận hành của các pháp theo một định lý: nhân – duyên – quả, trong đó thuyết minh về 4 duyên, 10 nhân, 5 quả. Trong đây: Skt hetu: nhân, tức nguyên nhân; Skt pratyayatā: duyên tính, tính chất làm điều kiện hỗ tương; tức những năng lực tương tác, hỗ trợ và kích khởi; Skt phala: quả, tức kết quả. Nguyên lý này tạo chỉnh thể hoạt động và tiến hành hoàn chỉnh các các pháp.

 

Kì trước:
Chuyên đề III. LỘ TRÌNH TU TẬP
DUY THỨC TÔNG ĐẠI THỪA BÁCH PHÁP
DUY THỨC HỌC: TÂM – Ý  – THỨC

bài đọc thêm:
Thành Duy Thức Luận (HT. Thích Thiện Siêu)
Duy Thức Học (Thích Thiện Hoa)
Dẫn vào duy thức học (Tuệ Sỹ)
Thành Duy Thức Giảng Luận (Thích Phước Nguyên) MP3

Tạo bài viết

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

PHẬT PHÁP GIỮA ĐỜI THƯỜNG 5

PHẬT PHÁP GIỮA ĐỜI THƯỜNG 5
Cao Thanh Bình
Nhà xuất bản Hồng Đức

Phật Pháp Giữa Đời Thường 5 cover (1)

 

LỜI TỰA

Đức Phật từng dạy, chúng sinh còn trong lục đạo luân hồi thì phải chịu nhiều nỗi khổ. Sướng vui trên đời thường ngắn ngủi, còn lại không ai tránh được quy luật Sanh, Lão, Bệnh, Tử. Không chỉ thế, ngày ngày ta còn đối mặt với nhiều nỗi khổ khác như gặp điều mình không ưa thích, sống cách xa người mình yêu thương, mong cầu nhiều nhưng không đạt… Thực hiếm ai được may mắn vẹn toàn, vì thông thường người được cái này lại mất cái kia.

Sự khác nhau giữa người tu hành và người chưa tu hành chính là ở chỗ cách nhìn nhận và thái độ khi đối mặt với khổ đau. Thường thì sẽ có người gục ngã, có người oán hận, có người chạy trốn. Nhưng với người đã học và hành theo lời Phật dạy, họ quán chiếu được khổ đau hay hạnh phúc cũng đều là giả tạm. Nhờ vậy, họ ngày ngày dạo chơi trong cuộc đời, dạo chơi trong bể khổ mà tâm vẫn an lạc.

Khổ trong tâm mà ra nên người tu hành luôn quay vào trong tâm để quan sát, để hiểu, để bao dung và để buông bỏ. Còn chấp thì còn khổ, buông bỏ là giải thoát. Khi thấy có thì nó có, khi thấy không thì không, đơn giản chỉ vậy thôi.

TP. HCM, 2019

MỤC LỤC

Bài 1: Những Giấc Mơ
Bài 2: Rồi Một Ngày Nó Nhận Ra

Bài 3: Trên Đường Ta Đi
Bài 4: Sống Thật
Bài 5: Mỗi Ngày Một Ngày Vui
Bài 6: Đừng Quên Làm Điều Mình Muốn
Bài 7: Có Phải Thừa Còn Hơn Thiếu?
Bài 8: Một Nửa Sự Thật Không Phải Là Sự Thật
Bài 9: 24 Giờ
Bài 10: Biết Ơn
Bài 11: Khoan Dung
Bài 12: Cảm Thông
Bài 13: Than Thở
Bài 14: Tự Ái
Bài 15: Im Lặng Đáng Sợ
Bài 16: Thương Nhau Đừng Làm Khó Cho Nhau …
Bài 17: Vô Cảm
Bài 18: Đừng Giữ Kín Khó Khăn
Bài 19: Cô Độc
Bài 20: Chắc Gì Ta Đã Hiểu
Bài 21: Hài Lòng Với Chính Mình?
Bài 22: Không Có Nghiệp Nào Là Nhỏ
Bài 23: Không Phải Tại Trời Bất Công
Bài 24: Chớ Vay Khi Chưa Cần Thiết
Bài 25: Nhẹ Nhàng Thanh Thản
Bài 26: Thói Quen Trói Buộc
Bài 27: Làm Phúc Là Bón Phân Cho Đất
Bài 28: Chắt Chiu Phước Báu
Bài 29: Thiểu DụcTri Túc
Bài 30: Bóng Đêm Và Ánh Sáng
Bài 31: Bóng Mát Theo Ta
Bài 32: Ba Người Trong Nhà Lửa
Bài 33: Học Giả Và Hành Giả
Bài 34: Hý Luận
Bài 35: Hít VàoThở Ra
Bài 36: Yêu Thương
Bài 37: Nước Mắt Chảy Xuôi
Bài 38: Trong Con Có Ba Có Mẹ
Bài 39: Quê Nội
Bài 40: Ký Ức
Bài 41: Mùa Xuân
Bài 42: Ngồi Thiền Và Câu Bát Nhã
Bài 43: Cảnh Giác Với Nội Ma
Bài 44: Đức Phật Hàng Phục Ma Vương
Bài 45: Vạn Pháp Giai Không
Bài 46: Vô Ngã
Bài 47: Vô Thường
Bài 48: Thọ Là Khổ
Bài 49: Tam Pháp Ấn
Bài 50: Ngày Cuối Năm

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Thành duy thức luận – chuyên đề III. Lộ trình tu tập

Thành duy thức luận – chuyên đề III. Lộ trình tu tập

15/10/20194:23 CH(Xem: 2751)
Thành duy thức luận - chuyên đề III. Lộ trình tu tập

“>

THÀNH DUY THỨC LUẬN
CHUYÊN ĐỀ III. LỘ TRÌNH TU TẬP
Thích Phước Nguyên giảng ngày 13/10/2019 tại Học viện Phật giáo Việt Nam, cơ sở I. VẠN HẠNH

Thành duy thức luận mô tả sự tu tập trải qua năm giai đoạn: tư lươnggia hànhthông đạttu tậpcứu cánhĐối chiếu với năm lớp Bồ-đề được ngài Long Thọ đề cập trong Đại trí độ luận. Từ đó phác hoa một tầm nhìn chung về các hệ thống Thánh điển Phật giáo.

blank

KỲ trước:
Thành duy thức luận – chuyên đề II. Tâm Ý Thức

Đọc thêm:
Thành Duy Thức Luận (HT. Thích Thiện Siêu)
Duy Thức Học (Thích Thiện Hoa)
Duy Biểu Học (Thích Nhất Hạnh)
Dẫn vào duy thức học (Tuệ Sỹ)
Thành Duy Thức Giảng Luận (Thích Phước Nguyên) MP3

Tạo bài viết

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã có buổi thuyết giảng Phật Pháp cho nhóm Việt Nam và Indonesia. Phần cuối của chương trình là phần câu hỏi và trả lời.
Địa điểm: Dinh Thự Đức Đạt Lai Lạt Ma, Dharamsala, HP, Ấn độ
Ngày: ngày 9 tháng 10, 2019
Thời lượng: 1 tiếng 4 phút
Ngôn ngữ: tiếng Việt (Sư cô Nhật Hạnh phiên dịch trực tiếp từ Đức Đạt Lai Lạt Ma)

“>

25/10/2019(Xem: 2223)

Trong Duy thức tông, phân loại các pháp theo nguyên tắc "ngũ vị bách pháp", tức năm hạng mục gồm 100 pháp. Theo trình tự: I. Tâm pháp; II. Tâm sở hữu pháp; III. Sắc pháp; IV. Tâm bất tương ưng hành pháp; V. Vô vi.

“>

20/10/2019(Xem: 2094)

Nhân vật chính trong chương trình là NSND Lan Hương cùng người bạn đời NSƯT Đỗ Kỷ. Cả hai đều là nghệ sĩ gạo cội và là cặp vợ chồng nghệ sĩ nổi tiếng hạnh phúc của điện ảnh Việt. Cả hai đến với nhau bởi một chữ duyên khi cùng học lớp đào tạo diễn viên khóa 1 của Nhà hát Kịch Việt Nam. Hơn 40 năm là bạn tâm giao, 30 năm là bạn đời, với sự hiểu biết và thấu hiểu lẫn nhau, cả hai vợ chồng đã vun vén nên một gia đình đầy yêu thương và mang đậm giá trị truyền thống gia đình Việt.

“>

14/10/2019(Xem: 1865)

三點如星像
橫鉤似月斜
披毛從此得
做佛也由他
Tam điểm như tinh tượng,
Hoành câu tợ nguyệt tà.
Phi mao tùng thử đắc,
Tố Phật dã do tha”.

“>

11/10/2019(Xem: 1806)

“Bộ luận Thành Duy Thức này là bộ luận Cương yếu của môn Duy thức học, trình bày lý Duy thức theo luận pháp Nhân minh với những từ ngữ mới lạ, giản ước, nghĩa lý khúc chiết, ý kiến của các Luận sư đan xen chằng chịt, hỏi đáp không phân ranh giới rõ ràng, có khi câu hỏi ẩn trong câu đáp, dùng nhiều đại danh từ bỉ, thử, do dó thật khó lòng hiểu cho chu đáo. Đúng như lời tán thán của luận Duy thức xu yếu: “Vạn tượng hàm ư nhất tự, thiên huấn giảng ư nhất ngôn“. (*Trích lời tựa THÀNH DUY THỨC LUẬN của cố Trưởng lão THÍCH THIỆN SIÊU)

“>

12/08/2019(Xem: 3702)

Đại học Cornell và Harvard đã chứng minh lượng thịt lí tưởng nên tiêu thụ để đạt được chế độ ăn khỏe mạnh là hoàn toàn 0! Nước sạch được ví như dầu mỏ mới, rồi sớm muộn các quốc gia cũng gây chiến vì nước. Những tầng đất giữ nước từng mất hàng triệu năm để hình thành nay đang dần cạn kiệt; Vậy mà cần đến 50 nghìn lít nước mới có thể sản xuất được một kí thịt bò. Mỗi ngày có 1 tỷ người khổ sở vì đói ăn, 20 triệu người có thể chết vì thiếu dinh dưỡng.

“>

09/08/2019(Xem: 15780)

Đối với những người Phật giáo, ngoài việc giữ giới cấm sát sinh như giới luật nhà Phật qui định, ăn chay còn là một phương thức tu tập hằng ngày, gieo trồng hạt giống từ bi và phát triển tâm từ bi đến với muôn loài chúng sinh từ gần đến xa, từ lớn đến nhỏ..(KInh Từ Bi)

“>

09/08/2019(Xem: 4270)

Trong bài viết này tổng hợp các bài giảng, pháp thoại, bài dạy, sách nói của Thầy Thích Phước Nguyên về các vấn đề Phật học, về kinh Kim Cang, Phổ Môn, Duy thức học v.v…

“>

01/08/2019(Xem: 2949)

Tôi đoán là nhờ kết quả của toàn cầu hóa mà bạn có thể tìm thấy các lon Coca-Cola trên đỉnh Everest và nhà sư Phật giáo tại Monterey. (Cười) Và vì vậy tôi chỉ đến đây hai ngày trước, từ Himalayas theo lời mời của các bạn. Vì vậy, tôi cũng muốn mời các bạn, chỉ một lúc thôi, đến Himalayas. Và để xem nơi mà một thiền giả, như tôi, người đã bắt đầu sự nghiệp là một nhà sinh học phân tử tại Viện Pasteur, và đã tìm thấy con đường của mình ở vùng núi tuyết.

“>

25/07/2019(Xem: 4094)

Trong Cuộc Gặp Gỡ Tại Dinh Thự Của Ngài Ở Dharamsala, Hp, Ấn Độ Vào Ngày 12 Tháng 7 Năm 2019.. Sư Cô Nhật Hạnh chuyển ăm tiếng Việt

“>

19/07/2019(Xem: 5042)

Phim cực kỳ hay và có những khi Liên với mấy đứa em Liên (em gái và em rể) phải rơi nước mắt. Thoạt tiên, Liên coi toàn bộ phim có thuyết minh. Sau đó, do cảm thấy chưa hiểu rõ thuyết minh, và cũng vì bộ phim quá hay, Liên đã coi lại toàn bộ phim 54 tập có phụ đề. Mới nhận ra là phụ đề thì hay hơn, dịch rõ hơn thuyết minh. Phim hay đến nỗi, mặc dù Liên coi lại lần thứ nhì, còn cảm động hơn và rơi nước mắt còn nhiều hơn lần coi thứ nhất.

“>

10/07/2019(Xem: 67632)

Nhạc sĩ Phạm Duy là một thiên tài. Rất hiếm hoi để có một tài năng như thế. Tôi đã nghe nhạc Phạm Duy từ thời mới lớn, qua nhiều thể loại nhạc, phần lớn thời xa xưa là nghe qua các làn sóng phát thanh tại Sài Gòn, và rồi nghe qua băng Cassette – đó là những năm chưa có máy truyền hình màu, và dĩ nhiên là rất xa với kỷ nguyên Internet bây giờ.

“>

10/07/2019(Xem: 4419)

Sau khi nói sơ qua về lịch sử Tây Tạng bị Trung Quốc chiếm giữ, TT. Nhật Từ có tiết lộ đến việc Trung Quốc bắt ép chính quyền Việt Nam nói chung và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam cũng như chính quyền Thái Lan nói riêng không cho phép Việt Nam tổ chức Đại lễ Phật Đản Liên Hợp quốc Vesak năm 2019 tại Hà Nội Việt Nam (Phút thứ 4.15)…

“>

09/07/2019(Xem: 11300)

Buổi sáng hôm nay, ở đây tổ chức ngày lễ sinh nhật của tôi, tôi đã nói …
với những người bạn của tôi, đã cùng tham dự với chúng tôi,
những người mà thật sự quan tâm đến ngày sinh nhật của tôi,
và, họ cũng mong muốn và nguyện cầu
cho tôi được sống dài lâu …
Vì thế, tôi đã nói rằng, quà tặng cho sinh nhật của tôi có ý nghĩa nhất là:
Hãy làm ơn, giữ gìn tâm, và trái tim của quý vị từ bi, nhiều hơn trước.
Ở một mức độ tâm linh nào đó,
Hãy chân thành, và hãy thiết tha, quan tâm đến hạnh phúc của người khác.

“>

06/07/2019(Xem: 3135)

Bài hát “Độ Ta Không Độ Nàng” được chuyển lời ca cũng như bối cảnh bài ca thành “Độ Ta Độ Nàng Độ Khắp Thế Gian” do ca sĩ Võ Hạ Trâm trình bày. Độ Ta, Độ Nàng, Độ khắp thế gian là một câu chuyện ngắn có bối cảnh: Đó là trước kia có một vị Quận Chúa xinh đẹp, nhà của nàng sống ở gần ngôi chùa, lúc nhỏ theo cha đến chùa lễ Phật, nên cô đã quen biết với một Tiểu Hòa Thượng suốt ngày gõ mõ tụng kinh ở trong sân chùa.

“>

22/06/2019(Xem: 10698)

Video clip: Đời Ta Từ Nay Không Lụy Sầu |
Lời việt: Thích Nhật Từ |
Ca sĩ: Quách Tuấn Du |
Phát sóng lúc 15:40, ngày 15-6-2019 |
Đây là ca khúc cover lại theo đúng tinh thần Phật giáo. Kính mời quý đạo hữu theo dõi, chia sẻ và sử dụng lời ca khúc này như là một trách nhiệm hộ trì, xiểng dương Chánh pháp.

“>

15/06/2019(Xem: 4427)

Trả lời phỏng vấn của BTV Kiều Giang, tôi (Thích Nhật Từ) khẳng định rằng: "Đến ngày 13-4-19, nhạc khúc ‘Độ ta không độ nàng’ có hơn 60 lượt triệu view ở Việt Nam, chưa kể hàng triệu view ở Trung Quốc, đã tạo hình ảnh quá tiêu cực, quá sai lầm, quá ảm đạm, quá bi quan, chán chường và tuyệt vọng của một tu sĩ mới tu (tiểu tăng, 小僧) đã lỡ rơi vào cõi yêu đương không lối thoát, đến độ phải giết hoàng tử tạo ra cái chết tự tử của người mình yêu là quận chúa bằng một lưỡi kiếm.

Chuyện ngôn tình này rõ ràng là không có thật, chỉ là chuyện hư cấu mà thôi nhưng đã để lại các tác hại ghê gớm đối với lý tưởng đi tu của các Tăng sĩ Phật giáo

“>

14/06/2019(Xem: 12481)

Pháp Thoại với Hòa Thượng Viên Minh tại Chùa Tường Vân – Lowell, MA (30/5/2019)
Pháp Đàm với Hòa Thượng Viên Minh tại Massachusetts (31/5/2019)

“>

03/06/2019(Xem: 3780)

Trong buổi giao lưu ngày 21 tháng 5 năm 2019 Ngài đã từ bi hướng dẫn cho Đại chúng thực hiện một nghi thức về “Phát khởi Bồ Đề Tâm”. Thời lượng của ngày 20 là 1 tiếng 20 phút và gày 21-5-2019 là 57 phút 48 giây.
Ngôn ngữ: Tiếng Việt

“>

02/06/2019(Xem: 7516)

Nhân dịp tưởng niệm 56 năm Bồ tát Thích Quảng Đức tự thiêu, mời quý độc giả xem lại 3 video clips: (1) Trái tim Bồ Tát Thích Quảng Đức hiện ở đâu, (2) giây phút diễn ra lúc Bồ tát Thích Quảng Đức tự thiêu (VOA) và (3) cuộc phỏng vấn Hòa thượng Thích Tâm Châu, người lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam lúc bấy giờ.

“>

24/05/2019(Xem: 2807)

Trong niềm hân hoan đón mừng ngày Đức Phật đản sanh, Đại lễ Phật Đản năm 2019 đã chính thức diễn ra tại Việt Nam Quốc Tự, TP. Hồ Chí Minh, Chùa Từ Đàm, Cố đô Huế và Chùa Bằng cũng như Trung Tâm Văn Hóa Thủ Đô Hà Nội ngày Rằm tháng 4 âm lịch tức ngày 19-5-2019

“>

19/05/2019(Xem: 5176)

Ba buổi pháp thoại của Hòa thượng Viên Minh Sư trưởng Tổ đình Bửu Long, Việt Nam tại Chùa Pháp Vân và Vô Môn Thiền Tự

“>

14/05/2019(Xem: 2195)

Toàn cảnh Đại Lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc Vesak 2019 tại Việt Nam gồm có:
1. Giới thiệu về Đại Lễ Phật Đản LHQ Vesak 2019
2. Lễ khai mạc
3. Giao lưu biểu diễn văn nghệ quốc tế mừng Đại Lễ Phật Đản LHQ Vesak 2019
3. Pháo hoa mừng Phật Đản
4. Đêm hoa đăng cầu nguyện hòa bình
5. Lễ bế mạc

“>

14/05/2019(Xem: 6168)

Chúng ta đều biết đến ngôi đền Phật giáo lớn nhất thế giới là Borobudur ở Inđônêxia được khám phá trong vùng rừng rậm của đảo Java vào đầu thế kỷ XIX và ngày nay đã hồi sinh để trở thành một nơi chiêm bái và một thắng cảnh du lịch trong lòng một quốc gia Hồi giáo. Tuy nhiên có lẽ ít ai biết về di sản tuyệt vời khác của Phật giáo là Ajanta cũng đã được khám phá một cách thật tình cờ vào đầu thế kỷ XIX để ngày nay trở thành một nơi hành hương tại Ấn độ, nơi mà Phật giáo đã phát sinh và đã từng biến mất. (Xem video và bài viết của Hoang Phong)

“>

10/04/2019(Xem: 6108)

Để phân định đâu là Chánh đâu là Tà, đâu là Pháp, đâu là Phi Pháp cần có những nguyên lý đặc thù, trong kinh Phật có ba dấu ấn hay khuôn dấu để kiểm nghiệm những điều này, được Phật dạy trong kinh Pháp ấn. Vui thay chúng ta được mở lớn con đường.

“>

27/03/2019(Xem: 5706)

Câu 1: Trên các phương tiện thông tin đại chúng, có trích dẫn clip của một vị Chủ trì 1 ngôi chùa nọ, khẳng định: Pháp giải oan gia trái chủ là chính pháp, đúng theo lời Phật dạy về Tứ diệu đế và dẫn dắt hàng loạt các bài kinh trong kinh điển Nikaya. Thầy có thể chia sẻ quan điểm của thầy về vấn đề trên không ạ?

“>

25/03/2019(Xem: 15267)

Thế gian vô thường, thể chế tạm bợ, tự tính bốn đại: rỗng không, khổ não. Năm ấm vô ngã, sinh diệt biến đổi, lường gạt hư dối không có chủ thể. Tâm là nguồn ác; thân là đầm tội, chiêm nghiệm như thế, thoát dần sinh tử.

“>

20/03/2019(Xem: 3312)

Bản chất của cuộc sống, của cõi luân hồi là vô thường. Chúng ta thường không ý thức được về điều này bởi luôn mải mê với vô số ham muốn, tham vọng, hạnh phúc và khổ đau… để chúng cuốn trôi chúng ta qua hết tháng ngày như những dòng thác lũ. Hãy tạm dừng một chút trên hành trình vội vã của mình để lắng tâm tư duy và quán niệm rằng trên đời này, chẳng có gì không thay đổi, chẳng có gì vĩnh viễn thường hằng, và hãy ý thức được kiếp người mong manh ngắn ngủi, để chúng ta biết trân trọng hơn và sử dụng cuộc đời mình có ý nghĩa hơn.

“>

11/03/2019(Xem: 10937)

Niết bàn là khái niệm thể hiện triết lý độc đáo về giải thoát của Phật giáo. Đây là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, giải thoát khỏi mọi đau khổ của cuộc đời. Trạng thái này có thể đạt được khi còn đang sống (Hữu dư Niết bàn) hoặc khi đã qua đời (Vô dư Niết bàn).
Phật giáo Nam Truyền hướng tới Vô dư Niết bàn – một Niết bàn tịch diệt, từ bỏ mọi thú vui trần thế. Phật giáo Bắc Truyền hướng tới Hữu dư Niết bàn – một Niết bàn nhân gian, nhập thế, dấn thân vào xã hội và hoạt động cùng những buồn vui nhân thế. Quan niệm này đã mang lại một sức hấp dẫn, sức sống mới cho Phật giáo, đặc biệt là trong xã hội hiện đại.Xin mời quý độc giả xem và nghe thầy Nhật Từ thuyết giảng nhân dịp kỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca Niết Bàn sắp đến.

“>

11/03/2019(Xem: 7600)

Tịnh độ công thông, dẫu phát nguyện sinh về thế giới Tịnh độ của đức Phật A-di-đà, nhưng được nghe hay niệm danh hiệu của đức Dược Sư thì ngài vẫn dẫn đạo cho về Thế giới Tịnh độ ấy, nên bản nguyện Tịnh độ không có phân biệt cao thấp, đông tây, đồng đẳng không khác

“>

07/03/2019(Xem: 1998)

Video: Jetsunma Tenzin Palmo — “Tại Sao Học Phật Pháp” Xin bấm vào ký hiệu tròn như cái hoa (Settings) ở bên mặt, phía dưới màn hình, rồi bấm chữ “Subtitles/CC” và chọn ngôn ngữ "Vietnamese" để xem phụ đề tiếng Việt.

“>

04/03/2019(Xem: 2896)

Sách nói: Kinh Kim cương Phạn bản Tân dịch (vajracchedikāprajñāpāramitā, https://youtu.be/nOBdrpmEBYM) và Phẩm Phổ Môn Phạn bản tân dịch (https://youtu.be/uJZbG6V2-rs)

“>

28/02/2019(Xem: 2958)

Các video sau đều có mục lục (ngoại trừ các bài giảng lẻ), hầu hết có kèm theo thời điểm lúc bắt đầu giảng các mục để người nghe có thể dễ dàng theo dõi. Ngoài ra nếu vô tình nghe một đoạn bất kỳ cũng có thể biết được HT đang giảng tới mục nào vì tên mục đó có ghi phía dưới màn hình.

“>

20/02/2019(Xem: 5904)

Tổ chức tại Hí viện Saigon Performing Arts Center (16149 Brookhurst St. Fountain Valley, CA 92708, từ 18 giờ đến 22 giờ 30) với sự góp mặt của các ca sĩ Nguyên Khang, Ngọc Hạ, Diễm Liên, Thiên Tôn, Quỳnh Vy.

“>

20/02/2019(Xem: 2379)

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói từ nơi cư trú của Ngài ở Dharamsala, Ấn Độ, về hy vọng và ước mơ của Ngài để vinh danh lễ kỷ niệm 50 năm bài phát biểu "Tôi có một giấc mơ" của Martin Luther King Ngày 28 tháng 8 năm 2013.
Xin bấm vào ký hiệu tròn như cái hoa (Settings) ở bên mặt, phía dưới màn hình, rồi bấm chữ “Subtitles/CC” và chọn ngôn ngữ "Vietnamese" để xem phụ đề tiếng Việt.

“>

08/02/2019(Xem: 4230)

Trong quyển "Mê tín, chánh tín", HT.Thích Thanh Từ có nói: “Lệ cúng sao hạn, thật là lạc hậu lỗi thời, sao là những hành tinh cách xa chúng ta bao nhiêu ngàn cây số. Nó là cái gì mà chúng ta phải cúng! Tục lệ các chùa quê, vào ngày mùng chín tháng Giêng là cúng sao Hội. Người Phật tử nào không gửi tên cúng sao, xem như năm ấy không được bảo đảm an ninh. Song người chủ cúng sao cho quý vị, có bảo đảm an ninh chưa? Có lẽ quý vị ấy quên ghi tên mình trong bài sớ cúng sao chớ gì? Thật là vô lý, đạo lý nhân quả đức Phật dạy rành rành trong kinh, mà người ta bất chấp

“>

02/02/2019(Xem: 11869)

Bộ phim chuyển tải những vấn đề căn bản và quan trọng của Phật và Thánh chúng suốt 45 năm hoằng pháp nhằm ôn lại khái quát lịch sử cho Phật tử, vừa tôn vinh công đức của đức Thế Tôn, qua đó là tấm gương cho mọi Phật tử noi theo và giúp cho những ai muốn bước đầu học Phật.

Mỗi tập có thời lượng dài 90 phút kể về cuộc đời đức Phật Thích Ca từ giai đoạn Ngài thành đạo, hoằng pháp và giáo hóa chúng sinh đến khi nhập Niết bàn. Trong đó sẽ nêu bật vai trò và cuộc đời của 10 vị đại đệ tử của đức Phật trong

“>

05/01/2019(Xem: 34423)

Học thuyết đồng nhất (nhận dạng) tâm (trí/ý thức) và não (The Mind/Brain Identity Theory) cho rằng trạng thái tinh thần là trạng thái não, quá trình não bộ đồng nhất với các trạng thái của tâm ý. Lý thuyết này được một số nhà Duy vật thuần túy ủng hộ. Khi người ta nói “cô ấy có tâm trí tốt, hay cô ấy có bộ óc tốt” là để thay thế cho nhau.

“>

07/12/2018(Xem: 5507)

Các bài thuyết giảng về ăn chay của TT. Thích Nhật Từ

“>

25/11/2018(Xem: 5732)

Tin từ chính quyền thành phố Hà nội cho hay “Hà Nội dự kiến cấm bán thịt chó vì sức khỏe cộng đồng cũng như nếp sốngvăn minh của người dân thủ đô trong mắt du khách quốc tế”. Tin này được đại đa số người dân trong và ngoài nước đồng tình. Dưới đây là một video clip với tựa đề vì sao không ăn thịt chó do TT. Thích Nhật Từ chia sẻ cùng với Phật tử:

“>

20/11/2018(Xem: 10327)

Trong bài nói chuyện đăng trên youtube của Hòa thượng Thích Thông Lai có nói sẽ ngăn chặn việc xây chùa Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ và tuyên bố sẽ tuyên chiến với thầy. Thầy nghĩ sao về việc này?

“>

16/11/2018(Xem: 13453)

Tôi là Tăng sĩ hướng đạo cho Phật tử, họ có những thắc mắc gì trong đời sống tu tập đến hỏi tôi, tôi theo đúng chánh pháp mà trả lời. Đức Phật dạy người xuất gia không được nói sai sự thật, sự thật như thế nào nói đúng như thế đó, không thêm bớt, không xuyên tạc, không vu khống,… Tôi cũng không phát ngôn những điều trái với quy định pháp luật. Trong Hiến pháp năm 2013 của nước Việt Nam, điều 25 có ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

“>

01/11/2018(Xem: 4243)

Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.

“>

01/11/2018(Xem: 20967)

Gồm Quý vị chuyên gia về sức khỏe; BS. Đỗ Hồng Ngọc, BS. Nguyễn Ý Đức, BS. Lương Lễ Hoàng và quý Thượng Tọa Thích Nhật Từ, Thích Minh Thành và Đại Đức giảng sư Thích Thiện Thuận.

“>

27/10/2018(Xem: 6109)

Kim Sơn Bảo Thắng Tự tọa lạc gần đỉnh Fansipan, được xây dựng từ cuối năm 2015 và chính thức hoàn thiện, khánh thành sau hai năm triển khai thi công (tháng 1/2018).

Từ Kim Sơn Bảo Thắng Tự đi dọc theo con đường La Hán xuống là Đại tượng Phật A Di Đà cao 21,5m, được đúc bằng đồng theo kỹ thuật hiện đại nhất hiện nay. Đây là bức tượng Phật bằng đồng cao nhất Việt Nam tới thời điểm này.

“>

16/10/2018(Xem: 12562)

Phim đạo Phật hệ phái Khất sĩ hay. Giúp cho mọi người hiểu biết về cách sinh hoạt và sự tu tập của hệ phái K.S.Những bước chân thong dong với màu vàng ca sa trang nghiêm thân , sáng rực con đường quý thầy đi qua. Thật là đẹp và ngưỡng mộ vô cùng.Thật là xúc động. Khiến mọi người đến với đạo cũng từ đậy.

“>

09/10/2018(Xem: 4287)

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Đính chính sai lầm của An Nam Kỷ Yếu dẫn đến sai lầm trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục

Posted on by huyentamhh

Đính chính sai lầm của An Nam Kỷ Yếu dẫn đến sai lầm trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục

Hồ Bạch Thảo

4- 4- 2019

Tranh minh họa Mai Thúc Loan. Nguồn: Internet

Trong bài viết mới đăng trên các báo, với nhan đề Khúc Tiên Chúa nhân thời cơ dành độc lập, lập luận chúng tôi cho rằng ngay sau quân loạn tại An Nam vào năm 880, Tiên chúa Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa, giành độc lập cho nước nhà, với lời trích dẫn như sau:  

: Trong khi Hoàng Sào tung hoành tại Trung Quốc, chính quyền địa phương thuộc Đường tại An Nam Đô Hộ Phủ bị cắt đứt với chính quốc; quân lính nhà Đường làm loạn, tự động bỏ hàng ngũ trở về Ung châu [Nam Ninh], sử chép:

 “Đường Hy Tông năm Quảng Minh thứ nhất [880]

Tháng 3, quân loạn tại An Nam, Tiết độ sứ Tăng Cổn bỏ thành trốn; các đạo binh thuộc Ung quản tự động rút về. 安南軍亂,節度使曾袞出城避之,諸道兵戍邕管者往往自歸。 (Tư Trị Thông Giámviết tắt: Tư Trịquyển 253)

Thế: Tiên chúa Khúc Thừa Dụ, một phú hào có học tại đất Hồng Châu [Hải Dương], lấy sự hiểu biết làm sức mạnh [Knowledge is power], chớp lấy thời cơ, vận động nhân dân vốn sẵn lòng căm ghét giặc ngoại xâm từ ngàn năm, đồng loạt nỗi dậy; đuổi kẻ xâm lăng ra khỏi bờ cõi, giành lại nền độc lập cho nước nhà”.

Lập luận trên cũng chẳng mới, trước đây Việt Sử Tiêu Án [viết tắt: Tiêu Án] của Ngô Thì Sĩ cũng chép tương tự:

Họ Khúc là người Hồng Châu, là họ to nối đời, tiên tổ là Thừa Dụ, tính khoan hòa, yêu người, được nhiều người qui phục, khi Tăng Cổn bỏ phủ thành, Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ, xin với triều đình Đường, vua Đường nhân thế nhận cho làm chức ấy”.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư [viết tắt Toàn Thư] cũng xác nhận vào năm 880 Tiết độ sứ Tăng Cổn bỏ thành trốn:

Canh Tý, [880], (Đường Hy Tông Nghiễm, Quảng Minh năm thứ 1). Mùa xuân, tháng 3, quân ở phủ Đô hộ làm loạn, Tiết độ sứ Tăng Cổn bỏ chạy khỏi thành (Cổn thay Biền, có tiếng là người biết vỗ dân, người [trong châu] gọi là Tăng thượng thư; Cổn từng soạn sách Giao Châu ký, 1 thiên). Các đạo quân nhà Đường đóng giữ Ung Quản thường tự ý bỏ về luôn”.

Một nhà nghiên cứu thuộc thế hệ trẻ trong nước tuy không phản đối lập luận của chúng tôi, nhưng anh cảm thấy lấn cấn vì Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục [viết tắt: Cương Mục] căn cứ vào sách An Nam Kỷ Yếu của Cao Hùng Trưng, phủ nhận việc Tăng Cổn nhân loạn chạy về nước, nhân đó phủ nhận việc Khúc Thừa Dụ làm Tiết độ sứ năm 880. Qua Email nhà nghiên cứu gửi cho tôi bài viết của anh, trưng lên những sử liệu Trung Quốc trong Tư TrịNhị Thập Tứ Sử cùng những thư tịch cổ Việt Nam, khiến tôi rất khâm phục và vui mừng; vì tôi nghĩ rằng thế hệ trẻ nghiên cứu sâu như vậy, thì nền sử học nước nhà không thể mai một được. Bài của anh trích dẫn từ Cương Mục như sau:

Năm Canh Tí (880). (Đường, năm Quảng Minh thứ 1). Tháng 3, mùa xuân. Quân phủ đô hộ nổi loạn. Tiết độ sứ Tăng Cổn phủ dụ được yên. Theo sách An Nam kỷ yếu, trước kia, Tăng Cổn làm chức tiểu hiệu dưới quyền Cao Biền, Tăng Cổn là người giỏi về chính trị. Khoảng giữa niên hiệu Kiền Phù (874- 879), nhà Đường dùng Tăng Cổn thay Cao Tầm làm tiết độ sứ. Năm này (880) quân trong phủ nổi loạn, các thuộc hạ xin Tăng Cổn rút ra ngoài thành để lánh nạn. Cổn không nghe, đem điều uy đức ra phủ dụ: quân nổi loạn yên ngay, đến quy phụ với Cổn. Cổn không nhắc hỏi đến lỗi của họ nữa. Vì thế, trong số quân các đạo đi thú ở Ung Quản hễ ai theo về với Cổn thì đều được dung nạp cả. Tăng Cổn là người có tiếng khéo vỗ về cai trị nhân dân, được người Giao Châu gọi là “ông thượng Tăng” (Tăng thượng thư). Cổn có soạn sách Giao Châu ký lưu hành ở đời. Cổn làm việc ở trấn 14 năm. Đến đời Đường Chiêu Tông, năm Cảnh Phúc thứ 1 (892), Chu Toàn Dục mới sang thay Cổn làm tiết độ sứ. Lời cẩn án –  Sử cũ [chỉ Toàn Thư] chép quân trong phủ nổi loạn, tiết độ sứ Tăng Cổn trốn ra ngoài thành. Nay xét Tăng Cổn là người có tiếng về chính trị, e Sử cũ chép lầm chăng, nên nay căn cứ vào sách An Nam kỷ yếu của Cao Hùng Trưng mà cải chính lại”.

Nay xin cẩn thận xét từng điểm một:

A. Ba bộ sử Tư TrịToàn ThưViệt Sử Tiêu Án, đều chép nội dung: Tháng 3, quân loạn tại An Nam, Tiết độ sứ Tăng Cổn bỏ thành trốn. Chỉ riêng An Nam kỷ yếu chép: “Tháng 3, mùa xuân. Quân phủ đô hộ nổi loạn. Tiết độ sứ Tăng Cổn phủ dụ được yên”, rồi Cổn ở lại cai trị; sau đó Cương Mục của nước ta lặp lại theo ý đó.

Thiết tưởng lịch sử là một bộ môn thuộc Khoa học xã hội, nên giải quyết theo phương pháp khoa học; cần đánh giá sử liệu một chính xác chừng nào hay chừng đó; chúng ta hãy bắt tay xét về nguồn sử liệu và độ tin cậy của sử liệu:

– Nếu đánh giá nguồn tư liệu thứ tự cao thấp theo mẫu tự A, B, C, D, thì Tư Trị tuy do Tư Mã Quang soạn, nhưng soạn theo lệnh của Vua , do Vua đặt tên sách, đươc dùng tư liệu của triều đình, có giá trị như chính sử; Toàn Thư là bộ chính sử của triều đình nước ta, dùng tư liệu của triều đình, lại tham khảo các bộ sử đời trước của Lê Văn Hưu, Phan Phù Tiên; Việt Sử Tiêu Ándo danh Nho Ngô Thì Sĩ soạn, giá trị tương đối. Gộp lại nguồn tư liệu của sử liệu thứ nhất, do 3 bộ sử cung cấp có thể đáng giá hạng A.

Nguồn tư liệu của sử liệu thứ 2, do Cao Hùng Trưng tác giả An Nam Kỷ Yếu cung cấp, tác giả là tư nhân, vị quan tại tỉnh Quảng Tây vào thế kỷ thứ 17; như vậy có thể xếp ngang hàng với Ngô Thì Sĩ là cùng; còn Cương Mục tự nhận chỉ chép lại mà thôi; như vậy nguồn tư liệu của sử liệu thứ 2 được đánh giá hạng B là cao.

– Đánh về giá độ tin cậy thì sử liệu thứ nhất lấy từ tư liệu của triều đình, như Khởi Cư TrúThực LụcChâu Bản; các Sử quan có trách nhiệm chép lại cho đúng, lại qua nhiều đợt kiểm tra, viết sai Ngự sử có quyền đàn hặc. Có người nghĩ rằng các bộ sử Trung Quốc có thể làm giả; điều đó khỏi lo, vi trong 2 thế kỷ trước 19 và 20 các nước Tây Phương 2 lần chiếm Bắc Kinh, nên các bộ sử Trung Quốc hiện tồn tại trong thư viện của họ, cho dù muốn đánh tráo sử liệu cũng không được. Còn giá trị của nguồn sử liệu thì bộ Tư Trị có giá trị rất cao, danh Nho các thời đều khen, phương pháp viết sử được các nước lân bang bắt chước. Riêng Mao Trạch Đông tự nhận đã đọc 17 lần. Báo chí Trung Quốc thuật lại rằng thuở 2 phe Quốc, Cộng hội nghị tại Tứ Xuyên; trong buổi giải lao, hai lãnh tụ Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông dạo chơi trong hoa viên, trong tay mỗi người đều cầm một quyển sách, họ tình cờ gặp nhau, rồi chìa sách cho nhau xem; thì ra 2 người trong tay đều cầm cuốn Tư Trị!

Riêng bộ Toàn Thư của nước ta, tác giả Ngô Sĩ Liên có bằng chứng tỏ ra tư cách công chính vô ngã (1), quên nỗi buồn bản thân để làm tròn bổn phận người chép sử. Thông thường con người ta “Tốt đẹp phô ra, xấu xa để lại”, nhưng Sử quan họ Ngô vẫn thản nhiên chép vào Toàn Thư lời vua Thánh Tông nhục mạ ông như sau:

Vua dụ bảo Đô ngự sử đài là bọn Ngô Sĩ Liên và Nghiên Nhân Thọ rằng:

“Ta mới coi chính sự, sửa mới đức độ, tuân theo điển cũ của thánh tổ thần tông, nên mới tế giao vào đầu mùa xuân. Các ngươi lại bảo tổ tông tế giao cũng không đáng theo! Các ngươi bảo nước ta đời xưa là hàng phiên bang, thế là các ngươi theo đạo chết, mang lòng không vua. Vả lại, khi Lệ Đức hầu (2) cướp ngôi, Ngô Sĩ Liên chẳng vì hắn trổ tài phong hiến (3) đó sao? Ưu đãi trọng lắm! Nhân Thọ không vì hắn trù hoạch nơi màn trướng đó ư? Ngôi chức cao lắm! Nay Lệ Đức hầu mất nước về tay ta, các ngươi không biết vì ăn lộc mà chết theo hắn, lại đi thờ ta. Nếu không nói ra, trong lòng các ngươi không tự hổ thẹn mà chết ư? Thực là bọn gian thần bán nước!”. Toàn Thư, Bản Kỷ quyển 12, ngày 21 tháng 19 năm Quang Thuận thứ 2 [1462]

Qua các chứng cứ vừa nêu, lại do 3 bộ sử khác nguồn cùng chép nội dung giống nhau. Hơn nữa năm 880 nhân quân Tàu làm loạn bỏ về nước là cơ hội bằng vàng cho Tiên chúa Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa; cũng như ngày 19/8/1945 nhân Nhật đầu hàng Đồng Minh là cơ hội tốt cho Việt Minh khởi nghĩa. Gộp tất cả các điểm vừa nêu ra, chứng tỏ độ tin cậy của sử liệu thứ nhất rất cao, có thể đánh giá vào hạng 1.

Riêng sử liệu thứ 2, chép trong bộ sử tư nhân An Nam Kỷ Yếu, tác giả có thể suy luận thêm bớt theo ý mình, không ai cấm cản; sách viết trải ra qua nhiều lần chép tay rồi mới in, dễ dàng bị “tam sao thất bản” (4), nên chỉ đánh giá hạng 3 thôi.

– Kết quả từ 2 mặt, đánh giá sử liệu thứ nhất thuộc loại A1, sử liệu thứ hai hạng B3; dĩ nhiên phải chọn sử liệu thứ nhất: “Tháng 3, quân loạn tại An Nam, Tiết độ sứ Tăng Cổn bỏ thành trốn; các đạo binh thuộc Ung quản tự động rút về. 安南軍亂,節度使曾袞出城避之,諸道兵戍邕管者往往自歸”

B. Trong phần trích dẫn nêu trên, Cương Mục cũng dùng sử liệu sau đây của An Nam Kỷ Yếu:

“Đến đời Đường Chiêu Tông, năm Cảnh Phúc thứ 1 (892), Chu Toàn Dục mới sang thay Cổn làm tiết độ sứ”

Tương tự sử liệu này,  Trị [quyển 266] cũng có đề cập đến Toàn Dục:

Ngày Mậu Tuất tháng 2 năm Thiên Hựu thứ 2 [17/3/905] cho An Nam tiết độ sứ đồng bình chương sự Chu Toàn Dục làm Thái sư nghĩ hưu. Toàn Dục là anh của Toàn Trung, chất phác vô năng trước lãnh An Nam; Toàn Trung xin cho bãi chức”.

戊戌,以安南節度使、同平章事朱全昱為太師,致仕。全昱,全忠之兄也,戇樸無能,先領安南,全忠自請罷之。

– Xét về phương diện địa lý nhiệm sở An Nam Tiết độ sứ của Chu Toàn Dục tại Quảng Châu [Quảng Đông+Quảng Tây] chứ không phải Giao châu [Bắc Việt+Thanh Hóa+Nghệ Tĩnh]. Lý do Lưu Ẩn là anh của vua Nam Hán Lưu Cung, nhiệm sở tại Quảng Châu; vào năm 908, cũng được phong giống như vậy:

Đời Đường Thiên Hựu năm thứ 2 [905] Lưu Ẩn dược ban chức Tiết độ sứ. Lương Khai Bình năm thứ nhất [907] phong Gia kiệm hiệu thái uý, kiêm Thị trung; Năm thứ 2 [908] Kiêm tĩnh hải quân tiết độ, An Nam đô hộ; năm thứ 3 [909] phong Gia kiệm hiệu thái sư, kiêm Trung thư lệnh, Nam bình vương”.

(天祐二年,拜隱節度使。梁開平元年,加檢校太尉、兼侍中。二年,兼靜海軍節度、安南都護。三年,加檢校太師、兼中書令,封南平王。) Tân Ngũ Đại Sử, Quyển 65, Nam Hán, Thế Gia quyển thứ 5.

– Xét về sự lý, Chu Toàn Dục là anh ruột của Chu Toàn Trung, bấy giờ là quyền thần, vào năm 907 cướp ngôi nhà Đường lập nhà Hậu Lương. Sau khi Toàn Trung lên làm vua nhà Hậu Lương, Toàn Dục thốt lên một câu có vẻ ngạc nhiên, thiếu tôn trọng:

壬戌,王兄全昱聞王將即帝位,謂王曰:「朱三,爾可作天子乎!」(Chu Tam, nhĩ khả tác Thiên Tử hồ!)

Tư Trị quyển 266. Ngày Nhâm Tuất tháng chạp năm Khai Bình thứ nhất [25/1/908], anh của Vương Toàn Dục nghe tin Vương lên làm Vua, bảo Vương rằng:

Ba Chu, mày cũng có thể làm Thiên tử ư!”

Câu nói không dùng đại danh từ như “hiền đệ” đi kèm, chứng tỏ Toàn Dục nói một cách thân tình, khinh thường, coi như em lúc còn nhỏ.

Rồi sau đó mấy tháng vua Hậu Lương Chu Toàn Trung, phong cho anh Chu Toàn Dục tước Vương:

乙酉,立皇兄全昱為廣王

Tư Trị quyển 266. Ngày Ất Dậu tháng 5 năm Khai Bình thứ nhất [22/6/907], lập anh của Vua là Toàn Dục làm Quảng vương”.

Để hiểu rõ hơn về mức độ thân mật giữa hai anh em nhà họ Chu, hãy dùng thời sự Việt Nam hiện đại làm ví dụ:

Cựu Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng cũng có tên là Ba Dũng, vào thời quân chủ Thủ tướng đứng vào hàng Tể tướng. Nếu lúc bấy giờ có người dân nào dám nói:

Ba Dũng, mày cũng làm Tể tướng ư!”

Kẻ đó rất dễ dàng bị mất đầu. Giả sử anh Tể tướng Dũng, thuộc loại mong nhờ cậy em, có thể nói:

Chú Ba tôi được làm Tể tướng, mừng quá!”

Chỉ có người anh thuộc loại có ơn bao bọc ông Dũng thời nhỏ, anh em rất thân mật muốn nói gì thì nói, mới dám thốt lên câu:

Ba Dũng, mày cũng làm Tể tướng ư!”

Trở lại vấn đề, thời Vua Chiêu Tông nhà Đường trao chức Tỉnh hải quân tiết độ sứ An Nam đô hộ cho Chu Toàn Dục, là lúc nhà Vua bị khống chế bởi quyền thần Toàn Trung; ắt phải hiểu anh em Toàn Trung rất thương yêu nhau, nên phải phong chỗ tốt cho Toàn Dục Quảng Châu, chứ không thể phong đất nơi Giao châu xa xôi, từng có quân loạn xãy ra. Lại lúc Toàn Trung đòi cho anh nghĩ hưu, nhà Vua phong Toàn Dục hàm Thái sư là chức quan đứng đầu triều, được hưởng nhiều ân huệ như đất phong, lương hưu trí cao; địa vị này không thể phong cho một Thứ sử Giao châu nghĩ hưu.

***

Qua các chứng cứ vừa trình bày, chúng tôi nghĩ rằng lập luận:

“Năm 880, Tiên chúa Khúc Thừa Dụ, một phú hào có học tại đất Hồng Châu [Hải Dương], lấy sự hiểu biết làm sức mạnh [Knowledge is power], chớp lấy thời cơ, vận động nhân dân vốn sẵn lòng căm ghét giặc ngoại xâm từ ngàn năm, đồng loạt nỗi dậy; đuổi kẻ xâm lăng ra khỏi bờ cõi, giành lại nền độc lập cho nước nhà” là có cơ sở.

______

Chú thích:

  1. Theo giáo lý Phật: vô ngã tức không có cái “ta” vị kỷ, dẹp bỏ mọi tham, sân, si.
  2. Lệ Đức hầu Lạng sơn vương Nghi Dân.
  3. Phong hiến: là chức Ngự sử giữ việc đàn hặc.
  4. Tam sao thất bản: ba lần sao sẽ sai mất nguyên văn.
Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

BIỂN ĐÔNG LẶNG SÓNG & THOÁT TRUNG VỀ VĂN HÓA 

Posted on by huyentamhh

BIỂN ĐÔNG LẶNG SÓNG &
THOÁT TRUNG VỀ VĂN HÓA
TT. Thích Nhật Từ | Giác Hạnh Hoa

thich nhat tuAi bảo đức Phật chỉ nói về tu? Để trả lờicho những quan điểm sai lầm ấy. Bằng những hiểu biết sâu sắc khi thâm nhậpKinh tạng của đức Phật mà TT. Thích Nhật Từ đã có bài pháp thoại với chủ đề: “Biển Đông lặng sóng – Thoát Trung về văn hóa’’.

Thượng tọa đã lấy sự kiện về việc phán quyết của Tòa án Hague về vụ kiện mà Philippines thắng toàn tập Trung Quốc về đường 9 đoạn tại biển Đông mà Trung Quốc vẽ ra.

Với 3 nội dung chính để phân tích cho phần I của chủ đề đó là: (I) Điểm qua dấu mốc của vụ kiện, (II) Tóm tắt về các nội dung phán quyết của tòa án Hague, (III) Chủ trương và phản ứng của Trung Quốc.

Phần I: liên quan đến chính trị và thế giới nhưng nó lại liên hệ rất quan trọng đến học thuyết xã hội Tứ trọng ân mà đức Phật đã dạy. Trong đó có: Ơn cha mẹ – khai sinh sự sống; Ơn thầy cô giáo – người truyền trao tri thức; Ơn tổ quốc – bao gồm nguyên thủquốc gia yêu nước, thương dân và các nghĩa sĩ bảo vệ chủ quyền đất nước; Ơn đồng loại – đã tạo ra những giá trị giao hoán bằng các nghề nghiệp khác nhau.

Trải qua nhiều thế kỷ, người ta cứ nghĩ Phật giáo là tôn giáo tu rục, tu rị, đó là một cái nhìn rất thiển cận và sai lầm về tính đa diện của đạo Phật minh triết và đạo đứcPhật giáo bao gồmthế giới quan, nhân sinh quan, xã hội quan, đạo đức quan, tu tập quan và giải thoát quan. Việc đánh giá sai lầm của một số quần chúng chỉ liên hệ đến một phương diện trong nhóm vừa nêu, đó là: tu tập quan. Còn các phương diện rất quan trọng mà đức Phật đóng góp cho tư tưởng của nhân loại đó là: thế giới quan, nhân sinhquan, xã hội quan, đạo đức quan qua hệ thống triết học đặc biệt của Ngài mà giới kinhdoanh, giới tri thức, giới bình dân ít biết đến. Một phần là do đạo Phật bị ảnh hưởng bởi nghi thức đọc tụng được sử dụng trong các chùa chỉ chọn đọc vài ba kinh tín ngưỡng lại được diễn đạt bằng ngôn ngữ Hán – Việt vốn rất xa lạ với cộng đồng Phật giáo Việt Namtrong nước và nước ngoài.

Phần II: được hệ thống lại ở hơn 30 bài đã giảng trong hơn một thập niên qua mà Thượng tọa đã mạnh dạn chia sẻ ở nhiều góc độ khác nhau, với 6 nội dung chính:i) Nói không với các thần tượng sao Trung Quốc; ii) Bản sắc Việt phải được đề cao trong truyền thông; iii) Độc lập về chữ viếtvăn họcnghi thức và tập tục; iv) Độc lập khỏi triết học của Trung Quốc; v) Độc lập khỏi Trung Quốc về hội họa, điêu khắc, kiến trúc; vi) Độc lập khỏi Trung Quốc về pháp phục.

Như đã nói ở phần I, một trong 4 trọng ơn là: ơn tổ quốc, cho nên khi đất nước lâm nguy, các tu sĩ Phật giáo và các Phật tử không được quyền rửng rưng, vô cảm, thờ ơ, vô tích sự, bàng quanNgày xưa, nhiều Thiền sư Việt Nam đã trở thành quốc sư cố vấn về chính trị, tôn giáotriết họcxã hội cho nhà vua như trong thời đại Lý và Trần. Ngày nay với thể chế độc đảng ở Việt Nam không cho phép làm quốc sư nhưng cho phép các nhà sư làm đại biểu Quốc hội, lập pháp và giám sát bằng tiếng nói chính thức.

Do đó, khi đề cập đến độc lập chủ quyền của Việt Nam về văn hóa, đó không phải là chấp nhất mà Thượng tọa chỉ muốn đề cập đến việc làm đẹp bản sắc văn hóa Việt trong phạm vi tương tác trong khu vực và trên toàn cầu. Đó là cách thể hiện lòng yêu nước về phương diện văn hóaĐức Phật đã có nhiều bài giảng đề cập đến quan điểm chính trị của Ngài về quản trị đất nước, về chuyển luân thánh vương, cai trị đất nước về pháp quyền. Rất tiếc là rất nhiều Phật tử không hề đọc đến những bài kinh này trong Tạng kinh mà lầm tưởng rằng đức Phật chỉ nói về vấn đề tu. Thực ra đề cập đến quản trị đất nước là tu về chính trị và xã hội nó không tách rời với đời sống và nhân sinh. Đó là chủ trương nhập thế rất sáng suốt của đức Phật. Cho nên cần phải nghiên cứu nhiều về Phật giáo để không qui kết các tu sĩ Phật giáo đề cao tinh thần yêu nước khi mà đất nước đang bị lâm nguy bởi những cuộc chiến tranh truyền thông.

Mời quý vị xem thêm một số pháp thoại có nội dung liên quan:

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Blog at WordPress.com.