Tài Liệu Tham Khảo

Lịch Sử Việt Nam Thời Tự Chủ (Phần 17)

Lịch Sử Việt Nam Thời Tự Chủ (Phần 17)

Hồ Bạch Thảo

27-12-2019

Tiếp theo phần 1 — phần 2 — phần 3 — phần 4 — phần 5 — phần 6 —  phần 7 —  phần 8 —  phần 9 —  phần 10 —  phần 11 — phần 12 — phần 13 — phần 14 — phần 15 —  phần 16

17. Vua Lý Thánh Tông [1054-1072]: Ngoại giao, nội trị

Niên Hiệu: Long Thụy Thái Bình: 1054-1058; Chương Thánh Gia Khánh: 1059-1065; Long Chương Thiên Tự: 1066-1067; Thiên Huống Bảo Tượng: 1068; Thần Vũ: 1069-1071

Việc giao thiệp với Trung Quốc đã trình bày ở chương trên, riêng chương này đề cập đến các lân bang về phía tây và nam. Về phía nam, nước Chân Lạp sát nách với Chiêm Thành cho người đến cống:

Mùa xuân, tháng giêng, Lý Thánh Tông Long Thụy Thái Bình năm thứ 3 [1056]. nước Chân Lạp sang cống”. Toàn Thư (1), Bản Kỷ, quyển 3.

Tại miền đông nam xa xôi, có lái buôn Trảo Oa [Java thuộc nước Indonesia], ghé đến dâng ngọc:

Lý Thánh Tông, năm Long Chương Thiên Tự thứ nhất [1066]; lái buôn người nước Trảo Oa dâng ngọc châu dạ quang, trả tiền giá 1 vạn quan”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Về phía tây, các nước Ai Lao, Ngưu Hống (2) đều mang vàng bạc và các vật quí đến cống: “Ngày Đinh Mùi, Lý Thánh Tông Long Chương Thiên Tự năm thứ 2 [1067]. Mùa xuân, tháng 2, các nước Ngưu Hống, Ai Lao dâng vàng bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi và các thứ sản vật địa phương. Lễ cống gồm có vàng, bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Riêng nước Chiêm Thành không chịu thần phục; tuy vào năm 1068 mang voi trắng đến cống, nhưng chẳng bao lâu lại mang quân đến cướp phá nơi biên giới: “Lý Thánh Tông năm Thiên Huống Bảo Tượng thứ nhất [1068]. Chiêm Thành dâng voi trắng, sau lại quấy nhiễu biên giới”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Năm sau Vua thân chinh đi đánh Chiêm Thành, nhưng đánh mãi không được bèn mang quân trở về. Đến nửa đường, được tin Nguyên Phi coi việc nước yên ổn, nhà Vua nhận thấy một người đàn bà còn làm được như vậy; với tấm lòng phục thiện hướng theo điều phải, bèn quay trở lại quyết đánh cho kỳ được; bắt sống Vua Chiêm, mở rộng lãnh thổ đến tận tỉnh Quảng Trị:

Ngày Kỷ Dậu, Lý Thánh Tông năm Thiên Huống Bảo Tượng thứ 2 [1069], Mùa xuân tháng 2, Vua thân đi đánh Chiêm Thành, bắt được Vua nước ấy là Chế Củ và dân chúng 5 vạn người. Trận này Vua đánh Chiêm Thành mãi không được, đem quân về đến châu Cư Liên, nghe tin Nguyên phi giúp việc nội trị, lòng dân cảm hoá hoà hợp. Trong cõi vững vàng, tôn sùng Phật giáo, dân gọi là bà Quan Âm, vua nói:

‘Nguyên Phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc gì hay sao?’

 Bèn quay lại đánh nữa, thắng được.

Mùa hạ, tháng 6 đem quân về. Mùa thu, tháng 7, vua từ Chiêm thành về đến nơi, dâng tù ở Thái Miếu, đổi niên hiệu là Thần Vũ năm thứ 1. Chế Củ xin dâng ba châu Địa Lý [Quảng Bình] (3), Ma Linh [Quảng Trị] (4), Bố Chính [Quảng Bình] (5) để chuộc tội. Vua bằng lòng, tha cho Chế Củ về nước”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Sau trận này Chiêm Thành thần phục, lại sai Sứ sang cống như cũ:

Lý Thánh Tông, Thần Vũ năm thứ 3 [1071] Chiêm Thành sang cống”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Lý Thánh Tông thành công trong việc phạt Tống bình Chiêm là nhờ tổ chức quân đội có qui củ, tỏ ra hữu hiệu:

Lý Thánh Tông năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 1 [1059]. Định hiệu quân, gọi là Ngự Long, Vũ Thắng, Long Dực, Thần Điện, Bổng Thánh, Bảo Thắng, Hùng Lược, Vạn Tiệp đều chia làm tả hữu, thích vào trán ba chữ “Thiên tử quân“. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Lại dựa vào chính sách “Ngụ binh ư nông”, quân lính được cấp ruộng, thời bình làm nông, thời chiến đăng lính; nhờ vậy nhà nước ít tốn kém:

Chế độ binh lính của nhà Lý đại lược theo quân Phủ vệ của nhà Đường, quân Cấm sương của nhà Tống, mỗi tháng lên cơ ngũ một lần, gọi là đi canh, hết hạn canh lại về quê làm ruộng, quan không phải cấp lương, duy có người trưởng cấm quân theo hầu chực tức vệ, được cấp cho 10 bó lúa, 1 tấm vải, cho ăn gọi là đại hòa, cấp cho lúa mạch gọi là chiêm mễ. Không có phí tổn nuôi lính, mà có công hiệu dùng sức lính, cũng là chế độ hay”. Việt Sử Tiêu Án, Ngô Thời Sĩ, trang mạng 51

Sách Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quí Đôn kê cứu tư liệu đời Tống, cho biết quân sự gia Thái Diên Khánh từng dâng binh pháp triều Lý nước Đại Việt cho vua Tống Thần Tông tham khảo, được Vua Tống khen và đem áp dụng:

“Lý Thánh Tông năm Chương thánh gia khánh thứ 1 (1059) Sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn có trích dẫn truyện Thái Diên Khánh nhà Tống: “Diên Khánh từng phỏng theo phép hành quân của An Nam: bộ đội chia ra chín tướng, gồm có các binh chủng như chính binh (6), tay cung tên (7), đoàn người ngựa (8). Mỗi tướng, từ quân bộ đến quân kỵ và khí giới, đều như nhau. Lại chia ra bốn bộ là Tả, Hữu, Tiền, Hậu, gộp lại là 100 đội. Mỗi đội đều có quân trú chiến (9) và quân thác chiến (10). Còn người và ngựa của quân Phiên thì chia riêng làm đội khác, không cho lẫn lộn với quân khác để phòng sự biến loạn, gần đâu thì cho họ lệ thuộc vào đó. Hạng quân già yếu thì cho đóng ở thành trại. Diên Khánh đem binh pháp ấy trình bày tường tận trong bức thư dâng lên vua Tống. Tống Thần Tông (1068-1085) khen là hay”. Binh pháp triều Lý được Trung Quốc phỏng theo là thế đấy. Nhà Lý, phía bắc, phá được châu Ung, châu Liêm, phía nam, bình được Chiêm Thành, Chân Lạp, đánh đâu được đấy, thật là có cớ thế chứ!” Cương Mục, Chính Biên, quyển 3.

Với chính sách an dân, nhà Vua chăm lo cho dân no ấm, khuyến khích việc nông tang, thường ban chiếu nhắc nhở việc canh nông:

Lý Thánh Tông năm Long Thụy Thái Bình thứ 3 [1056]. Mùa hạ, tháng 4, xuống chiếu khuyến nông”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Bấy giờ lương bổng các quan, ngoài việc phát tiền, còn thưởng thêm nhu yếu phẩm lúa, cá, muối:

Lý Thánh Tông năm Long Chương Thiên Tự thứ 2 [1067], cho Viên ngoại lang là Ngụy Trọng Hoà và Đặng Thế Tư làm Đô hộ phủ sĩ sư (11), đổi mười người thư gia (12) làm án ngục lại (13). Cho Trọng Hoà và Thế Tư mỗi người bổng hàng năm là 50 quan tiền, 100 bó lúa và các thứ cá muối v.v… ngục lại mỗi người 20 quan tiền, 100 bó lúa để nuôi đức liêm khiết của họ”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Triều đình lập kho lúa tại các địa phương; gặp năm hạn hán thiên tai, cấp phát cho dân:

Lý Thánh Tông năm Thần Vũ thứ 2 [1070]. Mùa xuân, làm điện Tử Thần. Mùa hạ, tháng 4 đại hạn, phát thóc, và tiền lụa trong kho để chẩn cấp cho dân nghèo”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Về lãnh vực nhân văn, thời Vua Thánh Tông lưu ý đến ca nhạc, du nhập thêm nhạc khúc Chiêm Thành, sai nhạc công ca hát, giúp cho nền âm nhạc nước nhà phong phú hơn:

“Lý Thánh Tông năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 2 [1060]. Tháng 8, phiên dịch nhạc khúc và điệu đánh trống của Chiêm Thành, sai nhạc công ca hát”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Buổi đầu nhà Lý dời đô từ Trường Yên đến Thăng Long là chốn ngàn năm văn vật; cho mở mang cung điện, đặt thêm quan chức trong triều và các địa phương, áo mũ y phục, đến nay lễ nghi đã đi vào nền nếp:

Lý Thánh Tông năm Chương thánh gia khánh thứ 1 (1059) tháng 8, mùa thu. Đặt ra kiểu mẫu triều phục. Nhà vua ngự ở điện Thủy Tinh, sai các quan đội mũ phốc đầu (14) đi giày và bí tất vào chầu. Tục đội mũ phốc đầu là trước từ đấy.

Sách Giao Chỉ di biên (không rõ họ tên người làm sách) chép: An Nam lúc mới dựng nước, mọi việc hãy còn đơn giản sơ sài; đến nhà Lý mới làm ra cung thất. Cung điện thì có điện Thủy Tinh, điện Thiên Quang. Quan trong và quan ngoài thì có những chức như phụ quốc thái uý, gián nghị đại phu, tả hữu ti lang trung, viên ngoại lang, xu mật sứ, kim ngô, lĩnh binh sứ. Lễ nhạc văn vật xem ra cũng đã đầy đủ”. Cương Mục, Chính Biên, quyển 3.

Lúc nhà Vua tuổi 40 vẫn chưa có con trai, một hôm đi kinh lý vùng Bắc Ninh, dân chúng nô nức đến xem, duy có một người con gái vẫn nép bên khóm lan; nhà Vua trông thấy, đưa vào cung, phong làm Ỷ lan phu nhân. Chẳng bao lâu Phu nhân sinh được Hoàng Tử, tức anh quân Lý Nhân Tông sau này. Buổi gặp gỡ Ỷ lan phu nhân, có lẽ mang nặng kỷ niệm trong lòng, nên Vua đổi tên làng quê Phu nhân là Thổ Lỗi thành làng Siêu Loại (15):

Ngày Quý Mão, Lý Thánh Tông năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 5 [1063]. Bấy giờ vua xuân thu đã nhiều, tuổi 40 mươi mà chưa có con trai nối dõi, sai Chi hậu nội nhân Nguyễn Bông làm lễ cầu tự ở chùa Thánh Chúa, sau đó Ỷ Lan phu nhân có mang, sinh hoàng tử Càn Đức tức Nhân Tông, (Tục truyền rằng vua cúng khấn cầu tự chưa thấy hiệu nghiệm, nhân đi chơi khắp các chùa quán, xa giá đi đến đâu, con trai con gái đổ xô đến xem không ngớt, duy có một người con gái hái dâu cứ nép trong bụi cỏ lan. Vua trông thấy, gọi đưa vào cung, được vua yêu, phong làm Ỷ Lan phu nhân”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Việc học trước kia tổ chức trong chùa, nay nhà Vua cho lập văn miếu, tạc tượng các danh Nho, đưa Hoàng tử đến học:

“Lý Thánh Tông năm Thần Vũ thứ 2 [1070], mùa thu, tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối (16), vẽ tượng Thất thập nhị hiền (17), bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến học ở đây”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Về phương diện pháp luật, sửa đổi luật chuộc tiền của triều trước, xét theo tội nặng nhẹ, cho phép mọi người chuộc tiền nhiều hay ít:

Lý Thánh Tông năm Thần Vũ thứ 3 [1071] Định tiền chuộc tội theo thứ bậc khác nhau.

Trước đó, Lý Thái Tông đặt ra pháp lệnh: phàm kẻ phạm tội, nếu là dân mà là người già hay trẻ con, nếu là người họ thân nhà vua mà còn phải để tang nhau từ 9 tháng trở lên, đều được nộp tiền chuộc cả. Đến đây, định lệ lại: phàm người được nộp tiền chuộc tội phải tùy theo tội nặng hay nhẹ mà bắt nộp tiền nhiều hay ít khác nhau”. Cương Mục, Chính Biên, quyển 3.

Tháng giêng năm Thần Vũ thứ 4 [1072] vua Thánh Tông mất tại điện Hội Tiên, Vua Tống bèn sai Sứ đến phụng điếu:

“Trường Biên quyển 231. Năm Hy Ninh thứ 5 [1072]

Ngày Giáp Ngọ tháng 3 [5/4/1072], Ty kinh lược Quảng Nam Tây Lộ tâu Nam bình vương Lý Nhật Tôn [vua Lý Thánh Tông] mất; con là Càn Đức [vua Lý Nhân Tông] nối ngôi. Chiếu ban Chuyển vận sứ Khang Vệ làm Điếu tặng sứ”.

(甲午,廣南西路【一】經略司言南平王李日尊卒,子乾德嗣。詔轉運使康衛為弔贈使。)

Xét ra lời bàn của Sử thần Ngô Sĩ Liên có thể tóm tắt được sự nghiệp vua Lý Thánh Tông, xin ghi lại như sau: “Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Xót thương vì hình ngục, nhân từ với nhân dân, là việc đầu tiên của vương chính. Thánh Tông lo tù nhân trong ngục hoặc có kẻ vô tội mà chết vì đói rét, cấp cho chiếu chăn ăn uống để nuôi sống, lo quan lại giữ việc hình ngục hoặc có kẻ vì nhà nghèo mà nhận tiền đút lót, cấp thêm cho tiền bổng và thức ăn để nhà được giàu đủ. Lo dân thiếu ăn thì xuống chiếu khuyến nông, gặp năm đại hạn thì ban lệnh chẩn cấp người nghèo, trước sau một lòng, đều là thành thực. Huống chi lại tôn sùng đạo học, định rõ chế độ, văn sự thi hành mau chóng bên trong; phía nam bình Chiêm; phía bắc đánh Tống, uy vũ biểu dương hiển hách bên ngoài. Tuy có việc lầm lỗi nhỏ khác cũng vẫn là bậc vua hiền. Hoặc có người bảo là vua nhân nhu có thừa mà cương đoán không đủ, ngu ý chưa cho là phải”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.

Chú Thích:

  1. Toàn ThưĐại Việt Sử Ký Toàn Thư, tác giả Ngô Sĩ Liên.

2. Bản dịch Toàn Thư chú: Ngưu Hống: tộc người Thái ở vùng Sơn La, có thể là người Thái Đen. Ngưu Hống có thể là phiên âm tên Ngù Háu trong tiếng Thái, có nghĩa là “Rắn hổ mang”. Theo Quắm tố mướu (truyện kể bản Mường) của người Thái Đen thì chúa Lò Rẹt ở Mường Muổi (khoảng thế kỷ XIV) lấy hiệu là Ngù Háu. Nhưng Ngù Háu có thể là hình tượng của tộc Thái Đen từ trước.

3. Địa Lý: Xưa là đất Việt Thường; đời Hán, thuộc quận Nhật Nam; đời Tống, là châu Địa Lý thuộc Chiêm Thành; nhà Lý đổi là Lâm Bình, nhà Trần đổi là Tân Bình; khi thuộc Minh vẫn để tên như thế; nhà Lê đổi là Tiên Bình. Bấy giờ là đất phủ Quảng Ninh thuộc tỉnh Quảng Bình. (Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, viết tắt Cương Mục, Chính Biên, quyển 3).

4. Ma Linh: Xưa là đất Việt Thường; đời Hán, thuộc quận Nhật Nam; đời Tống, là châu Ma Linh thuộc Chiêm Thành; nhà Lý đổi là Minh Linh; nhà Trần vẫn để tên như thế; thuộc Minh, đổi là châu Nam Linh; nhà Lê đặt làm huyện. Bây giờ là đất đai huyện Minh Linh và Do Linh thuộc tỉnh Quảng Trị. (Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, viết tắt Cương Mục, Chính Biên, quyển 3).

5. Bố Chính: Xưa là châu Bố Chính; đời Hán là đất huyện Thọ Lãnh thuộc quận Nhật Nam; đời Tống là châu Bố Chính thuộc Chiêm Thành; nhà Lý vẫn để tên như thế; thuộc Minh đổi là châu Trấn Bình; nhà Lê chia làm hai châu Nội Bố Chính và Ngoại Bố Chính. Bây giờ là đất ba huyện Bình Chính, Minh Chính và Bố Trạch thuộc tỉnh Quảng Bình. (Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, viết tắt Cương Mục, Chính Biên, quyển 3).

6. Chính binh: Quân chính quy.

7. Cung tên: Quân chuyên bắn cung.

8. Đoàn người ngựa: Đoàn quân kỵ.

9. Quân trú chiến: Chiến đấu trong khi đóng giữ.

10. Quân thác chiến: Chiến đấu trong khi tấn công.

11. Sĩ sư: tên chức quan coi việc hình pháp ở Đô hộ phủ (Đô hộ phủ vốn là tên gọi cơ quan cai trị cấp châu đời Đường, các triều đình Đinh, Lê, Lý vẫn giữ tên Đô Hộ Phủ, nhưng chỉ chuyên việc hình pháp) [Bản dịch Toàn Thư chú].

12. Thư gia: Theo Lê Quý Đôn, thư gia tức là ty lại (Kiến Văn Tiểu Lục, bản dịch, Nxb Sử học, 1962, tr. 129 – 130), có thể cũng như tên gọi “thư lại” đời sau. Phan Huy Chú ghi tên các thư gia như: Nội hỏa thư gia, Ngự khố thư gia, Chi hậu thư gia, Nội thư gia, Lệnh thư gia v.v … (Lịch triều hiến chương loại chí, bản dịch, T.2, Nxb Sử học, 1962, tr. 6) [Bản dịch Toàn Thư chú].

13. Án ngục lại: người giúp việc xét hỏi về công việc hình án. [Bản dịch Toàn Thư chú]

14. Phốc đầu: tên mũ, tức là mũ cánh chuồn, có hai dải cánh giương ra hai bên.

15. Làng Siêu Loại: nay thuộc địa phận huyện Thuận Thành tỉnh Hà Bắc. ( Chú thích của bản dịch Toàn Thư.)

16. Tứ phối: chỉ Nhan Uyên, Tăng Sâm, Tử Tư, Mạnh Tử là bốn học trò của Khổng Tử được thờ với thầy ở Văn Miếu.( Bản dịch Toàn Thư chú)

17. Thất thập nhị hiền: 72 học trò giỏi của Khổng Tử. (Bản dịch Toàn Thư chú)

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Thành duy thức luận – chuyên đề IV: Nhân – Duyên – Quả

Thành duy thức luận – chuyên đề IV: Nhân – Duyên – Quả

02/12/20191:02 SA(Xem: 2064)
Thành duy thức luận - chuyên đề IV: Nhân - Duyên - Quả
THÀNH DUY THỨC LUẬN
CHUYÊN ĐỀ IV: NHÂN – DUYÊN – QUẢ
Thích Phước Nguyên chủ giảng
**************

thich phuoc nguyenGiảng Tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam – Cơ Sở I. Tv. Vạn Hạnh
Giáo Thọ Sư: Đ.Đ. Thích Phước Nguyên

Dẫn:
Thành duy thức luận, trình bày hệ thống vận hành của các pháp theo một định lý: nhân – duyên – quả, trong đó thuyết minh về 4 duyên, 10 nhân, 5 quả. Trong đây: Skt hetu: nhân, tức nguyên nhân; Skt pratyayatā: duyên tính, tính chất làm điều kiện hỗ tương; tức những năng lực tương tác, hỗ trợ và kích khởi; Skt phala: quả, tức kết quả. Nguyên lý này tạo chỉnh thể hoạt động và tiến hành hoàn chỉnh các các pháp.

 

Kì trước:
Chuyên đề III. LỘ TRÌNH TU TẬP
DUY THỨC TÔNG ĐẠI THỪA BÁCH PHÁP
DUY THỨC HỌC: TÂM – Ý  – THỨC

bài đọc thêm:
Thành Duy Thức Luận (HT. Thích Thiện Siêu)
Duy Thức Học (Thích Thiện Hoa)
Dẫn vào duy thức học (Tuệ Sỹ)
Thành Duy Thức Giảng Luận (Thích Phước Nguyên) MP3

Tạo bài viết

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

PHẬT PHÁP GIỮA ĐỜI THƯỜNG 5

PHẬT PHÁP GIỮA ĐỜI THƯỜNG 5
Cao Thanh Bình
Nhà xuất bản Hồng Đức

Phật Pháp Giữa Đời Thường 5 cover (1)

 

LỜI TỰA

Đức Phật từng dạy, chúng sinh còn trong lục đạo luân hồi thì phải chịu nhiều nỗi khổ. Sướng vui trên đời thường ngắn ngủi, còn lại không ai tránh được quy luật Sanh, Lão, Bệnh, Tử. Không chỉ thế, ngày ngày ta còn đối mặt với nhiều nỗi khổ khác như gặp điều mình không ưa thích, sống cách xa người mình yêu thương, mong cầu nhiều nhưng không đạt… Thực hiếm ai được may mắn vẹn toàn, vì thông thường người được cái này lại mất cái kia.

Sự khác nhau giữa người tu hành và người chưa tu hành chính là ở chỗ cách nhìn nhận và thái độ khi đối mặt với khổ đau. Thường thì sẽ có người gục ngã, có người oán hận, có người chạy trốn. Nhưng với người đã học và hành theo lời Phật dạy, họ quán chiếu được khổ đau hay hạnh phúc cũng đều là giả tạm. Nhờ vậy, họ ngày ngày dạo chơi trong cuộc đời, dạo chơi trong bể khổ mà tâm vẫn an lạc.

Khổ trong tâm mà ra nên người tu hành luôn quay vào trong tâm để quan sát, để hiểu, để bao dung và để buông bỏ. Còn chấp thì còn khổ, buông bỏ là giải thoát. Khi thấy có thì nó có, khi thấy không thì không, đơn giản chỉ vậy thôi.

TP. HCM, 2019

MỤC LỤC

Bài 1: Những Giấc Mơ
Bài 2: Rồi Một Ngày Nó Nhận Ra

Bài 3: Trên Đường Ta Đi
Bài 4: Sống Thật
Bài 5: Mỗi Ngày Một Ngày Vui
Bài 6: Đừng Quên Làm Điều Mình Muốn
Bài 7: Có Phải Thừa Còn Hơn Thiếu?
Bài 8: Một Nửa Sự Thật Không Phải Là Sự Thật
Bài 9: 24 Giờ
Bài 10: Biết Ơn
Bài 11: Khoan Dung
Bài 12: Cảm Thông
Bài 13: Than Thở
Bài 14: Tự Ái
Bài 15: Im Lặng Đáng Sợ
Bài 16: Thương Nhau Đừng Làm Khó Cho Nhau …
Bài 17: Vô Cảm
Bài 18: Đừng Giữ Kín Khó Khăn
Bài 19: Cô Độc
Bài 20: Chắc Gì Ta Đã Hiểu
Bài 21: Hài Lòng Với Chính Mình?
Bài 22: Không Có Nghiệp Nào Là Nhỏ
Bài 23: Không Phải Tại Trời Bất Công
Bài 24: Chớ Vay Khi Chưa Cần Thiết
Bài 25: Nhẹ Nhàng Thanh Thản
Bài 26: Thói Quen Trói Buộc
Bài 27: Làm Phúc Là Bón Phân Cho Đất
Bài 28: Chắt Chiu Phước Báu
Bài 29: Thiểu DụcTri Túc
Bài 30: Bóng Đêm Và Ánh Sáng
Bài 31: Bóng Mát Theo Ta
Bài 32: Ba Người Trong Nhà Lửa
Bài 33: Học Giả Và Hành Giả
Bài 34: Hý Luận
Bài 35: Hít VàoThở Ra
Bài 36: Yêu Thương
Bài 37: Nước Mắt Chảy Xuôi
Bài 38: Trong Con Có Ba Có Mẹ
Bài 39: Quê Nội
Bài 40: Ký Ức
Bài 41: Mùa Xuân
Bài 42: Ngồi Thiền Và Câu Bát Nhã
Bài 43: Cảnh Giác Với Nội Ma
Bài 44: Đức Phật Hàng Phục Ma Vương
Bài 45: Vạn Pháp Giai Không
Bài 46: Vô Ngã
Bài 47: Vô Thường
Bài 48: Thọ Là Khổ
Bài 49: Tam Pháp Ấn
Bài 50: Ngày Cuối Năm

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Thành duy thức luận – chuyên đề III. Lộ trình tu tập

Thành duy thức luận – chuyên đề III. Lộ trình tu tập

15/10/20194:23 CH(Xem: 2751)
Thành duy thức luận - chuyên đề III. Lộ trình tu tập

“>

THÀNH DUY THỨC LUẬN
CHUYÊN ĐỀ III. LỘ TRÌNH TU TẬP
Thích Phước Nguyên giảng ngày 13/10/2019 tại Học viện Phật giáo Việt Nam, cơ sở I. VẠN HẠNH

Thành duy thức luận mô tả sự tu tập trải qua năm giai đoạn: tư lươnggia hànhthông đạttu tậpcứu cánhĐối chiếu với năm lớp Bồ-đề được ngài Long Thọ đề cập trong Đại trí độ luận. Từ đó phác hoa một tầm nhìn chung về các hệ thống Thánh điển Phật giáo.

blank

KỲ trước:
Thành duy thức luận – chuyên đề II. Tâm Ý Thức

Đọc thêm:
Thành Duy Thức Luận (HT. Thích Thiện Siêu)
Duy Thức Học (Thích Thiện Hoa)
Duy Biểu Học (Thích Nhất Hạnh)
Dẫn vào duy thức học (Tuệ Sỹ)
Thành Duy Thức Giảng Luận (Thích Phước Nguyên) MP3

Tạo bài viết

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã có buổi thuyết giảng Phật Pháp cho nhóm Việt Nam và Indonesia. Phần cuối của chương trình là phần câu hỏi và trả lời.
Địa điểm: Dinh Thự Đức Đạt Lai Lạt Ma, Dharamsala, HP, Ấn độ
Ngày: ngày 9 tháng 10, 2019
Thời lượng: 1 tiếng 4 phút
Ngôn ngữ: tiếng Việt (Sư cô Nhật Hạnh phiên dịch trực tiếp từ Đức Đạt Lai Lạt Ma)

“>

25/10/2019(Xem: 2223)

Trong Duy thức tông, phân loại các pháp theo nguyên tắc "ngũ vị bách pháp", tức năm hạng mục gồm 100 pháp. Theo trình tự: I. Tâm pháp; II. Tâm sở hữu pháp; III. Sắc pháp; IV. Tâm bất tương ưng hành pháp; V. Vô vi.

“>

20/10/2019(Xem: 2094)

Nhân vật chính trong chương trình là NSND Lan Hương cùng người bạn đời NSƯT Đỗ Kỷ. Cả hai đều là nghệ sĩ gạo cội và là cặp vợ chồng nghệ sĩ nổi tiếng hạnh phúc của điện ảnh Việt. Cả hai đến với nhau bởi một chữ duyên khi cùng học lớp đào tạo diễn viên khóa 1 của Nhà hát Kịch Việt Nam. Hơn 40 năm là bạn tâm giao, 30 năm là bạn đời, với sự hiểu biết và thấu hiểu lẫn nhau, cả hai vợ chồng đã vun vén nên một gia đình đầy yêu thương và mang đậm giá trị truyền thống gia đình Việt.

“>

14/10/2019(Xem: 1865)

三點如星像
橫鉤似月斜
披毛從此得
做佛也由他
Tam điểm như tinh tượng,
Hoành câu tợ nguyệt tà.
Phi mao tùng thử đắc,
Tố Phật dã do tha”.

“>

11/10/2019(Xem: 1806)

“Bộ luận Thành Duy Thức này là bộ luận Cương yếu của môn Duy thức học, trình bày lý Duy thức theo luận pháp Nhân minh với những từ ngữ mới lạ, giản ước, nghĩa lý khúc chiết, ý kiến của các Luận sư đan xen chằng chịt, hỏi đáp không phân ranh giới rõ ràng, có khi câu hỏi ẩn trong câu đáp, dùng nhiều đại danh từ bỉ, thử, do dó thật khó lòng hiểu cho chu đáo. Đúng như lời tán thán của luận Duy thức xu yếu: “Vạn tượng hàm ư nhất tự, thiên huấn giảng ư nhất ngôn“. (*Trích lời tựa THÀNH DUY THỨC LUẬN của cố Trưởng lão THÍCH THIỆN SIÊU)

“>

12/08/2019(Xem: 3702)

Đại học Cornell và Harvard đã chứng minh lượng thịt lí tưởng nên tiêu thụ để đạt được chế độ ăn khỏe mạnh là hoàn toàn 0! Nước sạch được ví như dầu mỏ mới, rồi sớm muộn các quốc gia cũng gây chiến vì nước. Những tầng đất giữ nước từng mất hàng triệu năm để hình thành nay đang dần cạn kiệt; Vậy mà cần đến 50 nghìn lít nước mới có thể sản xuất được một kí thịt bò. Mỗi ngày có 1 tỷ người khổ sở vì đói ăn, 20 triệu người có thể chết vì thiếu dinh dưỡng.

“>

09/08/2019(Xem: 15780)

Đối với những người Phật giáo, ngoài việc giữ giới cấm sát sinh như giới luật nhà Phật qui định, ăn chay còn là một phương thức tu tập hằng ngày, gieo trồng hạt giống từ bi và phát triển tâm từ bi đến với muôn loài chúng sinh từ gần đến xa, từ lớn đến nhỏ..(KInh Từ Bi)

“>

09/08/2019(Xem: 4270)

Trong bài viết này tổng hợp các bài giảng, pháp thoại, bài dạy, sách nói của Thầy Thích Phước Nguyên về các vấn đề Phật học, về kinh Kim Cang, Phổ Môn, Duy thức học v.v…

“>

01/08/2019(Xem: 2949)

Tôi đoán là nhờ kết quả của toàn cầu hóa mà bạn có thể tìm thấy các lon Coca-Cola trên đỉnh Everest và nhà sư Phật giáo tại Monterey. (Cười) Và vì vậy tôi chỉ đến đây hai ngày trước, từ Himalayas theo lời mời của các bạn. Vì vậy, tôi cũng muốn mời các bạn, chỉ một lúc thôi, đến Himalayas. Và để xem nơi mà một thiền giả, như tôi, người đã bắt đầu sự nghiệp là một nhà sinh học phân tử tại Viện Pasteur, và đã tìm thấy con đường của mình ở vùng núi tuyết.

“>

25/07/2019(Xem: 4094)

Trong Cuộc Gặp Gỡ Tại Dinh Thự Của Ngài Ở Dharamsala, Hp, Ấn Độ Vào Ngày 12 Tháng 7 Năm 2019.. Sư Cô Nhật Hạnh chuyển ăm tiếng Việt

“>

19/07/2019(Xem: 5042)

Phim cực kỳ hay và có những khi Liên với mấy đứa em Liên (em gái và em rể) phải rơi nước mắt. Thoạt tiên, Liên coi toàn bộ phim có thuyết minh. Sau đó, do cảm thấy chưa hiểu rõ thuyết minh, và cũng vì bộ phim quá hay, Liên đã coi lại toàn bộ phim 54 tập có phụ đề. Mới nhận ra là phụ đề thì hay hơn, dịch rõ hơn thuyết minh. Phim hay đến nỗi, mặc dù Liên coi lại lần thứ nhì, còn cảm động hơn và rơi nước mắt còn nhiều hơn lần coi thứ nhất.

“>

10/07/2019(Xem: 67632)

Nhạc sĩ Phạm Duy là một thiên tài. Rất hiếm hoi để có một tài năng như thế. Tôi đã nghe nhạc Phạm Duy từ thời mới lớn, qua nhiều thể loại nhạc, phần lớn thời xa xưa là nghe qua các làn sóng phát thanh tại Sài Gòn, và rồi nghe qua băng Cassette – đó là những năm chưa có máy truyền hình màu, và dĩ nhiên là rất xa với kỷ nguyên Internet bây giờ.

“>

10/07/2019(Xem: 4419)

Sau khi nói sơ qua về lịch sử Tây Tạng bị Trung Quốc chiếm giữ, TT. Nhật Từ có tiết lộ đến việc Trung Quốc bắt ép chính quyền Việt Nam nói chung và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam cũng như chính quyền Thái Lan nói riêng không cho phép Việt Nam tổ chức Đại lễ Phật Đản Liên Hợp quốc Vesak năm 2019 tại Hà Nội Việt Nam (Phút thứ 4.15)…

“>

09/07/2019(Xem: 11300)

Buổi sáng hôm nay, ở đây tổ chức ngày lễ sinh nhật của tôi, tôi đã nói …
với những người bạn của tôi, đã cùng tham dự với chúng tôi,
những người mà thật sự quan tâm đến ngày sinh nhật của tôi,
và, họ cũng mong muốn và nguyện cầu
cho tôi được sống dài lâu …
Vì thế, tôi đã nói rằng, quà tặng cho sinh nhật của tôi có ý nghĩa nhất là:
Hãy làm ơn, giữ gìn tâm, và trái tim của quý vị từ bi, nhiều hơn trước.
Ở một mức độ tâm linh nào đó,
Hãy chân thành, và hãy thiết tha, quan tâm đến hạnh phúc của người khác.

“>

06/07/2019(Xem: 3135)

Bài hát “Độ Ta Không Độ Nàng” được chuyển lời ca cũng như bối cảnh bài ca thành “Độ Ta Độ Nàng Độ Khắp Thế Gian” do ca sĩ Võ Hạ Trâm trình bày. Độ Ta, Độ Nàng, Độ khắp thế gian là một câu chuyện ngắn có bối cảnh: Đó là trước kia có một vị Quận Chúa xinh đẹp, nhà của nàng sống ở gần ngôi chùa, lúc nhỏ theo cha đến chùa lễ Phật, nên cô đã quen biết với một Tiểu Hòa Thượng suốt ngày gõ mõ tụng kinh ở trong sân chùa.

“>

22/06/2019(Xem: 10698)

Video clip: Đời Ta Từ Nay Không Lụy Sầu |
Lời việt: Thích Nhật Từ |
Ca sĩ: Quách Tuấn Du |
Phát sóng lúc 15:40, ngày 15-6-2019 |
Đây là ca khúc cover lại theo đúng tinh thần Phật giáo. Kính mời quý đạo hữu theo dõi, chia sẻ và sử dụng lời ca khúc này như là một trách nhiệm hộ trì, xiểng dương Chánh pháp.

“>

15/06/2019(Xem: 4427)

Trả lời phỏng vấn của BTV Kiều Giang, tôi (Thích Nhật Từ) khẳng định rằng: "Đến ngày 13-4-19, nhạc khúc ‘Độ ta không độ nàng’ có hơn 60 lượt triệu view ở Việt Nam, chưa kể hàng triệu view ở Trung Quốc, đã tạo hình ảnh quá tiêu cực, quá sai lầm, quá ảm đạm, quá bi quan, chán chường và tuyệt vọng của một tu sĩ mới tu (tiểu tăng, 小僧) đã lỡ rơi vào cõi yêu đương không lối thoát, đến độ phải giết hoàng tử tạo ra cái chết tự tử của người mình yêu là quận chúa bằng một lưỡi kiếm.

Chuyện ngôn tình này rõ ràng là không có thật, chỉ là chuyện hư cấu mà thôi nhưng đã để lại các tác hại ghê gớm đối với lý tưởng đi tu của các Tăng sĩ Phật giáo

“>

14/06/2019(Xem: 12481)

Pháp Thoại với Hòa Thượng Viên Minh tại Chùa Tường Vân – Lowell, MA (30/5/2019)
Pháp Đàm với Hòa Thượng Viên Minh tại Massachusetts (31/5/2019)

“>

03/06/2019(Xem: 3780)

Trong buổi giao lưu ngày 21 tháng 5 năm 2019 Ngài đã từ bi hướng dẫn cho Đại chúng thực hiện một nghi thức về “Phát khởi Bồ Đề Tâm”. Thời lượng của ngày 20 là 1 tiếng 20 phút và gày 21-5-2019 là 57 phút 48 giây.
Ngôn ngữ: Tiếng Việt

“>

02/06/2019(Xem: 7516)

Nhân dịp tưởng niệm 56 năm Bồ tát Thích Quảng Đức tự thiêu, mời quý độc giả xem lại 3 video clips: (1) Trái tim Bồ Tát Thích Quảng Đức hiện ở đâu, (2) giây phút diễn ra lúc Bồ tát Thích Quảng Đức tự thiêu (VOA) và (3) cuộc phỏng vấn Hòa thượng Thích Tâm Châu, người lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam lúc bấy giờ.

“>

24/05/2019(Xem: 2807)

Trong niềm hân hoan đón mừng ngày Đức Phật đản sanh, Đại lễ Phật Đản năm 2019 đã chính thức diễn ra tại Việt Nam Quốc Tự, TP. Hồ Chí Minh, Chùa Từ Đàm, Cố đô Huế và Chùa Bằng cũng như Trung Tâm Văn Hóa Thủ Đô Hà Nội ngày Rằm tháng 4 âm lịch tức ngày 19-5-2019

“>

19/05/2019(Xem: 5176)

Ba buổi pháp thoại của Hòa thượng Viên Minh Sư trưởng Tổ đình Bửu Long, Việt Nam tại Chùa Pháp Vân và Vô Môn Thiền Tự

“>

14/05/2019(Xem: 2195)

Toàn cảnh Đại Lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc Vesak 2019 tại Việt Nam gồm có:
1. Giới thiệu về Đại Lễ Phật Đản LHQ Vesak 2019
2. Lễ khai mạc
3. Giao lưu biểu diễn văn nghệ quốc tế mừng Đại Lễ Phật Đản LHQ Vesak 2019
3. Pháo hoa mừng Phật Đản
4. Đêm hoa đăng cầu nguyện hòa bình
5. Lễ bế mạc

“>

14/05/2019(Xem: 6168)

Chúng ta đều biết đến ngôi đền Phật giáo lớn nhất thế giới là Borobudur ở Inđônêxia được khám phá trong vùng rừng rậm của đảo Java vào đầu thế kỷ XIX và ngày nay đã hồi sinh để trở thành một nơi chiêm bái và một thắng cảnh du lịch trong lòng một quốc gia Hồi giáo. Tuy nhiên có lẽ ít ai biết về di sản tuyệt vời khác của Phật giáo là Ajanta cũng đã được khám phá một cách thật tình cờ vào đầu thế kỷ XIX để ngày nay trở thành một nơi hành hương tại Ấn độ, nơi mà Phật giáo đã phát sinh và đã từng biến mất. (Xem video và bài viết của Hoang Phong)

“>

10/04/2019(Xem: 6108)

Để phân định đâu là Chánh đâu là Tà, đâu là Pháp, đâu là Phi Pháp cần có những nguyên lý đặc thù, trong kinh Phật có ba dấu ấn hay khuôn dấu để kiểm nghiệm những điều này, được Phật dạy trong kinh Pháp ấn. Vui thay chúng ta được mở lớn con đường.

“>

27/03/2019(Xem: 5706)

Câu 1: Trên các phương tiện thông tin đại chúng, có trích dẫn clip của một vị Chủ trì 1 ngôi chùa nọ, khẳng định: Pháp giải oan gia trái chủ là chính pháp, đúng theo lời Phật dạy về Tứ diệu đế và dẫn dắt hàng loạt các bài kinh trong kinh điển Nikaya. Thầy có thể chia sẻ quan điểm của thầy về vấn đề trên không ạ?

“>

25/03/2019(Xem: 15267)

Thế gian vô thường, thể chế tạm bợ, tự tính bốn đại: rỗng không, khổ não. Năm ấm vô ngã, sinh diệt biến đổi, lường gạt hư dối không có chủ thể. Tâm là nguồn ác; thân là đầm tội, chiêm nghiệm như thế, thoát dần sinh tử.

“>

20/03/2019(Xem: 3312)

Bản chất của cuộc sống, của cõi luân hồi là vô thường. Chúng ta thường không ý thức được về điều này bởi luôn mải mê với vô số ham muốn, tham vọng, hạnh phúc và khổ đau… để chúng cuốn trôi chúng ta qua hết tháng ngày như những dòng thác lũ. Hãy tạm dừng một chút trên hành trình vội vã của mình để lắng tâm tư duy và quán niệm rằng trên đời này, chẳng có gì không thay đổi, chẳng có gì vĩnh viễn thường hằng, và hãy ý thức được kiếp người mong manh ngắn ngủi, để chúng ta biết trân trọng hơn và sử dụng cuộc đời mình có ý nghĩa hơn.

“>

11/03/2019(Xem: 10937)

Niết bàn là khái niệm thể hiện triết lý độc đáo về giải thoát của Phật giáo. Đây là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, giải thoát khỏi mọi đau khổ của cuộc đời. Trạng thái này có thể đạt được khi còn đang sống (Hữu dư Niết bàn) hoặc khi đã qua đời (Vô dư Niết bàn).
Phật giáo Nam Truyền hướng tới Vô dư Niết bàn – một Niết bàn tịch diệt, từ bỏ mọi thú vui trần thế. Phật giáo Bắc Truyền hướng tới Hữu dư Niết bàn – một Niết bàn nhân gian, nhập thế, dấn thân vào xã hội và hoạt động cùng những buồn vui nhân thế. Quan niệm này đã mang lại một sức hấp dẫn, sức sống mới cho Phật giáo, đặc biệt là trong xã hội hiện đại.Xin mời quý độc giả xem và nghe thầy Nhật Từ thuyết giảng nhân dịp kỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca Niết Bàn sắp đến.

“>

11/03/2019(Xem: 7600)

Tịnh độ công thông, dẫu phát nguyện sinh về thế giới Tịnh độ của đức Phật A-di-đà, nhưng được nghe hay niệm danh hiệu của đức Dược Sư thì ngài vẫn dẫn đạo cho về Thế giới Tịnh độ ấy, nên bản nguyện Tịnh độ không có phân biệt cao thấp, đông tây, đồng đẳng không khác

“>

07/03/2019(Xem: 1998)

Video: Jetsunma Tenzin Palmo — “Tại Sao Học Phật Pháp” Xin bấm vào ký hiệu tròn như cái hoa (Settings) ở bên mặt, phía dưới màn hình, rồi bấm chữ “Subtitles/CC” và chọn ngôn ngữ "Vietnamese" để xem phụ đề tiếng Việt.

“>

04/03/2019(Xem: 2896)

Sách nói: Kinh Kim cương Phạn bản Tân dịch (vajracchedikāprajñāpāramitā, https://youtu.be/nOBdrpmEBYM) và Phẩm Phổ Môn Phạn bản tân dịch (https://youtu.be/uJZbG6V2-rs)

“>

28/02/2019(Xem: 2958)

Các video sau đều có mục lục (ngoại trừ các bài giảng lẻ), hầu hết có kèm theo thời điểm lúc bắt đầu giảng các mục để người nghe có thể dễ dàng theo dõi. Ngoài ra nếu vô tình nghe một đoạn bất kỳ cũng có thể biết được HT đang giảng tới mục nào vì tên mục đó có ghi phía dưới màn hình.

“>

20/02/2019(Xem: 5904)

Tổ chức tại Hí viện Saigon Performing Arts Center (16149 Brookhurst St. Fountain Valley, CA 92708, từ 18 giờ đến 22 giờ 30) với sự góp mặt của các ca sĩ Nguyên Khang, Ngọc Hạ, Diễm Liên, Thiên Tôn, Quỳnh Vy.

“>

20/02/2019(Xem: 2379)

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói từ nơi cư trú của Ngài ở Dharamsala, Ấn Độ, về hy vọng và ước mơ của Ngài để vinh danh lễ kỷ niệm 50 năm bài phát biểu "Tôi có một giấc mơ" của Martin Luther King Ngày 28 tháng 8 năm 2013.
Xin bấm vào ký hiệu tròn như cái hoa (Settings) ở bên mặt, phía dưới màn hình, rồi bấm chữ “Subtitles/CC” và chọn ngôn ngữ "Vietnamese" để xem phụ đề tiếng Việt.

“>

08/02/2019(Xem: 4230)

Trong quyển "Mê tín, chánh tín", HT.Thích Thanh Từ có nói: “Lệ cúng sao hạn, thật là lạc hậu lỗi thời, sao là những hành tinh cách xa chúng ta bao nhiêu ngàn cây số. Nó là cái gì mà chúng ta phải cúng! Tục lệ các chùa quê, vào ngày mùng chín tháng Giêng là cúng sao Hội. Người Phật tử nào không gửi tên cúng sao, xem như năm ấy không được bảo đảm an ninh. Song người chủ cúng sao cho quý vị, có bảo đảm an ninh chưa? Có lẽ quý vị ấy quên ghi tên mình trong bài sớ cúng sao chớ gì? Thật là vô lý, đạo lý nhân quả đức Phật dạy rành rành trong kinh, mà người ta bất chấp

“>

02/02/2019(Xem: 11869)

Bộ phim chuyển tải những vấn đề căn bản và quan trọng của Phật và Thánh chúng suốt 45 năm hoằng pháp nhằm ôn lại khái quát lịch sử cho Phật tử, vừa tôn vinh công đức của đức Thế Tôn, qua đó là tấm gương cho mọi Phật tử noi theo và giúp cho những ai muốn bước đầu học Phật.

Mỗi tập có thời lượng dài 90 phút kể về cuộc đời đức Phật Thích Ca từ giai đoạn Ngài thành đạo, hoằng pháp và giáo hóa chúng sinh đến khi nhập Niết bàn. Trong đó sẽ nêu bật vai trò và cuộc đời của 10 vị đại đệ tử của đức Phật trong

“>

05/01/2019(Xem: 34423)

Học thuyết đồng nhất (nhận dạng) tâm (trí/ý thức) và não (The Mind/Brain Identity Theory) cho rằng trạng thái tinh thần là trạng thái não, quá trình não bộ đồng nhất với các trạng thái của tâm ý. Lý thuyết này được một số nhà Duy vật thuần túy ủng hộ. Khi người ta nói “cô ấy có tâm trí tốt, hay cô ấy có bộ óc tốt” là để thay thế cho nhau.

“>

07/12/2018(Xem: 5507)

Các bài thuyết giảng về ăn chay của TT. Thích Nhật Từ

“>

25/11/2018(Xem: 5732)

Tin từ chính quyền thành phố Hà nội cho hay “Hà Nội dự kiến cấm bán thịt chó vì sức khỏe cộng đồng cũng như nếp sốngvăn minh của người dân thủ đô trong mắt du khách quốc tế”. Tin này được đại đa số người dân trong và ngoài nước đồng tình. Dưới đây là một video clip với tựa đề vì sao không ăn thịt chó do TT. Thích Nhật Từ chia sẻ cùng với Phật tử:

“>

20/11/2018(Xem: 10327)

Trong bài nói chuyện đăng trên youtube của Hòa thượng Thích Thông Lai có nói sẽ ngăn chặn việc xây chùa Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ và tuyên bố sẽ tuyên chiến với thầy. Thầy nghĩ sao về việc này?

“>

16/11/2018(Xem: 13453)

Tôi là Tăng sĩ hướng đạo cho Phật tử, họ có những thắc mắc gì trong đời sống tu tập đến hỏi tôi, tôi theo đúng chánh pháp mà trả lời. Đức Phật dạy người xuất gia không được nói sai sự thật, sự thật như thế nào nói đúng như thế đó, không thêm bớt, không xuyên tạc, không vu khống,… Tôi cũng không phát ngôn những điều trái với quy định pháp luật. Trong Hiến pháp năm 2013 của nước Việt Nam, điều 25 có ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

“>

01/11/2018(Xem: 4243)

Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.

“>

01/11/2018(Xem: 20967)

Gồm Quý vị chuyên gia về sức khỏe; BS. Đỗ Hồng Ngọc, BS. Nguyễn Ý Đức, BS. Lương Lễ Hoàng và quý Thượng Tọa Thích Nhật Từ, Thích Minh Thành và Đại Đức giảng sư Thích Thiện Thuận.

“>

27/10/2018(Xem: 6109)

Kim Sơn Bảo Thắng Tự tọa lạc gần đỉnh Fansipan, được xây dựng từ cuối năm 2015 và chính thức hoàn thiện, khánh thành sau hai năm triển khai thi công (tháng 1/2018).

Từ Kim Sơn Bảo Thắng Tự đi dọc theo con đường La Hán xuống là Đại tượng Phật A Di Đà cao 21,5m, được đúc bằng đồng theo kỹ thuật hiện đại nhất hiện nay. Đây là bức tượng Phật bằng đồng cao nhất Việt Nam tới thời điểm này.

“>

16/10/2018(Xem: 12562)

Phim đạo Phật hệ phái Khất sĩ hay. Giúp cho mọi người hiểu biết về cách sinh hoạt và sự tu tập của hệ phái K.S.Những bước chân thong dong với màu vàng ca sa trang nghiêm thân , sáng rực con đường quý thầy đi qua. Thật là đẹp và ngưỡng mộ vô cùng.Thật là xúc động. Khiến mọi người đến với đạo cũng từ đậy.

“>

09/10/2018(Xem: 4287)

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Đính chính sai lầm của An Nam Kỷ Yếu dẫn đến sai lầm trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục

Posted on by huyentamhh

Đính chính sai lầm của An Nam Kỷ Yếu dẫn đến sai lầm trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục

Hồ Bạch Thảo

4- 4- 2019

Tranh minh họa Mai Thúc Loan. Nguồn: Internet

Trong bài viết mới đăng trên các báo, với nhan đề Khúc Tiên Chúa nhân thời cơ dành độc lập, lập luận chúng tôi cho rằng ngay sau quân loạn tại An Nam vào năm 880, Tiên chúa Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa, giành độc lập cho nước nhà, với lời trích dẫn như sau:  

: Trong khi Hoàng Sào tung hoành tại Trung Quốc, chính quyền địa phương thuộc Đường tại An Nam Đô Hộ Phủ bị cắt đứt với chính quốc; quân lính nhà Đường làm loạn, tự động bỏ hàng ngũ trở về Ung châu [Nam Ninh], sử chép:

 “Đường Hy Tông năm Quảng Minh thứ nhất [880]

Tháng 3, quân loạn tại An Nam, Tiết độ sứ Tăng Cổn bỏ thành trốn; các đạo binh thuộc Ung quản tự động rút về. 安南軍亂,節度使曾袞出城避之,諸道兵戍邕管者往往自歸。 (Tư Trị Thông Giámviết tắt: Tư Trịquyển 253)

Thế: Tiên chúa Khúc Thừa Dụ, một phú hào có học tại đất Hồng Châu [Hải Dương], lấy sự hiểu biết làm sức mạnh [Knowledge is power], chớp lấy thời cơ, vận động nhân dân vốn sẵn lòng căm ghét giặc ngoại xâm từ ngàn năm, đồng loạt nỗi dậy; đuổi kẻ xâm lăng ra khỏi bờ cõi, giành lại nền độc lập cho nước nhà”.

Lập luận trên cũng chẳng mới, trước đây Việt Sử Tiêu Án [viết tắt: Tiêu Án] của Ngô Thì Sĩ cũng chép tương tự:

Họ Khúc là người Hồng Châu, là họ to nối đời, tiên tổ là Thừa Dụ, tính khoan hòa, yêu người, được nhiều người qui phục, khi Tăng Cổn bỏ phủ thành, Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ, xin với triều đình Đường, vua Đường nhân thế nhận cho làm chức ấy”.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư [viết tắt Toàn Thư] cũng xác nhận vào năm 880 Tiết độ sứ Tăng Cổn bỏ thành trốn:

Canh Tý, [880], (Đường Hy Tông Nghiễm, Quảng Minh năm thứ 1). Mùa xuân, tháng 3, quân ở phủ Đô hộ làm loạn, Tiết độ sứ Tăng Cổn bỏ chạy khỏi thành (Cổn thay Biền, có tiếng là người biết vỗ dân, người [trong châu] gọi là Tăng thượng thư; Cổn từng soạn sách Giao Châu ký, 1 thiên). Các đạo quân nhà Đường đóng giữ Ung Quản thường tự ý bỏ về luôn”.

Một nhà nghiên cứu thuộc thế hệ trẻ trong nước tuy không phản đối lập luận của chúng tôi, nhưng anh cảm thấy lấn cấn vì Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục [viết tắt: Cương Mục] căn cứ vào sách An Nam Kỷ Yếu của Cao Hùng Trưng, phủ nhận việc Tăng Cổn nhân loạn chạy về nước, nhân đó phủ nhận việc Khúc Thừa Dụ làm Tiết độ sứ năm 880. Qua Email nhà nghiên cứu gửi cho tôi bài viết của anh, trưng lên những sử liệu Trung Quốc trong Tư TrịNhị Thập Tứ Sử cùng những thư tịch cổ Việt Nam, khiến tôi rất khâm phục và vui mừng; vì tôi nghĩ rằng thế hệ trẻ nghiên cứu sâu như vậy, thì nền sử học nước nhà không thể mai một được. Bài của anh trích dẫn từ Cương Mục như sau:

Năm Canh Tí (880). (Đường, năm Quảng Minh thứ 1). Tháng 3, mùa xuân. Quân phủ đô hộ nổi loạn. Tiết độ sứ Tăng Cổn phủ dụ được yên. Theo sách An Nam kỷ yếu, trước kia, Tăng Cổn làm chức tiểu hiệu dưới quyền Cao Biền, Tăng Cổn là người giỏi về chính trị. Khoảng giữa niên hiệu Kiền Phù (874- 879), nhà Đường dùng Tăng Cổn thay Cao Tầm làm tiết độ sứ. Năm này (880) quân trong phủ nổi loạn, các thuộc hạ xin Tăng Cổn rút ra ngoài thành để lánh nạn. Cổn không nghe, đem điều uy đức ra phủ dụ: quân nổi loạn yên ngay, đến quy phụ với Cổn. Cổn không nhắc hỏi đến lỗi của họ nữa. Vì thế, trong số quân các đạo đi thú ở Ung Quản hễ ai theo về với Cổn thì đều được dung nạp cả. Tăng Cổn là người có tiếng khéo vỗ về cai trị nhân dân, được người Giao Châu gọi là “ông thượng Tăng” (Tăng thượng thư). Cổn có soạn sách Giao Châu ký lưu hành ở đời. Cổn làm việc ở trấn 14 năm. Đến đời Đường Chiêu Tông, năm Cảnh Phúc thứ 1 (892), Chu Toàn Dục mới sang thay Cổn làm tiết độ sứ. Lời cẩn án –  Sử cũ [chỉ Toàn Thư] chép quân trong phủ nổi loạn, tiết độ sứ Tăng Cổn trốn ra ngoài thành. Nay xét Tăng Cổn là người có tiếng về chính trị, e Sử cũ chép lầm chăng, nên nay căn cứ vào sách An Nam kỷ yếu của Cao Hùng Trưng mà cải chính lại”.

Nay xin cẩn thận xét từng điểm một:

A. Ba bộ sử Tư TrịToàn ThưViệt Sử Tiêu Án, đều chép nội dung: Tháng 3, quân loạn tại An Nam, Tiết độ sứ Tăng Cổn bỏ thành trốn. Chỉ riêng An Nam kỷ yếu chép: “Tháng 3, mùa xuân. Quân phủ đô hộ nổi loạn. Tiết độ sứ Tăng Cổn phủ dụ được yên”, rồi Cổn ở lại cai trị; sau đó Cương Mục của nước ta lặp lại theo ý đó.

Thiết tưởng lịch sử là một bộ môn thuộc Khoa học xã hội, nên giải quyết theo phương pháp khoa học; cần đánh giá sử liệu một chính xác chừng nào hay chừng đó; chúng ta hãy bắt tay xét về nguồn sử liệu và độ tin cậy của sử liệu:

– Nếu đánh giá nguồn tư liệu thứ tự cao thấp theo mẫu tự A, B, C, D, thì Tư Trị tuy do Tư Mã Quang soạn, nhưng soạn theo lệnh của Vua , do Vua đặt tên sách, đươc dùng tư liệu của triều đình, có giá trị như chính sử; Toàn Thư là bộ chính sử của triều đình nước ta, dùng tư liệu của triều đình, lại tham khảo các bộ sử đời trước của Lê Văn Hưu, Phan Phù Tiên; Việt Sử Tiêu Ándo danh Nho Ngô Thì Sĩ soạn, giá trị tương đối. Gộp lại nguồn tư liệu của sử liệu thứ nhất, do 3 bộ sử cung cấp có thể đáng giá hạng A.

Nguồn tư liệu của sử liệu thứ 2, do Cao Hùng Trưng tác giả An Nam Kỷ Yếu cung cấp, tác giả là tư nhân, vị quan tại tỉnh Quảng Tây vào thế kỷ thứ 17; như vậy có thể xếp ngang hàng với Ngô Thì Sĩ là cùng; còn Cương Mục tự nhận chỉ chép lại mà thôi; như vậy nguồn tư liệu của sử liệu thứ 2 được đánh giá hạng B là cao.

– Đánh về giá độ tin cậy thì sử liệu thứ nhất lấy từ tư liệu của triều đình, như Khởi Cư TrúThực LụcChâu Bản; các Sử quan có trách nhiệm chép lại cho đúng, lại qua nhiều đợt kiểm tra, viết sai Ngự sử có quyền đàn hặc. Có người nghĩ rằng các bộ sử Trung Quốc có thể làm giả; điều đó khỏi lo, vi trong 2 thế kỷ trước 19 và 20 các nước Tây Phương 2 lần chiếm Bắc Kinh, nên các bộ sử Trung Quốc hiện tồn tại trong thư viện của họ, cho dù muốn đánh tráo sử liệu cũng không được. Còn giá trị của nguồn sử liệu thì bộ Tư Trị có giá trị rất cao, danh Nho các thời đều khen, phương pháp viết sử được các nước lân bang bắt chước. Riêng Mao Trạch Đông tự nhận đã đọc 17 lần. Báo chí Trung Quốc thuật lại rằng thuở 2 phe Quốc, Cộng hội nghị tại Tứ Xuyên; trong buổi giải lao, hai lãnh tụ Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông dạo chơi trong hoa viên, trong tay mỗi người đều cầm một quyển sách, họ tình cờ gặp nhau, rồi chìa sách cho nhau xem; thì ra 2 người trong tay đều cầm cuốn Tư Trị!

Riêng bộ Toàn Thư của nước ta, tác giả Ngô Sĩ Liên có bằng chứng tỏ ra tư cách công chính vô ngã (1), quên nỗi buồn bản thân để làm tròn bổn phận người chép sử. Thông thường con người ta “Tốt đẹp phô ra, xấu xa để lại”, nhưng Sử quan họ Ngô vẫn thản nhiên chép vào Toàn Thư lời vua Thánh Tông nhục mạ ông như sau:

Vua dụ bảo Đô ngự sử đài là bọn Ngô Sĩ Liên và Nghiên Nhân Thọ rằng:

“Ta mới coi chính sự, sửa mới đức độ, tuân theo điển cũ của thánh tổ thần tông, nên mới tế giao vào đầu mùa xuân. Các ngươi lại bảo tổ tông tế giao cũng không đáng theo! Các ngươi bảo nước ta đời xưa là hàng phiên bang, thế là các ngươi theo đạo chết, mang lòng không vua. Vả lại, khi Lệ Đức hầu (2) cướp ngôi, Ngô Sĩ Liên chẳng vì hắn trổ tài phong hiến (3) đó sao? Ưu đãi trọng lắm! Nhân Thọ không vì hắn trù hoạch nơi màn trướng đó ư? Ngôi chức cao lắm! Nay Lệ Đức hầu mất nước về tay ta, các ngươi không biết vì ăn lộc mà chết theo hắn, lại đi thờ ta. Nếu không nói ra, trong lòng các ngươi không tự hổ thẹn mà chết ư? Thực là bọn gian thần bán nước!”. Toàn Thư, Bản Kỷ quyển 12, ngày 21 tháng 19 năm Quang Thuận thứ 2 [1462]

Qua các chứng cứ vừa nêu, lại do 3 bộ sử khác nguồn cùng chép nội dung giống nhau. Hơn nữa năm 880 nhân quân Tàu làm loạn bỏ về nước là cơ hội bằng vàng cho Tiên chúa Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa; cũng như ngày 19/8/1945 nhân Nhật đầu hàng Đồng Minh là cơ hội tốt cho Việt Minh khởi nghĩa. Gộp tất cả các điểm vừa nêu ra, chứng tỏ độ tin cậy của sử liệu thứ nhất rất cao, có thể đánh giá vào hạng 1.

Riêng sử liệu thứ 2, chép trong bộ sử tư nhân An Nam Kỷ Yếu, tác giả có thể suy luận thêm bớt theo ý mình, không ai cấm cản; sách viết trải ra qua nhiều lần chép tay rồi mới in, dễ dàng bị “tam sao thất bản” (4), nên chỉ đánh giá hạng 3 thôi.

– Kết quả từ 2 mặt, đánh giá sử liệu thứ nhất thuộc loại A1, sử liệu thứ hai hạng B3; dĩ nhiên phải chọn sử liệu thứ nhất: “Tháng 3, quân loạn tại An Nam, Tiết độ sứ Tăng Cổn bỏ thành trốn; các đạo binh thuộc Ung quản tự động rút về. 安南軍亂,節度使曾袞出城避之,諸道兵戍邕管者往往自歸”

B. Trong phần trích dẫn nêu trên, Cương Mục cũng dùng sử liệu sau đây của An Nam Kỷ Yếu:

“Đến đời Đường Chiêu Tông, năm Cảnh Phúc thứ 1 (892), Chu Toàn Dục mới sang thay Cổn làm tiết độ sứ”

Tương tự sử liệu này,  Trị [quyển 266] cũng có đề cập đến Toàn Dục:

Ngày Mậu Tuất tháng 2 năm Thiên Hựu thứ 2 [17/3/905] cho An Nam tiết độ sứ đồng bình chương sự Chu Toàn Dục làm Thái sư nghĩ hưu. Toàn Dục là anh của Toàn Trung, chất phác vô năng trước lãnh An Nam; Toàn Trung xin cho bãi chức”.

戊戌,以安南節度使、同平章事朱全昱為太師,致仕。全昱,全忠之兄也,戇樸無能,先領安南,全忠自請罷之。

– Xét về phương diện địa lý nhiệm sở An Nam Tiết độ sứ của Chu Toàn Dục tại Quảng Châu [Quảng Đông+Quảng Tây] chứ không phải Giao châu [Bắc Việt+Thanh Hóa+Nghệ Tĩnh]. Lý do Lưu Ẩn là anh của vua Nam Hán Lưu Cung, nhiệm sở tại Quảng Châu; vào năm 908, cũng được phong giống như vậy:

Đời Đường Thiên Hựu năm thứ 2 [905] Lưu Ẩn dược ban chức Tiết độ sứ. Lương Khai Bình năm thứ nhất [907] phong Gia kiệm hiệu thái uý, kiêm Thị trung; Năm thứ 2 [908] Kiêm tĩnh hải quân tiết độ, An Nam đô hộ; năm thứ 3 [909] phong Gia kiệm hiệu thái sư, kiêm Trung thư lệnh, Nam bình vương”.

(天祐二年,拜隱節度使。梁開平元年,加檢校太尉、兼侍中。二年,兼靜海軍節度、安南都護。三年,加檢校太師、兼中書令,封南平王。) Tân Ngũ Đại Sử, Quyển 65, Nam Hán, Thế Gia quyển thứ 5.

– Xét về sự lý, Chu Toàn Dục là anh ruột của Chu Toàn Trung, bấy giờ là quyền thần, vào năm 907 cướp ngôi nhà Đường lập nhà Hậu Lương. Sau khi Toàn Trung lên làm vua nhà Hậu Lương, Toàn Dục thốt lên một câu có vẻ ngạc nhiên, thiếu tôn trọng:

壬戌,王兄全昱聞王將即帝位,謂王曰:「朱三,爾可作天子乎!」(Chu Tam, nhĩ khả tác Thiên Tử hồ!)

Tư Trị quyển 266. Ngày Nhâm Tuất tháng chạp năm Khai Bình thứ nhất [25/1/908], anh của Vương Toàn Dục nghe tin Vương lên làm Vua, bảo Vương rằng:

Ba Chu, mày cũng có thể làm Thiên tử ư!”

Câu nói không dùng đại danh từ như “hiền đệ” đi kèm, chứng tỏ Toàn Dục nói một cách thân tình, khinh thường, coi như em lúc còn nhỏ.

Rồi sau đó mấy tháng vua Hậu Lương Chu Toàn Trung, phong cho anh Chu Toàn Dục tước Vương:

乙酉,立皇兄全昱為廣王

Tư Trị quyển 266. Ngày Ất Dậu tháng 5 năm Khai Bình thứ nhất [22/6/907], lập anh của Vua là Toàn Dục làm Quảng vương”.

Để hiểu rõ hơn về mức độ thân mật giữa hai anh em nhà họ Chu, hãy dùng thời sự Việt Nam hiện đại làm ví dụ:

Cựu Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng cũng có tên là Ba Dũng, vào thời quân chủ Thủ tướng đứng vào hàng Tể tướng. Nếu lúc bấy giờ có người dân nào dám nói:

Ba Dũng, mày cũng làm Tể tướng ư!”

Kẻ đó rất dễ dàng bị mất đầu. Giả sử anh Tể tướng Dũng, thuộc loại mong nhờ cậy em, có thể nói:

Chú Ba tôi được làm Tể tướng, mừng quá!”

Chỉ có người anh thuộc loại có ơn bao bọc ông Dũng thời nhỏ, anh em rất thân mật muốn nói gì thì nói, mới dám thốt lên câu:

Ba Dũng, mày cũng làm Tể tướng ư!”

Trở lại vấn đề, thời Vua Chiêu Tông nhà Đường trao chức Tỉnh hải quân tiết độ sứ An Nam đô hộ cho Chu Toàn Dục, là lúc nhà Vua bị khống chế bởi quyền thần Toàn Trung; ắt phải hiểu anh em Toàn Trung rất thương yêu nhau, nên phải phong chỗ tốt cho Toàn Dục Quảng Châu, chứ không thể phong đất nơi Giao châu xa xôi, từng có quân loạn xãy ra. Lại lúc Toàn Trung đòi cho anh nghĩ hưu, nhà Vua phong Toàn Dục hàm Thái sư là chức quan đứng đầu triều, được hưởng nhiều ân huệ như đất phong, lương hưu trí cao; địa vị này không thể phong cho một Thứ sử Giao châu nghĩ hưu.

***

Qua các chứng cứ vừa trình bày, chúng tôi nghĩ rằng lập luận:

“Năm 880, Tiên chúa Khúc Thừa Dụ, một phú hào có học tại đất Hồng Châu [Hải Dương], lấy sự hiểu biết làm sức mạnh [Knowledge is power], chớp lấy thời cơ, vận động nhân dân vốn sẵn lòng căm ghét giặc ngoại xâm từ ngàn năm, đồng loạt nỗi dậy; đuổi kẻ xâm lăng ra khỏi bờ cõi, giành lại nền độc lập cho nước nhà” là có cơ sở.

______

Chú thích:

  1. Theo giáo lý Phật: vô ngã tức không có cái “ta” vị kỷ, dẹp bỏ mọi tham, sân, si.
  2. Lệ Đức hầu Lạng sơn vương Nghi Dân.
  3. Phong hiến: là chức Ngự sử giữ việc đàn hặc.
  4. Tam sao thất bản: ba lần sao sẽ sai mất nguyên văn.
Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

BIỂN ĐÔNG LẶNG SÓNG & THOÁT TRUNG VỀ VĂN HÓA 

Posted on by huyentamhh

BIỂN ĐÔNG LẶNG SÓNG &
THOÁT TRUNG VỀ VĂN HÓA
TT. Thích Nhật Từ | Giác Hạnh Hoa

thich nhat tuAi bảo đức Phật chỉ nói về tu? Để trả lờicho những quan điểm sai lầm ấy. Bằng những hiểu biết sâu sắc khi thâm nhậpKinh tạng của đức Phật mà TT. Thích Nhật Từ đã có bài pháp thoại với chủ đề: “Biển Đông lặng sóng – Thoát Trung về văn hóa’’.

Thượng tọa đã lấy sự kiện về việc phán quyết của Tòa án Hague về vụ kiện mà Philippines thắng toàn tập Trung Quốc về đường 9 đoạn tại biển Đông mà Trung Quốc vẽ ra.

Với 3 nội dung chính để phân tích cho phần I của chủ đề đó là: (I) Điểm qua dấu mốc của vụ kiện, (II) Tóm tắt về các nội dung phán quyết của tòa án Hague, (III) Chủ trương và phản ứng của Trung Quốc.

Phần I: liên quan đến chính trị và thế giới nhưng nó lại liên hệ rất quan trọng đến học thuyết xã hội Tứ trọng ân mà đức Phật đã dạy. Trong đó có: Ơn cha mẹ – khai sinh sự sống; Ơn thầy cô giáo – người truyền trao tri thức; Ơn tổ quốc – bao gồm nguyên thủquốc gia yêu nước, thương dân và các nghĩa sĩ bảo vệ chủ quyền đất nước; Ơn đồng loại – đã tạo ra những giá trị giao hoán bằng các nghề nghiệp khác nhau.

Trải qua nhiều thế kỷ, người ta cứ nghĩ Phật giáo là tôn giáo tu rục, tu rị, đó là một cái nhìn rất thiển cận và sai lầm về tính đa diện của đạo Phật minh triết và đạo đứcPhật giáo bao gồmthế giới quan, nhân sinh quan, xã hội quan, đạo đức quan, tu tập quan và giải thoát quan. Việc đánh giá sai lầm của một số quần chúng chỉ liên hệ đến một phương diện trong nhóm vừa nêu, đó là: tu tập quan. Còn các phương diện rất quan trọng mà đức Phật đóng góp cho tư tưởng của nhân loại đó là: thế giới quan, nhân sinhquan, xã hội quan, đạo đức quan qua hệ thống triết học đặc biệt của Ngài mà giới kinhdoanh, giới tri thức, giới bình dân ít biết đến. Một phần là do đạo Phật bị ảnh hưởng bởi nghi thức đọc tụng được sử dụng trong các chùa chỉ chọn đọc vài ba kinh tín ngưỡng lại được diễn đạt bằng ngôn ngữ Hán – Việt vốn rất xa lạ với cộng đồng Phật giáo Việt Namtrong nước và nước ngoài.

Phần II: được hệ thống lại ở hơn 30 bài đã giảng trong hơn một thập niên qua mà Thượng tọa đã mạnh dạn chia sẻ ở nhiều góc độ khác nhau, với 6 nội dung chính:i) Nói không với các thần tượng sao Trung Quốc; ii) Bản sắc Việt phải được đề cao trong truyền thông; iii) Độc lập về chữ viếtvăn họcnghi thức và tập tục; iv) Độc lập khỏi triết học của Trung Quốc; v) Độc lập khỏi Trung Quốc về hội họa, điêu khắc, kiến trúc; vi) Độc lập khỏi Trung Quốc về pháp phục.

Như đã nói ở phần I, một trong 4 trọng ơn là: ơn tổ quốc, cho nên khi đất nước lâm nguy, các tu sĩ Phật giáo và các Phật tử không được quyền rửng rưng, vô cảm, thờ ơ, vô tích sự, bàng quanNgày xưa, nhiều Thiền sư Việt Nam đã trở thành quốc sư cố vấn về chính trị, tôn giáotriết họcxã hội cho nhà vua như trong thời đại Lý và Trần. Ngày nay với thể chế độc đảng ở Việt Nam không cho phép làm quốc sư nhưng cho phép các nhà sư làm đại biểu Quốc hội, lập pháp và giám sát bằng tiếng nói chính thức.

Do đó, khi đề cập đến độc lập chủ quyền của Việt Nam về văn hóa, đó không phải là chấp nhất mà Thượng tọa chỉ muốn đề cập đến việc làm đẹp bản sắc văn hóa Việt trong phạm vi tương tác trong khu vực và trên toàn cầu. Đó là cách thể hiện lòng yêu nước về phương diện văn hóaĐức Phật đã có nhiều bài giảng đề cập đến quan điểm chính trị của Ngài về quản trị đất nước, về chuyển luân thánh vương, cai trị đất nước về pháp quyền. Rất tiếc là rất nhiều Phật tử không hề đọc đến những bài kinh này trong Tạng kinh mà lầm tưởng rằng đức Phật chỉ nói về vấn đề tu. Thực ra đề cập đến quản trị đất nước là tu về chính trị và xã hội nó không tách rời với đời sống và nhân sinh. Đó là chủ trương nhập thế rất sáng suốt của đức Phật. Cho nên cần phải nghiên cứu nhiều về Phật giáo để không qui kết các tu sĩ Phật giáo đề cao tinh thần yêu nước khi mà đất nước đang bị lâm nguy bởi những cuộc chiến tranh truyền thông.

Mời quý vị xem thêm một số pháp thoại có nội dung liên quan:

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Nepal: ‘Nơi duyên tiền kiếp là có thật’

Posted on by huyentamhh

Nepal: ‘Nơi duyên tiền kiếp là có thật’

Omar Havana/GettyBản quyền hình ảnhOMAR HAVANA/GETTY
Image captionMột ngôi đền bị sập tại địa điểm di Di sản Unesco Thế giới tại Bhaktapur, Nepal

Khi nghĩ đến các cuộc gặp gỡ tình cờ trong bước đường phiêu du của mình, trong đầu tôi hiện ra hiệu ứng domino.

Mỗi kết quả đều có nguyên nhân của nó, đôi khi kéo quay trở lại hàng tuần, hàng năm, hay, trong trường hợp này, hàng thiên niên kỷ.

Khi các ni cô Nepal luyện võ Kung-Fu

Phật pháp và những vòng tròn ở Kathmandu

Mộ Thành Cát Tư Hãn: Bí ẩn không thể tìm ra?

Dường như chính thời gian đã chủ ý sắp đặt mọi thứ để tạo ra những tầng tầng lớp lớp các sự kiện đưa đẩy chúng tôi vào thời điểm hiện tại, chứ không hề có cuộc gặp gỡ nào thật sự xảy ra một cách tình cờ cả.

Trận động đất kinh hoàng

Cách nói ẩn dụ ‘hiệu ứng domino’ đặc biệt thích hợp trong câu chuyện này.

Câu chuyện xảy ra ở Nepal, nơi đã trở thành quê hương thứ hai của tôi kể từ năm 1979, và là nơi tôi đã quay lại để thăm hay để ở gần như mỗi năm trong vòng ba thập niên kế tiếp.

Ngày 25/4/2015, vào lúc 11:56 sáng, hai mảng địa tầng của vỏ Trái Đất dịch chuyển một chút.

Sự dịch chuyển này đã gây ra một trận động đất chết chóc, khiến các công trình xây dựng sụp đổ, san bằng các ngôi đền cổ xưa, gây ra những trận lở đất khủng khiếp và khiến cho nhà cửa, nhất là nhà cửa ở Quận Sindhupalchowk bị phá hủy.

Các ngôi nhà đổ chồng lên nhau phía dưới núi. Hơn 8.800 người Nepal thiệt mạng và hàng trăm ngàn người bị mất nhà cửa.

Do tôi đã gắn bó lâu năm với mảnh đất này nên không có gì ngạc nhiên khi tôi cảm nhận những rung chấn này từ trong sâu thẳm của lòng mình khi trận động đất khủng khiếp xảy ra.

Prakash Singh/AFP/GettyBản quyền hình ảnhPRAKASH SINGH/AFP/GETTY
Image captionĐống đổ nát tại Dharahara, khu tượng đài lịch sử cao 62m-high nhìn xuống Kathmandu

Trong tôi thôi thúc mong muốn được bay đến Kathmandu ngay lập tức và làm tất cả những gì có thể. Tuy nhiên, do trước đây từng công tác trong các khu vực thảm họa nên tôi biết rằng nếu không có một vai trò cụ thể và thiết yếu thì sự hiện diện của tôi chỉ đem đến phiền toái mà thôi.

Kumamoto, tòa thành định hình lịch sử Nhật Bản

Quê hương Stalin đối phó mối đe dọa từ Nga

Ikaria, hòn đảo ‘trường thọ’ ở Hy Lạp

Cù lao ‘lập dị’ của London bên dòng sông Thames

Cho nên sáu tháng sau đó, tôi đã đến Nepal có chủ đích: để đến thăm những nỗ lực cứu trợ thành công và tường thuật về sự phục hồi của quốc gia này.

Tôi biết rằng tôi sẽ gặp những người mà cuộc sống của họ đã trở nên tan nát, thế nhưng vẫn lên kế hoạch tường thuật một cách khách quan. Và tôi đã làm công việc đó tương đối tốt – cho đến khi tôi đến Trại Hy vọng và gặp một em gái 10 tuổi đến từ Sindhupalchowk.

Sự thoát chết tình cờ

Pedro và Lorenzo, hai du khách Tây ba lô trẻ tuổi đến từ Bồ Đào Nha, trước đây chưa từng biết đến Sindhupalchowk. “Thật lòng mà nói,” Pedro nói, “chúng tôi không hề biết gì về Nepal.”

Rebecca Conway/AFP/GettyBản quyền hình ảnhREBECCA CONWAY/AFP/GETTY
Image captionCác tình nguyện viên người Nepal đi phân phát đồ cứu trợ cho các nạn nhân sau vụ động đất

Họ đã đến Nepal vào đêm 24/4 sau nhiều ngày thực hiện hành trình ngẫu hứng trên khắp châu Á mà không định sẵn cái đích cuối cùng. Kế hoạch của họ là thức dậy sớm, leo lên đỉnh của Tháp Dharahara, một tượng đài lịch sử cao 62 mét có tầm nhìn bao quát khắp Kathmandu vừa được phục hồi, rồi sau đó đi bộ trekking.

Ngày hôm sau, họ ngủ quên nên dậy muộn. Khi họ vừa rời khách sạn thì động đất xảy ra. Nhờ vào đi trễ hơn so với dự định mà họ đã thoát chết: toàn bộ 180 người bên trong và xung quanh tháp Dharahara thiệt mạng khi ngọn tháp đổ sụp.

Mặc dù được cho một chuyến bay để về nước, nhưng Pedro và Lorenzo đã không rời Nepal. Họ đã ở lại và dùng số tiền tiết kiệm của mình để mua gạo, rau quả và trái cây cho những người dân địa phương hoảng loạn đang sống tạm ngoài đường.

Trong ba tuần sau đó, câu chuyện của họ, vốn được đưa lên Facebook, đã lan truyền nhanh chóng. Hàng chục ngàn euro đã được đổ vào tiếp thêm sức mạnh cho nỗ lực cứu trợ còn nghèo nàn của họ.

Trong suốt những tuần sau đó, họ đã làm việc không ngừng nghỉ, đem thực phẩm, nhu yếu phẩm và quần áo đến với những nạn nhân mất nhà cửa trong thảm họa.

Và do khu ở tập trung của các du khách còn hỗn loạn, họ được cho cư trú ở Dwarika’s, một khách sạn thanh lịch ở địa phương vốn cũng là nơi đặt Lãnh sự quán Tây Ban Nha.

Chuyến cứu trợ tình cờ

Dwarika’s do Sangita Shrestha, con của bà chủ khách sạn, quản lý. Gia đình Shresthas cũng khởi động một số dự án tái thiết và chẳng mấy chốc hai du khách Bồ Đào Nha đã tham gia vào các dự án này. Thế rồi thêm một quân cờ domino đã đổ.

“Vào giữa tháng Năm,” Pedro nhớ lại, “có người đến khách sạn Dwarika’s nói với chúng tôi rằng có 350 người – bao gồm đàn ông, phụ nữ và 81 trẻ em – đã được trực thăng di tản khỏi một khu vực được gọi là Sindhupalchowk. Họ được bỏ lại ở một khu đất trống mà không có thực phẩm, quần áo hay nước sạch. Thế là chúng tôi đã lấy vài chiếc xe tải,” anh kể, “và đem đến cho họ những nhu yếu phẩm cơ bản.”

Sangita, Pedro, Lorenzo và một số tình nguyện viên mới kết hợp với nhau để chăm sóc cho những người Nepal phải rời bỏ nhà cửa này.

Sangita kiếm được một sân bóng đá bỏ trống để sử dụng và chỉ trong vòng vài ngày, một thành phố lều tạm được dựng lên.

Xe tải chở nước đến, các đường dây điện được kết nối và một bếp ăn được dựng lên. Trẻ em được đăng ký đi học ở một trường công gần đó. Pedro đặt tên cho trại định cư này là: Trại Hy vọng.

Vào tháng 10/2015, tôi đến Nepal để viết câu chuyện của mình. Tôi đến trú ngụ tại khách sạn Dwarika’s và tìm kiếm những dự án cứu trợ thú vị.

Vào một buổi sáng, Sangita đến uống cà phê cùng với tôi. “Có một dự án,” cô nói, “mà tôi rất muốn ông nhìn thấy.”

Nhân duyên tiền định?

Khi tôi đến Trại Hy vọng, một nhóm đông người lớn và hàng chục trẻ nhỏ đang chờ đợi chúng tôi. Họ siết chặt tay nhau theo kiểu chào truyền thống của người Nepal.

Sangita có việc phải làm và cô cần phải bỏ tôi lại trong một lúc. Cô nhìn lướt qua đám đông với cặp mắt ti hí và chọn ra một em gái có mái tóc đen, mặc chiếc áo choàng lông màu hồng và có nét mặt điềm tĩnh, tò mò. Em gái ấy có mái tóc cắt cúp và đôi mắt tò mò một cách mãnh liệt.

Jeff GreenwaldBản quyền hình ảnhJEFF GREENWALD
Image captionHình chụp chân dung cô bé Laxmi

“Laxmi nhé?” Em gái đó gật đầu một cách háo hức và bước ra phía trước. “Đây là Jeff, đến từ nước Mỹ. Hãy dắt ông ấy đi một vòng khu trại nhé.”

Các tín đồ Hindu và Phật giáo ở Nepal tin vào thuyết luân hồi chuyển kiếp. Một phần của thuyết này đã thấm vào người tôi.

Tôi nhận ra ở Laxmi là một gương mặt quen thuộc và cảm giác có sự gắn bó ngay lập tức như thể cô bé là một phần của cuộc đời tôi trong nhiều năm.

Khi cô bé nắm lấy tay tôi, tôi hoàn toàn giao mình cho cô bé với cảm giác tin tưởng và yêu mến ngay lập tức. Dường như có thể là trong một tiền kiếp nào đó, cô bé đó là một người lớn và tôi là một đứa trẻ mà cô bé phải chăm sóc.

Laxmi dẫn tôi tới phía trước và ngay lập tức chỉ vào những thứ ở gần nhất: những ngăn bằng kim loại có hình gợn sóng xếp thành dãy trên mặt đất cứng và trên cửa có vẽ chữ số màu đen.

“Nhà vệ sinh,” cô bé nói bằng một thứ tiếng Anh rõ ràng đến ngạc nhiên. “Một, hai, ba, bốn. Và hai nhà tắm.” Tôi nhận ra rằng đó là toàn bộ các phòng vệ sinh phục vụ cho trên 350 đàn ông, phụ nữ và trẻ em hiện đang cư trú ở trại tị nạn này.

Khu trại sôi động

Chúng tôi tiếp tục đi quanh khu trại. Tôi đã ngạc nhiên khi thấy khu trại có cuộc sống sôi động đến thế nào.

Trong căn lều được sử dụng làm phòng học, ba em gái trong tuổi thiếu niên đang cười đùa làm bài tập cùng nhau trên một đống những tấm thảm Tây Tạng.

Căn bếp có một chiếc nồi to đùng đang bốc khói như trong chuyện Alibaba và 40 tên cướp.

Có một căn lều dùng làm phòng thờ với các chén cúng đặt quanh một gian thờ Phật nhỏ, và một căn lều cộng đồng trong đó có khoảng một chục trẻ nhỏ ngồi trước một chiếc tivi cũ đan xem say sưa một bộ phim truyền hình bằng tiếng Hindi. Tôi cũng nhanh chóng bị cuốn hút.

Rebecca Conway/AFP/GettyBản quyền hình ảnhREBECCA CONWAY/AFP/GETTY
Image captionMột bác sỹ thiện nguyện đang chữa trị cho nạn nhân trận động đất tại khu trại y tế tạm

Laxmi kéo tôi đi. “Thôi đi nào” cô bé ra mệnh lệnh. Còn nhiều thứ hơn để xem: lều y tế, lều để lương thực và căn lều mà cô bé, bố mẹ và anh chị em đang sống cùng ba gia đình khác.

Cô bé đặc biệt tự hào về lều văn phòng mà những đứa trẻ đã giúp trang trí với những bản tin với đầy ảnh chụp và những chiếc cúp thể thao có gắn nơ.

Tôi cũng được Laxmi giới thiệu với các bạn của em: Binita, người mơ ước trở thành tiếp viên hàng không, cô chị yểu điệu của Laxmi, Dabuthi, và hai anh em sinh đôi nhỏ mà cô bé hướng dẫn của tôi tiết lộ thầm vào tai rằng “rất thích kẹo sô cô la”.

The children at Camp HopeBản quyền hình ảnhTHE CHILDREN AT CAMP HOPE
Image captionBố của Laxmi

Nhưng chính Laxmi đã chiếm trọn cảm tình của tôi. Cô bé vừa thông minh, vừa bướng bỉnh, nói năng đĩnh đạc và bình tĩnh. Cha của cô bé cũng có một tình cảm đối với cô bé giống như tôi: trên ngực ông là hình xăm vẽ chân dung con gái ông.

Háo hức chụp ảnh

Tôi đã đến thăm Trại Hy vọng thêm vài lần nữa. Có một lần tôi đem sô cô la cho hai đứa bé sinh đôi (và đương nhiên cho 79 em nhỏ khác nữa) và một lần nữa để vui lễ Diwali, một lễ hội xinh đẹp kéo dài năm ngày dành để tôn vinh Nữ thần Thịnh vượng Laxmi mà người bạn nhỏ mới của tôi được đặt tên theo.

Những ngày đầu tiên mọi người tôn vinh bò, chó và thậm chí là cả gà nhưng vào ngày cuối cùng của lễ hội, ngày bhai tika, các chị em gái chúc phúc cho các anh em trai được sống lâu và các anh em trai trao quà và chúc lại cho các chị em gái.

Tôi vinh hạnh được tham gia vào lễ hội. Theo nghi thức, trán tôi được vẽ dấu tika: một đường bảy màu dọc trán được vẽ bằng loại bột trừ tà.

Trong căn lều cộng đồng, buổi biểu diễn điệu nhảy truyền thống bắt đầu. Laxmi đứng phía sau tôi, một tay đặt lên vai tôi, chăm chú nhìn tôi khi tôi chụp ảnh. Cô bé nhẫn nại đợi đến lúc tôi bỏ máy ảnh lại vào trong hộp và sau đó vỗ vai tôi: “Cháu có thể chụp ảnh được không?”

Jeff GreenwaldBản quyền hình ảnhJEFF GREENWALD
Image captionTác giả và người bạn nhỏ mới quen nhưng đã ngay lập tức trở nên thân thiết, Laxmi

Thông thường thì tôi sẽ chần chừ trước khi đưa máy ảnh cho một đứa trẻ. Nhưng Laxmi không bao giờ có vẻ là một đứa trẻ đối với tôi.

Tôi mở ống kính và chỉ cho cô bé cách tìm trọng tâm, cách kéo cận ảnh và xem lại ảnh. Đa phần những đứa trẻ sẽ háo hức gật gật đầu và không thể đợi đến lúc tay cầm được máy ảnh.

Tuy nhiên Laxmi theo dõi một cách nhẫn nại. Khi tôi hướng dẫn xong, cô bé đưa ống kính lên mắt, gật nhẹ và nhanh chóng bỏ xuống.

Những tấm ảnh không ngờ

Tại khách sạn Dwarika’s vào đêm đó, trong lúc chỉnh sửa lại ảnh, tôi đã cảm thấy khó hiểu.

Tôi không hề nhớ gì về việc mình đã chụp ảnh bố của Laxmi khoe hình xăm của ông ấy hay tấm ảnh động hơi bị nhòe chụp một bé gái đang nhảy múa trong chiếc váy lụa màu xanh.

Tôi đã chụp ảnh cô bé có vẻ mặt ủ dột đó giữa những thanh tre với cặp mắt u sầu nhìn vào nơi ở mới của cô bé, hay những cậu bé cười toe toét với dấu tika nhiều màu sắc trên trán vào lúc nào vậy?

Tôi không hề chụp.

Tôi sững sờ nhận ra rằng đó là tác phẩm của Laxmi Shrestha. Bên cạnh những năng khiếu khác, cô bé là một nhiếp ảnh gia bẩm sinh với đôi mắt chín chắn và sâu sắc.

The children at Camp HopeBản quyền hình ảnhTHE CHILDREN AT CAMP HOPE

Tôi nhìn chằm chằm vào những tấm ảnh cô bé đã chụp và chợt hiểu điều gì.

Tôi xem Trại Hy vọng là một khu nhà lưu động với những tấm lều vải bạt buồn tẻ nằm trên khu đất bằng phẳng, những con chó đi quanh quẩn theo lối mòn, một vài nhà vệ sinh nằm cạnh hàng rào kẽm gai.

Nhưng Laxmi đã cho tôi thấy nhiều hơn thế. Đối với cô bé, Trại Hy vọng là nhà. Nó là một mê cung, một sân chơi và một nơi để định hình, khám phá và hòa vào trí tưởng tượng sáng tạo.

Sự quyến rũ của khu trại

Tôi không hề biết Sindhupalchowk là như thế nào cho đến khi nơi này bị nuốt chửng vào lòng đất. Nhưng tôi chắc rằng, cũng giống như mọi ngôi làng khác, nơi đó gắn liền với những ký ức lâu đời và lưu giữ nhiều truyền thống.

Trại Hy vọng thì khác: đó là một môi trường mới – một nơi mà trẻ em và người lớn đã cùng nhau tạo dựng từ con số không. Nhiều thứ vốn làm cho ngôi làng trên núi của họ trở nên kỳ diệu – động vật, những bức tường đá cổ, những vách núi tạo thành bậc thang – đều không có ở đây. Nhưng ở đây có một sức quyến rũ khác mà tôi nhìn thấy qua đôi mắt của Laxmi.

The children at Camp HopeBản quyền hình ảnhTHE CHILDREN AT CAMP HOPE
Image captionSangita Shrestha tại Trại Hy vọng

Vào giữa tháng 11, sau ba tuần lễ ở Nepal, tôi quay về nước để viết bài.

Vào ngày trước khi tôi rời Kathmandu, Laxmi – với mái tóc thắt bím và mặc chiếc áo khoác được người ta cho – đã đưa tôi tới cổng của Trại Hy vọng. “Chúc chú đi đường bình an và viết bài tốt nhé,” cô bé nói một cách tha thiết. “Và hãy sớm trở lại.”

Tạm thời, ít nhất là đối với tôi, chuỗi những cuộc gặp tình cờ này đã dừng lại. Năng lượng của nó đã chảy vào một nhóm trẻ nông thôn mà chỉ mới một năm trước có thể không bao giờ biết được những vũ điệu của mảng địa tầng sẽ đưa các em đến đâu.

Bản tiếng Anh bài này đã được đăng trên BBC Travel.

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Hiếu kính với mẹ cha, đắc phúc báo toàn gia

Posted on by huyentamhh

Hiếu kính với mẹ cha, đắc phúc báo toàn gia

Hiếu kính với mẹ cha, đắc phúc báo toàn gia
Trong văn hóa truyền thống, bất kể giàu sang hay nghèo hèn, người ta luôn cố gắng sống theo đạo lý, noi theo các tấm gương hiếu thuận của tiền nhân. Năm câu chuyện về những hiếu tử thời xưa dưới đây rất đáng để cho mỗi người trong chúng ta cùng tham khảo

Chu Thọ Mệnh chuộc mẹ

Chu Thọ Mệnh là người vùng Dư Can, tỉnh Giang Tây. Năm Ất Mão thời Khang Hy, đất nước xảy ra nạn binh đao loạn lạc, Chu Thọ Mệnh vì lạc mất mẹ mà khóc lóc ngày đêm, đau đớn không còn muốn sống nữa. Một hôm ông mơ thấy có vị Thần đến nói với ông rằng: “Mẹ của con bình an, hiện đang làm nô lệ trong quân Chính Lam Kỳ”.

Chu Thọ Mệnh khóc lóc đi gặp họ hàng, làng xóm để nói lời cáo biệt, nguyện rằng: “Nếu không tìm được mẹ, tôi sẽ không trở về”.

Sau đó ông mặc áo ngắn, đi giày cỏ, trên lưng gùi một tay nải màu vàng, dọc đường lê bước xin ăn. Trải qua hơn 3 ngàn dặm, cuối cùng ông mới đến được Bắc Kinh.

Đến Bắc Kinh, Chu Thọ Mệnh lại tiếp tục ăn xin trên đường phố. Người ta cho cơm thì ăn, cho tiền thì khâu vào trong áo, khi không xin được cơm thì cả ngày chịu đói, nhất quyết không tiêu một xu, vì ông để dành tiền chuộc mẹ. Chu Thọ Mệnh đi khắp nơi, cuối cùng cũng tìm thấy mẹ ông trong quân doanh của Chính Lam Kỳ.

Chu Thọ Mệnh khẩn khoản xin chuộc mẹ, nhưng Đại hãn cố ý đòi giá khổng lồ để cự tuyệt ông. Thế là ngày ngày ông quỳ trước cổng nhà Đại hãn cầu xin, hai đầu gối sưng phồng cả lên. Đến ngày sinh nhật mẹ, ông bưng một bát mì thịt đến, quỳ dâng lên mẹ, đợi mẹ ăn xong rồi mới đứng dậy.

Ở Bắc Kinh, khi ấy có Học sỹ Thiệu Viễn Hô ở chốn quan trường, là người trượng nghĩa khinh tài, cảm động bởi tấm lòng hiếu kính của Chu Thọ Mệnh, nên đã chuộc mẹ giúp ông. Hai mẹ con không nơi nào nương tựa, thế là học sỹ Thiệu giữ lại cho ở trong nhà.

Mẹ Chu Thọ Mệnh là người nóng tính, ông làm phật ý mẹ liền bị mắng chửi, thậm chí còn bị bạt tai. Nhưng Chu Thọ Mệnh vẫn cứ vui vẻ cười hề hề nói: “Con sợ mẹ đánh đau tay thôi”.
Mấy tháng sau có chiếc thuyền cho đi nhờ, Chu Thọ Mệnh đưa mẹ trở về quê phụng dưỡng.

Hiếu thuận với người mẹ mù được phúc báo lớn

Thôi Miện bản tính chí hiếu, mẹ ông bệnh mù hai mắt, ông đi khắp nơi tìm thầy thuốc chữa, nhưng đều không có kết quả. Thế là ông ở nhà bên mẹ, hầu hạ phụng dưỡng mẹ suốt 30 năm, vô cùng cung kính tận tụy, thậm chí đêm cũng không bỏ mũ cởi áo ngoài để tiện trở dậy chăm sóc mẹ.

Thôi Miện chăm sóc mẹ. (Ảnh minh họa: sohu.com)

Mỗi dịp lễ tết hoặc gặp cảnh đẹp giờ lành, ông đều dìu mẹ ra ngoại ô dạo chơi, hoặc dẫn đi thăm bạn bè thân thích, trò chuyện với mọi người, khiến mẹ quên đi nỗi khổ đau phiền muộn về bệnh tật.

Sau này khi mẹ qua đời, Thôi Miện đau lòng thổ ra máu. Cả đời ông làm theo ý nguyện của mẹ, yêu thương anh chị như yêu thương mẹ, đối với các cháu ông cũng đối xử như với con mình. Lương bổng đều chia cho người thân, Thôi Miện nói:

“Mẹ đã qua đời rồi, tôi không còn cách nào bày tỏ lòng hiếu thuận với mẹ được nữa. Nhớ khi mẹ còn, mẹ thương nhớ nhất là anh chị và các cháu. Do đó tôi phải chăm sóc họ cho tốt, như vậy mới an ủi linh hồn mẹ ở trên Trời được”.

Sau này, bước đường quan lộ của Thôi Miện rất thuận lợi. Ông làm quan đến chức Trung thư Thị lang, con trai ông là Thôi Hữu Phủ cũng noi gương cha, trở thành một bậc tể tướng hiền minh.

Thần giúp hiếu tử lấy lại vườn hạnh nhân

Lã Thăng đời Minh từ nhỏ đã mồ côi mẹ, ông phụng dưỡng cha vô cùng hiếu thuận. Người cha do tuổi đã cao, đêm thường đi tiểu, Lã Thăng bèn ngủ cùng cha, để tiện chăm sóc. Mỗi đêm Lã Thăng phải dậy 4, 5 lần dìu đỡ cha già đi tiểu.

Có một năm gặp phải binh đao chiến loạn, cướp bóc nổi lên khắp nơi. Lã Thăng bèn cõng cha trốn chạy vào trong núi, giữa đường bỗng gặp toán cướp. Nhưng những tên cướp hung hãn này vốn nghe danh Lã Thăng hiếu kính đã lâu, bị cảm động bởi tâm đại hiếu, nên đã để họ yên bình đi qua.

Cha Lã Thăng bình thường rất thích ăn hạnh nhân thơm ngọt, vì vậy Lã Thăng trồng rất nhiều cây hạnh nhân xung quanh nhà. Nhưng khu đất trồng hạnh nhân đó sau lại bị người hàng xóm chiếm mất.

Lã Thăng không biết làm thế nào, đành viết một bản tấu, bẩm báo với Thần linh, xin Thần giúp. Thần liền trách phạt người hàng xóm chiếm vườn hạnh nhân của Lã Thăng, khiến cho người nhà ông ta mắc bệnh. Ông ta tìm mời đủ các thầy thuốc chữa mà bệnh không khỏi. Cuối cùng ông đến miếu Thần làm lễ cầu đảo, được Thần báo mộng rằng: “Ngươi phải lập tức trả lại vườn hạnh nhân đã cưỡng chiếm cho người con hiếu thảo Lã Thăng”.

Người hàng xóm này vội vàng trả lại vườn hạnh nhân, bệnh tật của người nhà ông ta liền hết.

Cảm động trước lòng hiếu thảo của Lã Thăng, Thần đã giúp ông lấy lại vườn Hạnh Nhân. (Ảnh minh họa: weibo.com)

Trước nhà hiếu tử mọc cỏ linh chi

Lý Huýnh Tú đời Đường thiên tính chí hiếu. Mẹ ông xuất thân nghèo hèn, còn vợ ông lại xuất thân từ gia đình phú quý. Người vợ vì vậy không nguyện ý hiếu thuận với mẹ chồng, lại còn thường xuyên mắng chửi nữ tỳ ra chiều cạnh khóe, mẹ Lý Huýnh Tú nghe thấy, trong lòng rất không vui.

Lý Huýnh Tú dạy bảo vợ, muốn vợ trở nên khoan hậu hiền thục hơn, nhưng vợ ông vẫn chứng nào tật nấy. Lý Huýnh Tú bèn ly dị vợ. Có người hỏi: “Ông rốt cuộc vì cớ gì mà lại ly dị vợ?”

Lý Huýnh Tú nói: “Mục đích tôi lấy vợ là muốn vợ phụng dưỡng mẹ. Nhưng vợ tôi không dốc sức chăm sóc mẹ chồng, không vui vẻ đối đãi với người dưới. Người con dâu như thế làm sao có thể giữ lại trong nhà tôi được?”

Lòng hiếu kính của Lý Huýnh Tú đã cảm động đến Thiên thượng, vì thế trước nhà ông mọc cỏ linh chi. Đường Trung Tông biết chuyện đã ban riêng một chiếu thư, biểu dương hiếu hạnh của ông.

Thượng Đế thưởng Ngô Hiếu Phụ

Ngô Hiếu Phụ là người đời Tống. Chồng chết sớm, lại không có con, nhưng cô phụng dưỡng mẹ chồng vô cùng hiếu thuận. Mẹ chồng già rồi, mắt lại có bệnh, nghĩ đến con dâu quá cô đơn, nên muốn nhận con trai nuôi, để thành thân với con dâu.

Ngô Hiếu Phụ nghe vậy khóc lóc nói với mẹ chồng rằng: “Từ cổ xưa đến nay, liệt nữ không thờ 2 chồng. Con tự phải dốc hết sức phụng dưỡng mẹ, xin mẹ cứ yên lòng”.

Ngô Hiếu Phụ một lòng thờ chồng và phụng dưỡng mẹ già. (Ảnh minh họa: kknews.cc)

Ngô Hiếu Phụ ngày ngày làm thuê cho hàng xóm, kiếm ít tiền phụng dưỡng mẹ chồng. Đôi khi có người tặng cô đồ ăn, cô đều đem về nhà cho mẹ chồng. Một lần cô đang nấu cơm, còn chưa kịp chín thì một người hàng xóm có việc gấp, gọi cô đến giúp.

Ở nhà, mẹ chồng lo cơm nấu lâu quá sẽ bị cháy, bèn xới cơm bỏ vào trong hộp. Nhưng vì mắt kém nên bà đã bỏ nhầm vào thùng rác.

Khi Ngô Hiếu Phụ trở về, thấy vậy cũng không hỏi, liền vội vàng sang nhà hàng xóm vay ít cơm để mẹ chồng ăn. Sau đó cô dùng nước rửa sạch chỗ cơm bẩn, rồi hấp lại, tự mình ăn.

Một hôm cô bỗng chiêm bao thấy hai đồng tử mặc áo xanh cưỡi mây lành đến trước mặt, tay cầm bản điệp văn nói: “Chúng tôi phụng Ngọc chỉ của Thượng Đế triệu Ngô Hiếu Phụ tiếp kiến”.

Ngô Thiếu Phụ gặp Thượng Đế, Ngài nói với cô rằng: “Con chỉ là một cô thôn phụ, có thể cần khổ tận tâm phụng dưỡng mẹ chồng như thế này, thực sự khiến người ta tôn kính. Vì vậy ta thưởng cho con 1000 đồng tiền (tương đương với 1 lạng bạc xưa), hãy đem về nhà phụng dưỡng mẹ chồng. Từ nay trở đi, còn không cần phải đi làm việc nặng nhọc kiếm tiền nuôi nhà nữa”

Nói rồi, hai đồng tử áo xanh lại đưa cô trở về.

Ngô Hiếu Phụ tỉnh dậy, thấy đầu giường quả nhiên có 1000 đồng tiền. Hơn nữa cứ tiêu hết thì lại có, liên tục như vậy không hết.

Cổ nhân từng dạy: “Bách thiện hiếu vi tiên”, nghĩa là trăm nết thiện thì hiếu đứng đầu. Trong văn hóa truyền thống, chữ Hiếu được đặc biệt coi trọng. Hiếu tử xưa không chỉ dốc sức nuôi dưỡng cha mẹ, mà còn luôn cung kính hiếu thuận, nói lời nhẹ nhàng đầm ấm, cảm niệm từ nội tâm, báo đáp ơn dưỡng dục cha mẹ.

Nhưng ngày nay, nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp đã bị phá hủy, luân lý truyền thống bị xói mòn, do đó muốn khôi phục lại văn hóa truyền thống, thì thiết nghĩ mỗi người chúng ta nên tự bắt đầu bằng hành động của chính mình: Hãy làm một người thiện lương, chân thành, bao dung và nhẫn nại. Người giữ được phẩm đức thì mới có tương lai.

Theo Minh Huệ Radio
Kiến Thiện biên dịch.

Có thể bạn quan tâm:

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

“Trải nghiệm cận tử”: Phát hiện bất ngờ này chứng minh chết không phải là hết! Trang Ly | 28/11/2018 08:06 PM

Posted on by huyentamhh

“Trải nghiệm cận tử”: Phát hiện bất ngờ này chứng minh chết không phải là hết!

Trang Ly | 

"Trải nghiệm cận tử": Phát hiện bất ngờ này chứng minh chết không phải là hết!

Sau khi tim ngừng đập, thứ gì sẽ tiếp tục hoạt động? Nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ sẽ giải đáp vấn đề này.

Giới khoa học trên thế giới đã khám phá ra nhiều biến đổi của cơ thể người sau khi tim của một người ngừng đập.

Ví dụ sau khi tim ngừng đập, sự vận động của tuần hoàn lập tức ngừng theo khiến cho hoạt động trao đổi chất bên trong cơ thể không thể tiếp tục.

Các quá trình sau đó gói gọn trong hai từ “phân hủy”: Các tế bào bắt đầu chết theo do thiếu oxy, bắt đầu quá trình thối rữa sau vài phút tim ngừng đập.

Khoảng vài tháng, ở nhiệt độ khoảng 10 độ C, các mô mềm bị phân hủy hết, chỉ còn trơ lại bộ xương trắng.

Đó là sơ lược về những biến đổi sau khi một người chết đi. Tuy nhiên, đối với các nhà khoa học, cơ thể người là một lĩnh vực ẩn chứa rất nhiều điều kỳ lạ, bí ẩn. Bởi thế, họ không chỉ dừng lại việc giải mã những biến đổi theo chiều hướng “chết đi” của cơ thể người, họ còn muốn khám phá sau khi tim ngừng đập, thứ gì sẽ “tiếp tục hoạt động”, dù chỉ là trong giây lát.

Thứ tiếp tục hoạt động sau khi tim ngừng đập chính là bộ não. Theo đó, khi một người chết, họ biết mình đang chết!

Đó là kết luận của các nhà khoa học. Họ diễn giải ra sao?

Trải nghiệm cận tử: Phát hiện bất ngờ này chứng minh chết không phải là hết! - Ảnh 1.

Hình minh họa.

Tiến sĩ Sam Parnia, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chăm sóc và hồi sức, thuộc Trường Y khoa Langone – Đại học New York (Mỹ), cho biết những người trong giai đoạn đầu của cái chết vẫn có thể trải qua một số hình thức của ý thức.

Thông thường, khi tim ngừng đập, đó sẽ là lúc các bác sĩ kết luận thời điểm tử vong chính thức của một người. Nhưng các nghiên cứu gần đây cho thấy, tâm trí và ý thức của người chết vẫn tiếp tục hoạt động, ít nhất là trong một thời gian ngắn – có nghĩa là người đã chết có thể nhận ra cái chết của chính họ.

Thật vậy, có một số bằng chứng cho thấy người chết thậm chí có thể nghe thấy cái chết của chính họ được bác sĩ thông báo khi họ… nằm trên bàn mổ.

Tiến sĩ Sam Parnia và nhóm của ông tiếp tục nghiên cứu sự hoạt động còn sót lại của ý thức sau cái chết đối với những bệnh nhân tim vừa ngừng đập ở cả châu Âu và Mỹ. Ông nói:

Cũng giống như nhóm các nhà khoa học và tâm lý học tìm hiểu bản chất định tính của con người về “tình yêu”, chúng tôi đang cố gắng hiểu những đặc điểm chính xác mà con người trải quả khi tim của họ ngừng đập. Bởi, chúng tôi biết rõ “trải nghiệm cận tử” này không ngoại trừ một ai trong chúng ta cả.

Chúng tôi có bằng chứng từ chính những người tim ngừng đập rồi đập trở lại trên bản mổ sau khi được cấp cứu. Và họ mô tả chính xác những gì xảy ra xung quanh họ vào thời điểm cận và hậu tử đó.

Trải nghiệm cận tử: Phát hiện bất ngờ này chứng minh chết không phải là hết! - Ảnh 3.

Hình minh họa.

Trả lời Live Science, Tiến sĩ Sam Parnia bổ sung: “Những bệnh nhân “sống lại” đã mô tả việc các bác sĩ và y tá khẩn trương cấp cứu và giao tiếp với nhau như thế nào trong quá trình hồi sinh tim phổi (CPR).”

Chúng tôi tiếp tục nghiên cứu thêm về hoạt động ý thức của một người sau khi chết để xem liệu ý thức có bị “chết theo” hay tiếp tục hoạt động vào khoảnh khắc tim ngừng đập hay không – dù là ở khoảnh khắc ngắn ngủi.

Bài viết sử dụng nguồn: News.com.au

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Truyền kỳ về sư tổ Thiền tông Bồ Đề Đạt Ma

Posted on by huyentamhh

Truyền kỳ về sư tổ Thiền tông Bồ Đề Đạt Ma

Truyền kỳ về Bồ Đề Đạt Ma
Tổ sư Thiền tông Bồ Đề Đạt Ma vốn thuộc dòng tộc Bà La Môn ở nước Nam Thiên Trúc. Ngài có trí huệ phi phàm, sáng suốt thông tỏ, ngộ tính rất cao, cả đời chuyên chú tu luyện Phật Pháp đại thừa.

Năm Phổ Thông thứ nhất đời Lương Võ Đế, ngài đến Quảng Châu. Hay tin, Võ Đế bèn sai sứ giả đem chiếu thư mời ngài đến Kim Lăng (Nam Kinh ngày nay). Lương Võ Đế đích thân hỏi ngài rằng: “Từ khi lên ngôi đến nay, trẫm đã xây dựng chùa, tinh xá, ấn tống kinh sách, cúng dường, độ tăng nhân nhiều không đếm xuể, xin hỏi có được công đức gì?”.

Đạt Ma trả lời: “Chẳng có công đức gì”.

Võ Đế hỏi tại sao, Đạt Ma nói: “Bởi vì đó là hữu lậu. Tuy xem ra là có công đức, nhưng nó không chân thực”.

Võ Đế lại hỏi: “Thế nào là chân công đức?”.

Đạt Ma nói: “Trí huệ thanh tịnh diệu màu viên mãn, thân thể hoàn toàn hư không tĩnh lặng, như thế công đức không thể cầu ở việc thế sự được”.

Võ Đế lại hỏi: “Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa?”.

Đạt Ma đáp: “Đại ngộ hoàn toàn không có Thánh”.

Lương Võ Đế không hiểu được huyền cơ trong đó. Bồ Đề Đạt Ma bèn rời bỏ nước Lương ra đi, bẻ một cọng lau vượt sông Trường Giang đến địa phận Bắc Ngụy.

Ngài đến Lạc Dương, tu hành ở chùa Thiếu Lâm trên núi Tung Sơn, ngồi quay mặt vào vách đá 9 năm tọa thiền. Sau khi công thành viên mãn, ngài truyền pháp môn Thiền tông cho Nhị tổ Huệ Khả rồi viên tịch, nhục thân được an táng ở núi Hùng Nhĩ.

Người đời đều cho rằng Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma đã viên tịch, nhưng thật kỳ lạ là có người đã từng gặp mặt, thậm chí còn nói chuyện với Tổ sư Đạt Ma. Đó chính là vị quan nước Bắc Ngụy tên là Tống Vân, từng phụng chỉ Minh Đế đi sứ Tây Vực. Trên đường trở về, Tống Vân gặp Bồ Đề Đạt Ma ở núi Thông Lĩnh, trên tay cầm một chiếc giày đi một mình. Tống Vân hỏi ngài đi đâu, Đạt Ma nói là đi Tây Thiên. Ngài còn nói với Tống Vân rằng: “Chủ của ông đã chán cõi đời rồi”.

Vị quan nước Bắc Ngụy tên là Tống Vân, từng gặp Bồ Đề Đạt Ma ở núi Thông Lĩnh. (Ảnh từ youtube)

Tống Vân không hiểu nghĩa là gì, khi về đến kinh thành mới biết là Minh Đế đã băng hà, Hiếu Trang lên ngôi. Tống Vân đem chuyện giữa đường gặp Bồ Đề Đạt Ma kể với hoàng đế, hoàng đế hạ lệnh mở quan tài của Đạt Ma, phát hiện bên trong chỉ có một chiếc giày mà thôi.

(Nguồn: “Thần tăng truyện”, quyển 4)

Theo Chánh Kiến
Nhất Tâm biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.