Tài-liệu Tu-Học

Trí huệ người xưa: Nói là một năng lực, nhưng im lặng mới là cách hành xử của bậc cao nhân

Trí huệ người xưa: Nói là một năng lực, nhưng im lặng mới là cách hành xử của bậc cao nhân

Chia Sẻ

431
Vì sao các bậc thánh hiền xưa nay đều lặng lẽ? Ấy là bởi họ đã coi nhẹ mọi sự trên thế gian, lánh xa cõi hồng trần ô trọc để tâm thái tĩnh lặng tựa mặt hồ…

Là một trong “Tứ đại Phật sơn” của Trung Quốc, núi Cửu Hoa được biết đến là nơi có nhiều bậc cao tăng đã tu hành đắc Đạo. Di thể của họ dù đã viên tịch nhiều năm nhưng vẫn còn vẹn nguyên như đang nằm ngủ. Hòa thượng Đại Hưng là một trong những vị cao tăng như thế.

Và dưới đây là câu chuyện được người đời truyền tụng về phẩm cách cao quý của ông.

Chuyện kể rằng khi hòa thượng Đại Hưng còn đang tu hành trên núi, dưới chân Cửu Hoa Sơn có một gia đình rất giàu có. Họ có một người con gái tên là Tiểu Hội, đã từng hẹn ước với công tử của một gia đình quyền quý khác.

Ba năm trước khi chọn ngày hôn lễ, Tiểu Hội có mang và sinh ra một bé trai. Cha mẹ cô rất tủi nhục, vừa lo sợ vừa giận dữ, họ đã bắt cô phải nói ra sự thật.

Cuối cùng, vì không chịu được áp lực từ gia đình, Tiểu Hội khai rằng cha đứa bé chính là hòa thượng Đại Hưng trên núi Cửu Hoa Sơn.

Cha của Tiểu Hội rất tức giận, ông đã đem gia nhân lên núi làm náo động cả ngôi chùa. Họ đánh đập, chửi bới và nguyền rủa hòa thượng Đại Hưng, rồi bắt ông phải nuôi dưỡng con trai mình. Hòa thượng Đại Hưng lặng lẽ nhận đứa bé và chắp tay nói khẽ: “A Di Đà Phật!”.

Cũng kể từ đó, danh tiếng của hòa thượng Đại Hưng đã sụp đổ hoàn toàn. Bất cứ nơi nào ông đến, thiên hạ đều khinh bỉ cười nhạo và phỉ báng ông.

Thậm chí các tăng nhân trong chùa cũng không còn tôn kính ông như ngày trước nữa. Thế nhưng ông không một lời than vãn, vẫn ngày ngày xuống núi xin sữa để nuôi đứa con nghiệp chướng này.

Được sự dưỡng dục chu đáo của ông, đứa trẻ lớn nhanh như thổi lại rất khỏe mạnh và thông minh.

(Ảnh minh họa: Pinterest)

Cứ như vậy, 3 năm trôi qua trong nháy mắt…

Một ngày kia, gia đình Tiểu Hội lại lên núi gặp hòa thượng Đại Hưng. Nhưng họ không trách mắng, cũng không nhục mạ, mà hoàn toàn trái ngược, lại quỳ gối dập đầu và xin ông tha thứ, cho phép họ được đón đứa trẻ về nhà.

Thì ra, cha của đứa trẻ chính là người chồng hiện tại của Tiểu Hội, cũng là chàng công tử đã đính hôn với cô năm xưa. Vì muốn giữ thanh danh cho vị hôn phu của mình mà Tiểu Hội phải đành lòng vu oan cho hòa thượng Đại Hưng.

Đến lúc này, vẫn với phong thái điềm nhiên và thanh thản, ông dẫn đứa trẻ đến trước mặt cha mẹ mình. Và lại chắp tay một cách cung kính, ông nói với họ: “A Di Đà Phật!”, trước khi quay trở lại thiền phòng.

Đối diện với nỗi oan khiên suốt 3 năm ròng rã, nhưng hòa thượng Đại Hưng lại lựa chọn im lặng. Ông không thanh minh, không phân bua giải thích, cũng không ca thán hay oán trách một lời, vậy mà điều đó còn có ý nghĩa hơn ngàn vạn lời nói.

(Ảnh minh họa: giau.co)

Ai đó cho rằng, khi chịu tủi nhục, khi bị đối xử bất công, làm người ai mà chẳng có quyền được đi đòi công lý? Đó không chỉ là quyền lợi chính đáng vốn được pháp luật bảo vệ, mà còn là cái lý công bình trong xã hội này.

Thế nhưng, với các bậc thánh hiền xưa nay, hết thảy mọi danh – lợi – tình – thù, hết thảy mọi được – mất ở thế gian, tất cả chỉ nhẹ nhàng như mây khói mà thôi.

Trong cuốn “U song tiểu ký” có câu đối rằng: “Sủng nhục bất kinh, khán đình tiền hoa khai hoa lạc; Khứ lưu vô ý, vọng thiên không vân quyển vân thư”, nghĩa là: ‘Không quan tâm điều hơn lẽ thiệt, ngắm trước sân hoa nở hoa tàn; Tùy ý ra đi hay ở lại, nhìn khung trời mây tụ mây tan’.

Câu đối này đã nói lên cảnh giới siêu phàm thoát tục của các bậc cao nhân: Nếu có thể xem vinh nhục cũng nhẹ nhàng như đóa hoa sớm nở tối tàn, thì mới có thể giữ cho nội tâm được bình lặng.

Và nếu có thể xem công danh lợi lộc đến rồi đi cũng thất thường như mây tụ mây tan, thì mới có thể giữ nội tâm được vô vi thanh tịnh. Do đó, được mà không hoan hỉ, mất cũng không ưu phiền, vinh mà không kinh động, nhục cũng không bận lòng.

(Ảnh minh họa: Chánh Kiến)

Lý Bạch, người được coi là bậc “thi tiên” đắc Đạo, từng để lại hai câu thơ lưu danh muôn thuở rằng:

“Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh”
(Thánh hiền xưa nay đều tịch mịch
Chỉ phường thánh rượu mới lưu danh)

Vì sao các bậc thánh hiền tự cổ chí kim đều “tịch mịch”? Ấy là bởi họ đã coi nhẹ mọi sự trên thế gian, lánh xa cõi hồng trần ô trọc để tâm thái tĩnh lặng tựa mặt hồ.

Lão Tử có câu: “Thượng thiện nhược thủy” (cảnh giới cao nhất của cái thiện cũng giống như nước vậy). Chỉ có những bậc cao nhân khi đã thấu hiểu mọi sự trên đời, minh tỏ mọi lẽ thế gian mới có thể điềm nhiên mà đối mặt với tất cả.

Trung Quốc cổ xưa có rất nhiều bậc cao nhân như thế. Ví như Đào Tiềm trồng hoa cúc và hoa sen. Lý Bạch uống rượu và thưởng thức ánh trăng. Tô Thức chợp mắt trên chiếc giường mây.

Còn ở Việt Nam ta, Nguyễn Trãi lui về ở ẩn, làm bạn với thiên nhiên: “Láng giềng một áng mây bạc, Khách khứa hai ngàn núi xanh”. Nguyễn Bỉnh Khiêm lánh đời, xa rời nơi thế sự: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ; Người khôn, người đến chốn lao xao”…

Thế gian náo nhiệt, cuộc sống tưng bừng, hết thảy mọi vật đều lôi cuốn con người ta vào cái vòng xoáy bất tận mà không thể nào thoát ra được.

Trăm năm trôi qua trong nháy mắt, đến khi mọi sự qua đi rồi con người ta mới nhận ra rằng tâm hồn mình đã bị che mờ bởi bụi hồng trần, bị chất nặng bởi những cám dỗ trong thế giới vật chất này.

Trong sự hỗn loạn ấy, chỉ có tâm tĩnh lặng của các bậc thánh nhân mới có thể vượt lên cái si mê cuồng dại của con người thế gian.

Tham khảo: Chánh Kiến  
Hồng Liên  

Xem thêm:

Advertisements
Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

Thiếu nữ ái mộ, bỏ bùa A Nan, Đức Phật Thích Ca đã hành xử ra sao?

Thiếu nữ ái mộ, bỏ bùa A Nan, Đức Phật Thích Ca đã hành xử ra sao?

Chia Sẻ

565
Có một thiếu nữ rất hâm mộ ngài A Nan, sau cùng Phật Thích Ca đã khiến cô thay đổi cách nghĩ của mình.

Trong số những tỳ kheo của Phật Thích Ca thì Tôn Giả A Nan là người có tướng mạo khôi ngô tuấn tú nhất. Không những vậy Tôn Giả A Nan lại là người thông minh sáng dạ, lời mà Phật Thích Ca giảng qua nghe một lần là nhớ. Hơn nữa, tính tình ông cung kính khiêm nhường, hiểu sâu Phật lý. Cũng chính vì vậy mà Tôn Giả A Nan có ảnh hưởng rất lớn trong giáo đoàn.

Tôn Giả A Nan khất thực, thiếu nữ gặp mặt si tình hâm mộ

Một lần A Nan đi khất thực, trên đường về đi qua một thôn làng nhỏ, đương lúc khát nước lại thấy một cô thiếu nữ đang múc nước ở cái giếng nhỏ bên đường. Tôn Giả A Nan bước đến xin khất thực một ngụm nước uống cho khỏi khát, bèn nói: “Thưa cô, xin cô vui lòng cho tôi một gáo nước“.

Cô gái đang múc nước nghe thấy tiếng người hỏi mình nên ngẩng lên nhìn, thấy một vị tỳ kheo trẻ tuổi, tướng mạo khôi ngô, điềm đạm từ bi. Cô nhìn lại trang phục của mình thì tự lấy làm xấu hổ nên nói: “Bạch Đại Đức, con vốn thuộc dòng hạ tiện nên không có tư cách để dâng nước cúng dường Đại Đức, như vậy sẽ làm hạ thấp đi thân phận vương giả xuất gia cao quý của ngài”.

Tôn Giả A Nan nghe vậy liền nói: “Cô đừng nghĩ như vậy, tôi nay đã là một sa môn, trong mắt người tu hành, mọi người đều bình đẳng như nhau. Trong lòng tôi, không hề có sự phân biệt người vương giả, hay kẻ bần nông. Hiện giờ tôi rất khát nước, xin cô vui lòng cho tôi xin một gáo”.

Thiếu nữ gặp Tôn Giả A Nan lần đầu đã sinh tình hâm mộ. (Ảnh: titoho.com)

Cô gái nghe thế thì lòng rất vui, liền dùng hai tay dâng nước cúng dường cho Tôn Giả A Nan. Tôn Giả A Nan khiêm nhường, lễ phép nhận nước từ cô gái, uống xong rồi nhẹ nhàng cảm tạ. Cô gái cảm động, đưa mắt nhìn theo bóng dáng Tôn Giả A Nan xa dần theo bóng chiều tà.

Cũng bắt đầu từ đó, trong lòng cô khởi lên một niềm nhớ nhung. Cô chìm đắm trong ưu tư, ủ dột, dáng người hao gầy. Mẹ cô thấy bộ dạng con gái mình cả ngày buồn bã không thôi, nên mới hỏi chuyện con gái xem rốt cuộc là có chuyện gì. Cô gái biết là không thể giấu được mẹ nên đành kể lại sự việc mấy hôm trước cúng dường cho Tôn Giả A Nan ở bên giếng nước: “Tuy chỉ gặp một lần mà sự khôi ngô tuấn tú điềm đạm cùng với thái độ cung kính khiêm nhường, từ bi của Tôn Giả A Nan làm cho con giờ đây lòng đêm nhung ngày nhớ chẳng thể nào quên“.

Mẹ cô gái nghe xong nói: “Trên đời này có hai loại người con không thể nào có được, một là người thuộc dòng dõi vương giả, hai là người xuất gia đoạn dục. Nghe nói Phật là bậc thánh giả cao sang, đệ tử của ngài đều đoạn bỏ ái tình, mẹ thấy con mộng tưởng như vậy thật là không có cách nào làm được”.

Cô gái đáp: “Sự việc thế gian con người, tất cả đều từ nỗ lực mà có, nếu không có được A Nan con cũng sống không được. Vậy sao không tự mình tìm cách để có được ái tình của mình”?

Mẹ cô gái vì quá thương con, lại không có cách nào nên đành tìm một thầy pháp sư xin câu thuật chú để làm mê muội Tôn Giả A Nan, khiến cho trí huệ của A Nan không còn như trước. Không biết thuật chú có linh nghiệm hay không nhưng từ hôm đó, cô gái ngày ngày trang điểm xinh đẹp đứng đợi Tôn Giả A Nan đi qua, miệng mỉm cười, tâm đọc thuật chú, tay vẫy chào Tôn Giả A Nan. Tôn Giả A Nan từ trong tịnh xá đi ra, vừa nhìn thấy cô gái liền nhận ra ngay đây là cô gái bên bờ giếng hôm trước.

Nhờ Phật quang của Phật Thích Ca nên tà ác không thể xâm nhập vào Tôn Giả A Nan làm thuật chú của cô gái không thể khởi tác dụng. (Ảnh: tinhhoa.net )

Cô gái lễ phép tiến lại gần chào hỏi, Tôn Giả A Nan nhận ra ngay dụng tâm của cô gái muốn dùng sắc đẹp để thu hút tình cảm của mình. Tôn Giả A Nan lập tức khởi lên trí huệ của mình, đồng thời cảm nhận được Phật quang phổ chiếu, bao quanh thân thể của mình nên quay về tịnh xá. Cô gái thấy vậy liền dùng thuật chú để huỷ hoại trí huệ của Tôn Giả A Nan, nhưng Phật quang của Phật Thích Ca liền bao bọc lấy thân thể của Tôn Giả A Nan không cho tà ác xâm nhập, khiến cho câu thuật chú của cô gái không thể khởi được tác dụng.

Rũ bỏ ái tình quay về bờ giác

Thật trùng hợp thay, sang ngày hôm sau, lại đúng là ngày 15/4, là ngày Phật Thích Ca quy định bắt đầu ngày đầu tiên mùa an cư từ ngày 15/4 đến ngày 15/7. Trong khoảng thời gian này, đệ tử của Phật Thích Ca sẽ không rời tịnh xá đi khất thực. Cô gái đau lòng sốt ruột vì không thể gặp được Tôn Giả A Nan, đành phải kiên nhẫn chờ đợi ngày Tôn Giả A Nan bước ra. Khi Tôn Giả A Nan vừa bước ra, cô gái vội vàng chạy lại quỳ dưới chân mà nói: “Tôn Giả A Nan, không có người, nhật nguyệt không có ánh quang, không có người, cuộc đời tôi không còn ý nghĩa, tôi nguyện đem trái tim này dâng hiến cho người“.

Tôn Giả A Nan nghe thấy cô gái nói vậy thì từ bi nói: “Cô đứng dậy, chúng ta cùng đi gặp Phật Thích Ca, ngài sẽ làm chủ cho chúng ta”. Cô gái tưởng Tôn Giả A Nan đã đổi ý thay lòng, muốn cùng mình nên duyên trong lòng tràn ngập niềm vui cùng Tôn Giả A Nan đi gặp Phật Thích Ca.

Phật Thích Ca nhìn cô gái rồi nói: “Con thực sự muốn cùng A Nan chung sống phải không?”. Cô gái ôm hai tay trước ngực, cúi đầu đáp: “Thưa vâng“. Phật Thích Ca nói: “A Nan là một tỳ kheo xuất gia, con nên xuất gia một lần, hơn nữa còn cần phải tu hành tinh tấn, đợi đến khi đạo tâm của con tương đồng với A Nan, ta sẽ cử hành hôn lễ cho con”.

Cô gái khi nghe Đức Phật Thích Ca nói mấy câu sau này bừng tỉnh ngộ. (Ảnh:taman.tv)

Cô gái chỉ muốn được làm vợ của Tôn Giả A Nan, nay lại nghe được lời này của Phật Thích Ca nên lập tức vui vẻ nhận lời mọi yêu cầu, chỉ cần có thể được làm vợ A Nan là được. Cô gái xuống tóc, gia nhập vào nữ đoàn ngày ngày tinh tấn tu hành, làm theo lời Phật dạy.

Tâm tính của cô mỗi ngày một thay đổi, thanh tĩnh hơn cùng với sự tinh tấn tu hành, đối với Pháp lý mà Phật giảng cũng ngày càng lĩnh ngộ nhiều hơn. Rồi một ngày, trong lúc tĩnh tâm thiền định, cô mới nhìn lại tình yêu của mình. Phật thường giảng ngũ dục là cội nguồn của mọi đau khổ thế gian, chỉ có buông có dục niệm, nội tâm mới có thể thanh tịnh, cuộc sống mới có thể an lành.

Cô bắt đầu thấy hối hận về về dục vọng bất thiện của bản thân, mê mờ vào tình ái với Tôn Giả A Nan, mỗi ngày đều quỳ trước Phật ăn năn hối cải. Cô nói: “Thưa Đức Phật từ bi vĩ đại, bây giờ con đã hoàn toàn từ trong mê mờ tăm tối mà thanh tỉnh bước ra, đã không còn si dại hồ đồ như trước. Con đã minh bạch được Thánh quả mà con tu chứng. Con tạ ơn người, người vì những chúng sinh ngu muội như con mà phải lao tâm khổ tứ, xin ngài hãy từ bi cho phép con được hối cải. Từ nay con sẽ nguyện phục tùng mọi giáo hoá của người, triệt để từ bỏ dục niệm, xa rời bể khổ, làm một người tu hành chân chính”.

Phật Thích Ca nghe xong cười nói: “Tốt, ta sớm đã biết con sẽ có ngày lĩnh ngộ như hôm nay, căn cơ của con rất tốt, hãy tinh tấn tu hành”.

Minh Vũ

Xem thêm:

Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

Nghiệp lực theo thân gặp ác báo, đệ tử Phật Đà cũng không thoát được

Nghiệp lực theo thân gặp ác báo, đệ tử Phật Đà cũng không thoát được

Đức Phật dạy, dù người ta có lên núi cao hay trốn xuống vực thẳm, cũng không thể nào tránh được nghiệp quả khi đủ nhân duyên. 

Tại một làng chài ở nước Kosala Ấn Độ, có một cậu bé tên gọi Lou Sharjah, trong nhiều đời trước từng xuất gia học Đạo. Tuy nhiên vì lòng tham lam và chấp trước danh lợi quá nhiều, lại cộng thêm lòng dạ hẹp hòi, ghen tuông đố kỵ nên từng lừa dối một vị La Hán Tì Kheo. Bởi vậy sau khi đầu thai chuyển kiếp trong một làng chài, Sharjah đã rơi vào vực sâu khổ nạn, không những bản thân chịu nhiều khổ hạnh mà còn liên lụy đến những người xung quanh.

Người trong họ vứt bỏ mầm họa tai ương 

Trong làng chài nơi cậu bé ở có khoảng một ngàn hộ dân, họ là một đại gia tộc yêu thương, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng sự xui xẻo bắt đầu xảy đến từ ngày mẹ Sharjah mang thai cậu bé. Một ngàn hộ dân cùng nhau ra biển đánh cá, nhưng không đánh bắt được bất kỳ thứ gì. Và từ đó trở đi ngày nào cũng vậy, họ đều trở về tay không.

Những người dân trong làng ngày một trở nên nghèo đói, nhất là trong chín tháng mười ngày khi mẹ cậu bé mang thai. Những sự cố liên tiếp không ngừng theo nhau gõ cửa người dân và mang tới cho họ những bất hạnh không ngờ tới. Đó là bảy lần trong làng xảy ra hỏa hoạn, bảy lần bị vua xử phạt. Những rủi ro liên tiếp xảy đến làm mọi người không thể không họp bàn trao đổi. Họ cho rằng “Tai ương kỳ lạ và những điều không may này xảy đến, nhất định đều do trong làng có mầm bất hạnh“. Thế nên họ chia gia tộc mình thành hai nhóm, mỗi nhóm 500 người.

Sự xui xẻo bắt đầu xảy đến từ ngày mẹ Sharjah mang thai cậu bé. (Ảnh: dantri.com.vn)

Sau khi phân chia, ở nhóm có mẹ cậu bé thì tình trạng thê thảm vẫn luôn tiếp diễn, nhóm còn lại thì sớm khôi phục lại trạng thái như bình thường. Thế là họ lại tiếp tục chia nhóm bị xui xẻo đó thành hai nhóm nhỏ khác để phân định, cuối cùng phát hiện nguyên nhân tai họa là từ gia đình cậu bé Sharjah. Họ dồn gia đình đầu bé tới bước đường cùng, cô lập và đuổi họ ra khỏi làng.

Trong những ngày tháng lưu lạc, chạy trốn gian nan, vất vả, mẹ cậu bé sinh hạ Sharjah. Trong những năm tháng đầu đời của cậu, bà vẫn làm tròn trách nhiệm của một người mẹ, cố gắng nuôi dưỡng cậu thành người. Cho tới một ngày, khi cậu bé có thể đi, có thể chạy nhảy, bà trao cho cậu một cái bát và nói: “Con trai khổ mệnh của mẹ từ giờ con hãy tự đi xin ăn nhé“. Bà chỉ nói vậy rồi bỏ đi để lại một mình Sharjah bơ vơ không nơi nương tựa. Từ đó hằng ngày cậu bé lang thang xin ăn nơi đầu đường xó chợ, cuộc sống khổ cực khôn cùng không tả xiết.

Xá Lợi Phất thu nhận và giúp đỡ cậu bé bị bỏ rơi

Một ngày nọ, đại đệ tử của Phật Đà tên là Xá Lợi Phất, tôn giả đang đi hóa duyên bỗng nhiên nhìn thấy Sharjah. Cậu bé đang quỳ bên cạnh một mương nước thải rửa đồ ăn của một gia đình giàu có, giống như một chú chim non cô độc đang nhặt từng hạt từng hạt cơm thừa. Thân hình gầy gò nhỏ bé, cậu mặc một bộ quần áo rách nát, tới mức lộ hết cả người, trông vô cùng đáng thương tội nghiệp. Xá Lợi Phất nhìn thấy, trong lòng đầy từ bi, thương cảm tiến tới gần và hỏi: “Này cậu bé con sống ở đâu, con không có cha mẹ sao?“.

Sharjah nhìn vị tôn giả vừa sợ sệt, vừa rơm rớm nước mắt trả lời: “Con là đứa trẻ lang thang không có nhà để về, cha mẹ con từng nói với con: Nghiệp lực của con lớn quá làm liên lụy tới cả gia tộc, cha mẹ cũng vì con mà bị liên lụy tới sức cùng lực kiệt rồi. Và thế là họ vứt bỏ con rồi rời đi, có lẽ cả đời này cũng không muốn gặp lại con nữa“.

Tôn giả hỏi cậu: “Con có muốn xuất gia không?“.

Cậu bé gật đầu chắp tay nói: “Thưa tôn giả con muốn ạ. Thế nhưng một người bất hạnh như con thì ai có thể đồng ý tiếp nhận chứ? Hơn nữa con còn làm liên lụy tới mọi người”. 

Xá Lợi Phất từ bi nhìn cậu bé mà đáp: “Ta sẽ giúp con xuất gia”.

Xá Lợi Phất cho cậu bé ăn no, rồi đích thân tắm rửa, trai giới cho cậu. (Ảnh: pinterest.se)

Sharjah vui sướng như đứa trẻ được quà, đi theo tôn giả. Sau khi về tới chùa, Xá Lợi Phất cho cậu bé ăn no, rồi đích thân tắm rửa, trai giới cho cậu, lại dạy cậu Phật Pháp và truyền thụ cho cậu giới luật của Phật môn. Dưới sự che chở của Xá Lợi Phất, cuộc sống của Sharjah cứ vậy đều đặn trôi đi. Tuy nhiên bởi nghiệp lực tự thân đã mang theo từ kiếp trước, nên tới kiếp cuối cùng cậu tất phải chịu đựng sự nghèo khó lâu dài, phải chịu nghiệp nhân quả báo ứng đói khát.

Là một người xuất gia, là một Tì Kheo, Sharjah cũng như mọi người thường xuyên mang bát đi hóa duyên đi xin ăn. Tuy nhiên có một việc hết sức kỳ lạ luôn xảy đến với cậu. Chiếc bình bát xin ăn của cậu chỉ cần đổ một thìa cháo vào là sẽ đầy tràn lên, những người bố thí thấy bát đã đầy liền không đổ thêm vào nữa. Lại có một số người bố thí khác thường nói: “Thật lạ kỳ lần nào cũng vậy cứ bố thí cháo đến lượt cậu bé thì thùng cháo đều hết bởi vậy không cách gì cho cậu được“.

Để chứng đắc được quả vị La Hán, Sharjah chỉ có thể buông bỏ các loại dục vọng biết đủ làm vui. Ăn không cầu no chỉ cầu có thể duy trì sự sống của cơ thể là đủ.

Sharjah mệnh tận, được Tôn giả bảo vệ

Khi thọ mệnh của Sharjah đã tận và sắp nhập Niết bàn, trong nhập định Xá Lợi Phất biết được bèn nghĩ: “Ta phải cho Sharjah ăn một bữa thật no mới được”. Thế là tôn giả đi cùng với Sharjah vào thành Xá Vệ hóa duyên tuy nhiên vẫn không thấy người dân bày tỏ tấm lòng tôn kính. Thấy tình hình như vậy Xá Lợi Phất bèn nói: “Sharjah ngươi hãy về trước đi”.

Sau khi Sharjah rời đi, tôn giả lập tức có được thức ăn. Người liền sai một người khác mang tới cho Sharjah, không ngờ người đó ăn hết số thức ăn này. Khi trở về Xá Lợi Phất hỏi Sharjah: “Đã ăn đồ ăn đó chưa?“. Sharjah trả lời: “Cảm ơn tôn giả để sau này con ăn“.

Xá Lợi Phất nghe vậy cảm thấy bất an, lại nhìn lên Mặt Trời đã quá giờ cơm liền đích thân đi tới hoàng cung của nước Kosala, biến hóa thành một bát thức ăn rất ngon lành mang về cho Sharjah. Tuy nhiên Sharjah chỉ dám cúi chào tôn giả mà sợ hãi xấu hổ không ăn. Tôn giả nhìn cậu từ bi, khuyên nhủ: “Nào Sharjah lại đây ngồi xuống và ăn thức ăn trong chiếc bát này của ta đi. Nếu như chiếc bát này rời khỏi tay ta, e rằng thức ăn trong đó sẽ không còn gì nữa”.

Tôn giả đi cùng với Sharjah vào thành Xá Vệ hóa duyên tuy nhiên vẫn không thấy người dân bày tỏ tấm lòng tôn kính. (Ảnh: taman.tv)

Do dự hồi lâu, Sharjah mới tiến tới ăn hết đồ ăn trong chiếc bát tôn giả cầm trên tay. Dựa vào uy lực thần thông của Xá Lợi Phất, thức ăn trong bát mới không bị biến mất và Sharjah mới được một bữa ăn no đầu tiên trong cuộc đời mình.

Tối đó không còn chút lưu luyến thế gian, Sharjah bình thản rời khỏi nơi đã mang tới khổ hạnh cả đời cho mình, trả hết nghiệp báo và vĩnh viễn trở về nơi an lạc của các bậc thánh nhân. Xá Lợi Phất nhìn thấy cậu vứt bỏ được thân thể khổ hạnh và thoát ly thế tục trong lòng như bỏ được một tảng đá nặng, không còn gì vương vấn, bất an.

Chúng ta xin đừng vì sự đố kỵ và ham muốn lợi ích vật chất mà tạo duyên nghiệp để rồi phải rơi vào bể khổ trầm luân như Sharjah, cuối cùng tới đi xin ăn cũng không ai cho. Gieo nhân nào thì gặt quả ấy, như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, việc làm ác cũng lại như thế.

Đức Phật dạy, dù chúng ta có lên núi cao hay trốn xuống vực thẳm cũng không thể nào tránh được nghiệp quả khi đủ nhân duyên. Bởi vậy hãy luôn hành thiện tích đức để đắc phúc báo bởi “Thiện hữu thiện báo ác hữu ác báo” là quy luật bất biến mãi mãi trường tồn của vũ trụ.

Kiên Định

Xem thêm:

Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

NGŨ UẨN VÀ THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN 


NGŨ UẨN VÀ THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN 
THÍCH HUỆ HẢI 
Nhật Bảo Quốc dịch

Trong truyền thống Phật Giáo, chúng ta niệm “Nam Mô” rất nhiều. Trong tiếng Anh, “Nam Mô” có nghĩa là “quy mạng”. Khi khấn nguyện Đức Phật, chúng ta không nói “Xin Đức Phật, hãy dẹp sạch mọi khó khăn cho con”. Mà chúng ta thật sự dâng hiến, cúng dường bản thân mình cho Đức Phật. Chúng ta buông bỏ những điều “ta muốn cái này”, “ta không muốn cái kia” và nguyện làm bất cứ những gì mà Đức Phật muốn chúng ta làm. Dĩ nhiên, Chư Phật không cần chúng ta phải làm gì cho các ngài cả. Mà, các ngài muốn chúng ta hãy tỉnh thức, giác ngộ khỏi sự si mê, vô minh của ta, trở thành toàn giác và cứu giúp những chúng sanh đau khổ khác. Vì vậy, khi chúng ta niệm “Nam Mô” là chúng ta hứa nguyện, học và thực hành Phật Pháp trong khả năng tối đa của mình. Đó là lý do tại sao những khóa học này rất quan trọng. Chúng giúp ta hoàn thành lời khấn nguyện này. Và qua sự thực hành Phật Pháp, chúng ta mới có thể an lạc hơn trong đời sống này và đời sống tương lai, cũng như mang lại sự an lạc hơn cho kẻ khác.

Vậy, đề tài thảo luận hôm nay là Ngũ Uẩn và Thập Nhị Nhân Duyên. Đề tài này có vẻ khô khan nhưng nó rất quan trọng. Bằng sự thấu hiểu, chúng ta thật sự là gì và tiến trình tâm lý đưa tới đau khổ, chúng ta mới có thể phá bỏ cái vòng si mê và tiến tới giác ngộ, mang lại sự lợi lạc cho mọi chúng sanh.

Thiền quán 1: Sự tỉnh giác của tâm – 10 phút. 

NGŨ UẨN: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức
“Skandha” tiếng Phạn có nghĩa là “đống, mớ” hay “tập hợp, nhóm”, mà âm Hán Việt là “Uẩn”. Chúng ta thường gọi chúng là “Ngũ Uẩn”. Năm nhóm này hợp lại thành những gì mà chúng ta lầm tưởng là một con người. Thật ra, tất cả chúng sanh đều có ngũ uẩn. Dựa vào năm nhóm này mà chúng ta tin lầm về một cái ta, tự ngã thật. Thật ra, cái mà chúng ta gọi là ta, tự ngã, chỉ là sự tập trung tạm thời của năm nhóm này. Cũng giống như là việc gọi “cái áo” để mô tả một cái, thật ra được làm từ những sợi chỉ riêng rẽ dệt lại, hay “cái bánh” để mô tả cái hổn hợp từ bột, nước, đường, v.v.

SẮC nói đến mọi hiện tượng vật chất. Trong trường hợp của ngũ uẩn, chúng ta nói về khía cạnh thân thể vật lý. Và dĩ nhiên, thân thể này được thành lập bởi bốn thành phần như: phần rắn, phần lỏng, phần nóng, phần hơi. Nếu chúng ta phân tách thân thể ra và đặt các đốt xương lại thành đống, tóc để riêng, máu vào chậu này và thịt một đống kia, thì chúng ta còn lại cái gì? Thân thể đâu rồi? Tất cả những phần này còn có thể phân nhỏ ra thành tế bào và phân tử. Ngay cả phân tử cũng có thể chia nhỏ ra được. Khoa học hiện đại cho chúng ta biết, những gì mà chúng ta nghĩ là rắn chắc thật ra chỉ là dạng năng lượng. Vì vậy thể xác chỉ là sự tập trung tạm thời của các thành phần.

Theo Ngài Dilgo Khyentse Rinpoche, một vị thầy Tây Tạng, thì chúng ta có thể liên kết thân thể với năm nguyên tố: thịt và xương thuộc về đất, hơi thở thuộc về khí, chất lỏng thuộc về nước, thân nhiệt thuộc về lửa, và khoảng trống trong thân thể thuộc về không gian.

Bây giờ, qua sự hiểu biết là thân thể được cấu tạo bởi các thành phần có thể bị tan rã, là đề mục giúp cho chúng ta thiền quán về vô thường. Thân thể chỉ là sự tập trung các thành phần đến với nhau qua nhiều nguyên nhân và điều kiện (nhân duyên). Khi những nguyên nhân và điều kiện đó cạn kiệt, được tận dụng, thì thân không còn nữa. Thế giới bên ngoài cũng vậy. Ngôi chùa này trong một ngày nào đó không còn nữa, và cũng sẽ như vậy ngay cả hành tinh này.

Tuy vậy, chúng ta không nên xem sự vô thường (tạm bợ, không vĩng viễn) như là kẻ thù. Vì có vô thường, nên chúng ta không bị mắc kẹt liên lũy vào sự khổ ải của mình. Bởi vì vô thường mà chúng ta mới có thể thăng tiến và chuyển hóa, thay đổi. Thật ra, vô thường là người bạn quý, nó sẽ luôn luôn lấy đi sự đau đớn và khổ não của chúng ta. Vấn đề là những khó khăn mới lại xuất hiện.

Bốn uẩn còn lại mang tánh cách tâm lý mà chúng ta gọi là tự ngã. Cảm nghiệm (sự cảm ứng, thể nghiệm) không thể nào có được nếu không có sự hay biết (mà chúng ta gọi là thức. Vậy cảm nghiệm đến từ sự phối hợp của giác quan như mắt (căn) thấy đối tượng con chim (trần), và sự hay biết (thức). Không có sự hay biết (thức), thân thể chỉ là một cái xác và vì vậy không có cảm nghiệm nào cả. Điều quan trọng ở đây là tâm, tâm ý, là giác quan thứ sáu, mà ta gọi là ý thức, mà ý tưởng và ký ức là đối tượng của nó (pháp). Mục đích của tâm là chuyển tải những giác quan (căn) và đối tượng (trần) của chúng trở thành những cảm nghiệm riêng rẽ. Thầy sẽ xét các uẩn này theo thứ tự khác với lối thường để hiểu rõ chúng hơn.

THỨC thật ra là uẩn thứ năm. Nó chỉ đơn giản là sự hay biết. Nó không đưa ra ý tưởng hay gọi tên cho một cái gì. Nó không thông minh, hay chúng ta có thể nói, nó không là cái gì biết suy nghĩ. Thức bao gồm năm giác quan về thấy, nghe, ngửi, nếm và chạm. Cùng với những đối tượng của giác quan như là vật để thấy, âm thanh để nghe, v.v., chúng là căn cứ của cảm nghiệm. Những cảm nghiệm này hiện diện qua sự hay biết thô sơ hơn. Thức là một sự có mặt của sự hay biết lờ mờ. Chúng ta có thể nghĩ trình độ hay biết này như là một căn phòng trống chứa đầy ánh sáng. Đó là khả tính mà ở đó, những cảm nghiệm sanh khởi từ sự tiếp xúc của năm giác quan với các đối tượng của chúng.

Một điều cần nhấn mạnh ở đây là thức không phải lúc nào cũng hiện diện. Thức sanh khởi một cách tạm thời khi mà giác quan tiếp xúc với đối tượng tương ứng của nó. Vì vậy, khi con mắt thấy đối tượng, khi đó nhãn thức mới xuất hiện. Nhưng khi con mắt của chúng ta nhắm, thì không có nhãn thức.

THỌ là cảm giác dễ chịu (sướng), khó chịu (khổ) hay trung tính. Điều này xảy ra không có tên gọi của tri thức nào cho cảm giác đó. Nó chỉ là phản ứng theo bản năng.

TƯỞNG là cách chúng ta nhận ra một sự vật hay không. Thí dụ, khi chúng ta nếm sô-cô-la chúng ta biết ngay nó là cái gì. Khi chúng ta thấy cái nhà, chúng ta gọi nó là “cái nhà”. Nếu chúng ta không biết một cái gì, thì tưởng cố gắng tìm hiểu nó.

HÀNH là cách mà chúng ta phản ứng đối với những gì mà chúng ta gặp. Nó là tất cả những tư tưởng, cảm giác, ý tưởng, ước muốn, v.v. là kết quả của bốn uẩn kia.

Bây giờ chúng ta hãy xét một thí dụ trong tiến trình này. Trước hết, chúng ta được sanh ra, chúng ta có hình tướng (sắc) và dĩ nhiên là chúng ta được sanh ra trong thế giới này, vì vậy chúng ta cũng có cảm giác (thọ) với các vật bên ngoài. Chúng ta cũng có các thức qua năm giác quan như nhãn, nhĩ, v.v. Như chúng ta ngửi cái gì mà chúng ta không thích. Có lẽ chúng ta nhăn mặt ghê tởm. Đó là “thọ”. Khi chúng ta nhận ra đó là mùi hôi của sữa hư. Đó là “tưởng”. Khi chúng ta nghĩ, “Thằng ngốc nào đã để sữa bên ngoài? Thật là phí phạm! Mùi hôi làm cho ta khó chịu. Ta phải quang nó ra ngoài và mở cửa sổ để mùi hôi ra khỏi đây..” Đó là “hành”.

Vậy, như Thầy đã giải thích trước đây, những gì mà chúng ta gọi là “ta, tự ngã” chỉ là cái tập hợp tạm thời của năm uẩn này. Nhưng nếu năm uẩn này tan rã như chúng ta đã thấy trong sắc uẩn ở phần trước. Thức hay sự hay biết, thực ra chỉ là một chuỗi của những chặp hay biết xuất hiện và biến dạng một cách nhanh chóng. Vì vậy, chúng ta nghĩ nó là một tư tưởng liên tục nhưng thực ra nó là một chuỗi những chặp tư tưởng cực nhanh, luôn luôn thay đổi. Giống như thân thể, tâm thức không thể nào nắm bắt được. Không có một điểm nào của thân hoặc của tâm mà chúng ta có thể nắm bắt và nói là nó đây này, bởi vì cái chặp ý tưởng mà ta nghĩ là nắm bắt được, nó đã thay đổi mất rồi. Đây là những gì mà ta gọi là tánh không. Vì vậy, “ta, tự ngã” có thể chia chẽ thành các uẩn, nhưng các uẩn tự chúng không có tánh thường hằng, hiện hữu một cách thực sự (hằng hữu).

Vậy thì, trước khi ta được sanh, cái mà ta gọi là “ta” đã không có mặt, không hiện hữu. Sau khi ta chết, cái mà ta gọi là “ta” sẽ chấm dứt có mặt, chấm dứt hiện hữu. Hơn nữa, khi chúng ta sống, cái mà chúng ta nghĩ là “ta” luôn luôn thay đổi, vậy thật sự nó chẳng có mặt, hiện hữu gì cả. Đó là sự bám víu, chấp trước vào cái khái niệm “ta” này mà đưa đến khá nhiều khổ sở. Nếu một người nào đó gây tổn hại ta, khi sự tổn hại qua đi, ta lại níu kéo lấy nó vì ta chấp chặt vào ý nghĩ sai lầm này về một cái “tự ngã” thực sự có mặt, hay hiện hữu. Ta lo lắng những tai hại chưa xảy đến cho ta với cùng một lý do như vậy.

Trong kinh điển xưa của Phật Giáo Ấn Độ gọi là The Way of the Bodhisattva “Bồ tát Đạo”, Ngài Shantideva đã nêu ra điều này. Ngài nói, không có nghĩa lý gì mà bám víu vào cái đau đã qua bởi vì cái “ta” cảm nghiệm cái đau ấy đã qua đi mất rồi. Và cũng không có nghĩa lý để lo lắng về cái đau trong tương lai, vì cái “ta” sẽ cảm nghiệm nó vẫn chưa tới.

Dĩ nhiên, có vài sự kế tục giữa con người lúc chúng ta mới năm tuổi, con người chúng ta bây giờ, và con người chúng ta sẽ thành trong mười năm tới. Vì thế, sự chỉ dạy này là của Ngài Shantideva, giúp chúng ta buông bỏ đi ý nghĩ về một cái ngã chắc thật mà chúng ta tin sâu vào nó. Chúng ta luôn luôn thay đổi — chẳng bao giờ chúng ta giống hệt nhau từ giây phút này sang giây phút kế tiếp.

Tuy nhiên, chúng ta không thể dùng việc này như là sự bào chữa cho sự làm hại người khác rồi bảo rằng người mà sẽ hãm hại họ chưa xuất hiện và sau đó thì người đã hãm hại họ không còn nữa. Thực ra chúng ta đã tạo nghiệp. Chúng ta mang tất cả các hạt giống thiện nghiệp và ác nghiệp của mình qua thân, ngữ và ý với chúng ta và chúng ta sẽ phải đau khổ với hậu quả hay hưởng thọ những phước báo đền. Bất kỳ hạt giống nào mà chúng ta trồng, thì chúng ta tất gặt những quả trái đó.

Chúng ta cũng không thể nào dùng ý niệm rằng chúng ta không thật hiện hữu để biện hộ cho sự tự tử. Tự sát thì cũng giống như giết người khác. Nó mang nghiệp báo rất nặng nề. Ngoài ra, chúng ta không thể nào lẫn tránh nghiệp báo trong đời này. Bất kỳ nghiệp báo nào mà chúng ta không rữa sạch trong đời này thì chúng ta phải mang qua các đời tương lai. Nếu ai đó mà tự sát, họ chỉ mang thêm nghiệp vào thân. Cách duy nhất để thoát khỏi khổ đau là giác ngộ.

Tất cả các hạt giống về nghiệp của chúng ta thực sự được mang vào một tầng khác của thức gọi là tàng thức. Theo Ngài Khenpo Jampa Dhonden, một học giả Tây Tạng mà Thầy Huệ Hải theo học ở Nepal, thì nó cũng giống như một máy điện toán với bộ phận ghi nhớ vô tận. Tầng tàng thức này không biết suy nghĩ, nó chỉ tích chứa các hạt giống nghiệp tốt lẫn nghiệp xấu của chúng ta. Vì vậy, khi tới thời điểm vài nghiệp chín muồi, nó sanh khởi từ tầng tàng thức này. Thông thường chúng ta không nói về tầng tàng thức này trong bài nói về ngũ uẩn, tuy nhiên, rất quan trọng để biết thêm về nó ngõ hầu hiểu rõ cái cách mà nghiệp vận hành.

Thiền quán 2: Tánh Không của Sắc Tướng – 10 phút.

THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN

Là sự giải thích tiến trình làm thế nào và tại sao chúng ta cứ tiếp tục trôi lăn trong vòng sanh, già, bệnh và chết. Nó giải thích là làm thế nào chúng ta tạo nghiệp, làm thế nào chúng ta đến đây, sống và mất đi. Theo giáo pháp này, không có cái gì và không có ai hiện hữu một cách độc lập với sự vật và sanh vật khác. Vì ông bà ta đã có cha mẹ ta, ta mới được sanh ra. Bởi vì có rất nhiều người là thành phần trong tiến trình trồng trọt và làm thực phẩm, thuốc uống v.v. ta mới có thể lớn lên và tiếp tục sống.

Chúng ta nghĩ đây như là một cái vòng của những khâu xích riêng rẽ, nhưng thật ra không có khâu nào là bắt đầu hay khâu nào là kết thúc. Tuy nhiên, chúng ta thường bắt đầu bằng khâu Vô Minh.

1. Vô Minh (Avidya) 
Avidya có nghĩa là thiếu sáng suốt hay thiếu hiểu biết. Đây là cái si mê trong Tứ Diệu Đế — đời sống là tràn đầy sự bất mãn và khổ đau. Chúng ta có thể nghĩ là có hạnh phúc trong đời sống, nhưng nó không lâu dài. Sự thật là chúng ta cứ đeo đuổi theo những giây phút hạnh phúc tạm thời này, rồi cũng từ loại hạnh phúc này lại là nguyên nhân của khổ đau.

Một trong những sự việc sau đây sẽ xảy ra. Chúng ta đã dùng hết cuộc đời mình để đeo đuổi những điều mà chúng ta cho là sẽ mang lại hạnh phúc cho ta rồi trở nên đau khổ vì ta chẳng bao giờ có được nó. Hay chúng ta có thể có những gì mà chúng ta mong cầu và khi biết được nó không thể nào làm cho ta hạnh phúc thì sau đó chúng ta lại khổ sở. Hay chúng ta được những gì mà chúng ta mong cầu và chúng ta cảm thấy hạnh phúc nhưng khi mất nó thì lại khổ sở vì sự mất mác đó. Hay chúng ta được những gì mà chúng ta mong muốn và nó làm cho chúng ta hạnh phúc trong một thời gian, nhưng khi niềm hạnh phúc ấy hao mòn, chúng ta lại phải đi tìm cái khác để mang lại cho ta hạnh phúc.

Chúng ta thật giống như người nghiện ngập. Chúng ta cứ chích mũi kim vào cánh tay của mình mà nghĩ rằng lần này mọi đau đớn sẽ biến mất, nhưng nó chẳng là như vậy. Chỉ có điều khác biệt là giữa chúng ta và kẻ nghiệp ngập, là cái nghiện của chúng ta như là – tiền tài, danh vọng, hưởng thụ v.v. – thì xã hội dễ chấp nhận hơn.

Si mê, vô minh cũng nói đến niềm tin của ta về một cái ngã thật sự, như chúng ta đã học qua phần Ngũ Uẩn, thì không có một cái ngã nào hiện hữu một cách thực sự. Nó là một ảo giác. Trong bản đồ sanh tử, si mê được mô tả qua hình ảnh một người mù.

2. Hành (Sự Tạo Nghiệp – Samskara) 
>Vô minh móc nối với Hành (Tạo Nghiệp), mà có thể diễn dịch trong nhiều cách: Tác ý hành động, tạo tác hay khuynh hướng. Samskara là những sự thúc bách đưa đến hành động, và hành động tạo ra nghiệp. Nghiệp, thật ra có nghĩa là “hành động” và là hành động của thân, khẩu và ý.

Trong bản đồ sanh tử, samskara thường được mô tả qua một người nắn tượng bằng đất sét.

3. Thức (Vijnana) 
Vijnana thường được dịch là “thức” như chúng ta đã đề cập trong phần Ngũ Uẩn, Đức Phật dạy rằng, thức bắt đầu bằng một loại hay biết đơn thuần, hay khả năng. Dựa trên khả năng này, như Thầy nói trước đây, phát sanh ra sáu hình thức của thức khi một trong sáu căn thức đó gặp đối tượng của nó. Do vậy, khi nhĩ căn gặp một đối tượng có thể nghe, nhĩ thức phát sanh.

Trong bản đồ sanh tử, con khỉ tượng trưng cho khâu này. Con khỉ chuyền từ cành này sang cành nọ. Chỉ thuần là bản năng. Tâm ý khỉ là si mê và dẫn chúng ta quay lưng lại với Phật Pháp.

4. Danh và Sắc (Nama – Rupa)
Nama-Rupa là Danh và Sắc, tâm và thân. Nó là sự kết hợp của ngũ uẩn để tạo sự hiện hữu cho một cá thể. Với danh và sắc cũng đưa tới cảm giác. Nếu không có sắc thì không có mắt, tai, mũi, v.v.

Trong bản đồ sanh tử, đây được diễn tả qua người trong thuyền, lang thang trong cõi ta bà. Đây cũng được mô tả về nhiều nguyên nhân và điều kiện cần thiết cho danh và sắc: nước, thuyền, mái chèo, v.v.

Danh và Sắc cùng với khâu kế tiếp, tạo duyên cho các khâu khác.

5. Lục Nhập (Sáu Giác Quan – Shadayatana)
Sáu giác quan, trong bản đồ sanh tử được mô tả như một căn nhà trống với sáu cửa. Mỗi giác quan (căn) đều vô nghĩa nếu như không có đối tượng tiếp xúc (trần). Con mắt sẽ vô nghĩa nếu như không có gì để thấy. Các giác quan cũng phải dựa vào toàn bộ thân thể để hoạt động. Cặp mắt mà không có thân thể thì không có thể trông thấy gì được.

6. Xúc (Sparsha)
Đây là sự tiếp xúc thật sự giữa giác quan và đối tượng của nó. Chỉ thuần tiếp xúc, mà không mang ý tưởng hay quan niệm nào về vật được tiếp xúc. Chúng ta có thể nghĩ nó như là dữ kiện giác quan thô sơ đưa đến não, trước khi chúng ta có ý thức gì về nó. Giác quan tiếp xúc và sự tiếp xúc đưa đến sự thể nghiệm của cảm giác (cảm nghiệm), đó là khâu kế tiếp.

7. Thọ (Vedana)
Khi chúng ta nhận ra những gì mà ta đã tiếp xúc. Thầy thấy đây cũng là khâu gọi là “gọi tên”. Vậy trong khâu trước chúng ta có nhĩ căn nhận vào âm thanh. Trong khâu này, chúng ta nói, “À đó là bài hát”. Chúng ta thường nghĩ rằng việc này xảy ra cùng một lúc, nhưng thật ra không phải vậy. Nó có thể xảy ra rất nhanh, nhưng đôi khi chúng ta cũng có cảm giác nghe hay ngửi cái gì mà không biết chúng là gì.

Trong bản đồ sanh tử, điều này được mô tả bằng một người đàn ông với mũi tên ghim trong mắt để chỉ những giác quan bị găm bởi đối vật của chúng.

8. Ái (Trishna)
Vậy thì, sau khi chúng ta tiếp xúc với sự vật và cảm nghiệm về chúng, tham ái về chúng sẽ sanh ra. Thật vậy, đây cũng có thể là sự chán ghét, ngược với ham muốn. Khi chúng ta cảm nghiệm sự vật gì, thường thì chúng ta muốn hưởng thêm về nó hoặc lẫn tránh nó.

Và vì vậy, chúng ta đã dùng trọn cuộc đời mình để đeo đuổi những cảm khoái và lẫn trốn những sự khó chịu và chịu đượng. Để làm việc này, chúng ta có thể nói láo, trộm cắp, hay làm điều gì phương hại đến kẻ khác để đạt được những gì mà ta mong cầu và việc này tạo nên ác nghiệp. Ít ra chúng ta đã củng cố thói quen đeo đuổi những hạnh phúc tạm thời và lẫn trốn những gì mà chúng ta không thích. Chúng ta chẳng bao giờ tìm được hạnh phúc thật sự và lâu dài qua cách này, và vì vậy, chúng ta lại phải trải qua những thất vọng và đau khổ.

Sự tham ái này cũng bao gồm cả việc bám giữ thân xác và sợ mất đi cái “ta” sau khi chết.

Trong bản đồ sanh tử, chúng ta thấy một người uống bia rượu với những chai không chung quanh ông ta, cho thấy ông ấy không bao giờ thỏa mãn.

9. Thủ (Upadana)
Upadana là tâm chấp thủ và bám víu. Có bốn loại bám víu: bám víu vào sự vật đẹp, bám víu vào tà kiến (thí dụ như cho là nghiệp không có thực), bám víu vào ý tưởng của một cái thực “ngã” (ngã chấp), và bám víu vào ý tưởng không đạo đức mà đưa đến hạnh phúc (như nói láo, trộm cắp, v.v.).

Trong bản đồ sanh tử, bám víu được mô tả như con khỉ vói níu cành cây lấy trái để hái những gì mà chúng đã từng nếm qua.

10. Hữu (Bhava)
Sự chấp thủ này từ khâu vừa rồi đưa đến một thân xác mới. Phần lớn sự chấp thủ mà chúng ta có, là chấp thủ vào thân xác. Nghiệp thức mà chúng ta tạo đưa đẩy chúng ta tìm sự tái sanh. Sự kiện này được mô tả trong bản đồ sanh tử như là người đàn bà thụ thai.

11. Sanh (Jati)
Rồi chúng ta được sanh và tiếp tục vòng khổ ải trong sanh, già, bệnh và chết. Việc này được diễn tả trong bản đồ sanh tử là người đàn bà đang sanh.

12. Lão và Tử (Jara – Maranam)
Rồi vòng chuỗi tiến đến già và chết, sự tan rã ngũ ấm. Trong bản đồ sanh tử, việc này được mô tả qua một người già cầm gậy và một xác chết.

Nhằm chấm dứt vòng sanh, già, bệnh và chết, chúng ta cần phải phá bỏ vòng chuỗi mười hai nhân duyên ở một khâu nào đó. Một cách thực tiễn, chúng ta hầu như muốn phá bỏ vòng chuỗi giữa khâu Ái và Thủ. Khi chúng ta bám víu vào một sự vật nào (hay là oán ghét), chúng ta có thể áp dụng Phật Pháp và ghi nhớ rằng đeo đuổi hay trốn tránh sự vật không đưa đến sự an lạc thật sự và bền lâu. Chúng ta có thể thiền quán về ngũ uẩn và thật sự thâm nhập vào ý tưởng rằng thân xác và tâm thức là vô thường. Chúng ta càng loại bỏ cái nhìn sai lầm về một cái tự ngã thường hằng, thì chúng ta càng tiến gần đến sự giác ngộ giải thoát.

Tuy nhiên, sự quán chiếu này cần kết hợp với lòng từ bi vĩ đại. Chúng ta cần phải luôn luôn quán tưởng là làm thế nào để sự giác ngộ của chúng ta sẽ giúp ích cho kẻ khác. Nếu như chúng ta chỉ mong giác ngộ cho riêng mình, thì chúng ta chẳng bao giờ gặp nó. Bám vào lòng mong cầu tận diệt sự đau khổ cho riêng mình, cho thấy đó là một cái tâm hẹp hòi. Nói một cách khác, chúng ta cho thấy rằng mình vẫn còn bám víu vào cái “tự ngã” của riêng mình, và chúng ta đã không chịu buông bỏ ý tưởng sai lầm là chúng ta thật sự hiện hữu. Khi chúng ta hiểu cái quan niệm này là sai lầm rồi, chúng ta không cần phải bảo vệ nhu cầu của chính mình mà quên đi nhu cầu của kẻ khác, vì không có cái “ngã” nào để mà bảo vệ.

Dĩ nhiên, khi giải thích điều này, Thầy đã dùng từ ngữ như “chúng ta” hay “ta”, nhưng đó chỉ là ngôn ngữ mà chúng ta cần phải dùng. Cuối ngày, chúng ta không thể nói và nghĩ cách của chúng ta về giác ngộ. Ngôn ngữ mà chúng ta dùng chỉ để đạt đến mục đích mà thôi. Chúng ta cần phải thiền quán và trực nhận chân lý mà Đức Phật đã dạy. 

Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

Con nói là cha của mẹ kiếp trước: Trường hợp luân hồi làm rúng động thế giới

Con nói là cha của mẹ kiếp trước: Trường hợp luân hồi làm rúng động thế giới

Những câu chuyện về luân hồi chuyển kiếp xưa nay lưu truyền trong nhân gian thường thu hút khá nhiều sự chú ý của mọi người. Trong đó, có rất nhiều câu chuyện vô cùng chân thực được chính những người trong cuộc miêu tả, nhất là những câu chuyện về hồi ức tiền kiếp của trẻ em. Chương trình “Discovery Channel” của đài truyền hình Mỹ là một chương trình phim phóng sự nổi tiếng, nội dung về khám phá tự nhiên, lịch sử, văn hóa thế giới được phủ sóng khắp 140 quốc gia trên thế giới. Dưới đây xin được giới thiệu 2 câu chuyện đặc sắc từ bộ phim phóng sự “Kiếp trước kiếp này – Câu chuyện luân hồi” (Past Lives-Stories of Reincarnation) của kênh “Discovery Channel”.

Các nhà khoa học tại Đại học Virginia ở Hoa Kỳ đang tiến hành các nghiên cứu về trường hợp những người có ký ức luân hồi. Trải qua bốn thập kỷ, họ luôn cố gắng để giải thích những điều lạ kỳ xảy ra đối với một số trẻ em khi nhớ về tiền kiếp.

Nhà tâm lý học trẻ em, tiến sĩ Jim Tucker đã thu thập được những tài liệu này, ông nói: “Chúng tôi điều tra các trường hợp một số trẻ em tự nói về cuộc sống trong kiếp trước, nhiều khi những đứa trẻ 2 tuổi đã bắt đầu nói chuyện về cuộc sống tiền kiếp, và tiếp tục cho đến khi 5 hoặc 6 tuổi”.

Trong bốn thập niên qua, chúng tôi đã thu thập được nhiều trường hợp như vậy, điển hình là hơn 2.700 trường hợp. Những câu chuyện loại này có ở khắp mọi nơi, châu Á, Tây Phi, Nam Mỹ, Châu Âu, Hoa Kỳ… hầu như đều tìm thấy. Chúng tôi thu được chứng cớ rõ ràng, từ các nghiên cứu cho thấy chúng ta nên nghiêm túc đối đãi với khả năng luân hồi”.

luan hoi1
Tiến sĩ Jim Tucker. (Ảnh: Internet)

Hãy để chúng ta theo chân các nhà khoa học và nhóm quay phim, cùng nhau lắng nghe những ký ức về tiền kiếp mà những đứa trẻ kể lại, tìm kiếm các bằng chứng của luân hồi.

Khi mẹ còn nhỏ, con là cha của mẹ

Cậu bé Ian 5 tuổi sống ở Florida vốn là một đứa trẻ hồn nhiên ngây thơ. Có một lần cậu quá nghịch ngợm, mẹ cậu là bà Maria nói cần phải đánh cậu, nhưng cậu bé đã nói với mẹ: “Khi mẹ là một cô gái nhỏ, thực ra con là cha của mẹ, nhưng con không bao giờ đánh mẹ”. Nghe những lời này, Maria sửng sốt, lắp bắp kinh hãi.

Hơn nữa cậu bé nhiều lần khẳng định rằng trước đây mình chính là cha của Maria. Ông từng là một sĩ quan cảnh sát, trong một lần đụng độ với kẻ xấu tại một cửa hàng nên ông đã bị bắn chết. Cậu còn nói về rất nhiều chuyện của mẹ mình trước đây. Ví như khi bà còn bé, cha bà nuôi hai con mèo, một đen một trắng. Con màu đen gọi là Maniac, con màu trắng gọi là Boston.
Có một lần, Iran nói với mẹ: “Mẹ ơi, khi mẹ còn nhỏ, con là cha của mẹ, khi đó con mèo nhỏ của con tên gọi là gì?”. Maria trả lời: “Maniac?”. Cậu nói: “Không, là con màu trắng kia mà?”. Maria nói: “Boston”.

Ian còn nói: “Con trước kia bình thường gọi nó là Bos, đúng không?”. Mẹ cậu lúc đó cực kỳ kinh hãi: Cậu bé không chỉ nhớ màu sắc của 2 con mèo, thậm chí còn nhớ chính xác biệt danh mà cha cô gọi chúng, những chi tiết nhỏ mà đến người khác cũng không biết. Dựa theo càng nhiều phát sinh những ngày đối với Ian, cô tin rằng đứa con trai này chính là cha mình đầu thai.

Khi nhóm làm chương trình phỏng vấn Maria, cô còn miêu tả một số chi tiết rất đặc biệt: Ian sinh ra lúc 6h, vì bị khuyết tật tim bẩm sinh nên đã phải trải qua một cuộc phẫu thuật tim. Các bác sĩ cho biết cậu có một nhánh động mạch phổi phát triển không đầy đủ, kết quả là khiến bên phải tim cũng phát triển kém.

luan hoi2
Cậu bé Ian ở Florida. (Ảnh: Internet)

Maria nhớ lại, cha cô nguyên là một cảnh sát của thành phố New York. Một năm trước khi Ian đã được sinh ra, cha của Maria đã từng gặp bọn cướp tại một cửa hàng điện tử Radio Shack, bị chúng nổ súng và bắn chết. Tiến sĩ Tucker và Maria cùng nhau đọc lại báo cáo khám nghiệm tử thi của cha Maria, báo cáo cho thấy ông đã chết vì một vết thương gây vỡ động mạch phổi, đây đúng là nguyên nhân gây ra tật bẩm sinh động mạch phổi của Ian.

Tiến sĩ Tucker cho biết, trên thực tế, hiện tượng tái sinh loại này trong các hồ sơ đều có, đó là cơ thể có một số vết bớt đặc biệt hoặc sắc tố da bẩm sinh, dị tật bẩm sinh và thậm chí một số bộ phận cơ thể bất thường có liên quan với các vết thương hoặc tai nạn trong quá khứ.
Khi đoàn làm phim phỏng vấn Ian, cậu ngồi trên chiếc xích đu và nói với mẹ: “Con không muốn trở lại, nhưng Chúa đã giao con cho mẹ…”.

Nhà của con không phải ở đây
Erlendur Haraldsson – Giáo sư tâm lý học giảng dạy nhiều năm tại Đại học Iceland, ông cũng từng ở Sri Lanka và có nhiều nghiên cứu về ký ức tiền kiếp ở trẻ em. Thông qua các bài kiểm tra tâm lý và phân tích số liệu thống kê cho thấy mặc dù các em có được vốn từ vựng lớn hơn so với bạn cùng trang lứa, và thường cũng phát triển tinh thần vượt trội hơn nhưng lại không khác biệt rõ rệt – ngoại trừ một sự đặc điểm cá biệt.

Đó chính là các em thường bị chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương (Post traumatic stress disorder – PTSD). Đây triệu chứng tâm lý của một người trong tình trạng có sự đối kháng hay áp lực lớn (các mối đe dọa đến sự sống, chấn thương thể chất nghiêm trọng, hoặc thương tổn nghiêm trọng về thân thể hoặc tinh thần), trạng thái tâm lý này để lại di chứng rối loạn về sau. Nhưng điều đáng nói là những đứa trẻ này trong cuộc sống hiện tại, không gặp nguy hiểm đáng kể hoặc trải qua áp lực nào.

Giáo sư Haraldsson cho biết thêm, những ký ức trải qua cái chết trong tiền kiếp, chính là nguyên nhân tạo nên chứng rối loạn tâm lý này. Giáo sư Haraldsson cung cấp cho tổ làm phim một trường hợp ấn tượng ở Sri Lanka.

Tổ quay phim cùng Haraldsson đã đến Gamphaha, một thị trấn ở Veyangoda để tìm ngôi nhà của anh Nissanka. Cặp vợ chồng này có một người con gái tên là Dilukshi Nissanka (Di Luxi).
Người mẹ nói khi Di Luxi chưa đầy 2 tuổi đã bắt đầu nói mình không phải là con của nhà Nissanka, cô bé tin chắc rằng “gia đình thật” của cô ở Dambulla (cách 100 km từ Veyangoda, nằm ở miền Trung Sri Lanka). Mới đây, cha mẹ cô bé đã gửi cô đến một nhà trẻ tại một ngôi đền gần nhà, cô bé nói: “Ngôi đền của con là ở nơi khác”. Trước khi ăn cơm và ngủ, đứa bé vẫn không ngừng nói về “gia đình thật sự” của mình.

Cha mẹ cô bé nghĩ rằng đây chỉ là trò đùa của con mình, nên cũng không để ý và không tin mấy. Tuy nhiên, cô con gái liên tục lặp đi lặp lại như vậy, nói về nhiều chi tiết cuộc sống của gia đình trước kia, bao gồm cả những bộ quần áo cũ, những đồ dùng trong nhà, tài sản… Cô bé nói mình trong lúc chơi đùa ở bờ sông, bị người khác đẩy xuống sông mà không may chết đuối. Những cảnh vật xung quanh con sông, từ những chi tiết nhỏ đều được cô bé kể lại rõ ràng.

luan hoi3
Cô bé Di Luxi ở Sri Lanka.

Có phải là cô bé đang ảo tượng và thêu dệt mọi chuyện? Giáo sư Haraldsson phân tích, một đứa bé nếu chỉ ảo tưởng, nó sẽ tưởng tưởng những khung cảnh thoải mái, dễ chịu, chứ không thích tưởng tưởng cảnh mình đau đớn vì chết đuối.

Còn đối với cha mẹ Di Luxi, “hồi ức kiếp trước” của con gái khiến họ rất buồn khổ, bởi vì đứa trẻ thậm chí từ chối nhận cha mẹ của mình, cô bé tin rằng nó “thuộc về” gia đình khác. Người mẹ rất buồn, cảm thấy con gái cho rằng cha mẹ chăm sóc mình không tốt nên mới có ý nghĩ như vậy. Còn người cha cũng có một lần vì chuyện này, quá tức giận nên không kiềm chế được mà đánh con gái. Như vậy, rõ ràng “thêu dệt” nên loại chuyện này đối với ai thì cũng không phải là một việc hay.

Nhưng vợ chồng Nissanka không thể ngăn cản Di Luxi không ngừng đòi tìm kiếm “gia đình thực sự” của mình. Cuối cùng họ phải đến ngôi đền Rock nổi tiếng ở Dambulla, liên hệ với người chủ trì ngôi đền này, bởi vì Di Luxi đã nói rất nhiều về ngôi đền này. Họ hỏi người chủ trì có hay biết về chuyện một cô gái bị chết đuối hay không, hỏi về từng chi tiết giống như miêu tả của Di Luxi. Nhưng mà người chủ trì này có vẻ không nhớ chuyện này. Cuối cùng ông giới thiệu cho họ tới gặp một phóng viên nhà báo

Người phóng viên này sau khi phỏng vấn Di Luxi, đã đem câu chuyện này đăng lên báo, trong đó kể lại những miêu tả chi tiết của cô bé về “cuộc sống kiếp trước” của mình. Vài ngày sau, gia đình Nissanka nhận được một bức thư từ ngôi làng ở Dambulla, chủ nhân của bức thư này là Dharmadasa. Sau khi gia đình Dharmadasa Ranatunga đọc được bài báo kể về câu chuyện của Di Luxi, nhận thấy từng chi tiết đều giống với trường hợp cô con gái Shiromi đã chết của họ, hiện trường cảnh vật nơi con sông đều giống y như vậy. Và Dharmadasa cũng muốn gặp Di Luxi.

Cuối cùng cuộc gặp gỡ đã được sắp xếp. Hôm đó, Di Luxi cùng cha mẹ ngồi trên xe đi đến “nhà” ở Dambulla. Còn chưa tới thôn, cô bé đã cao hứng miêu tả người trong thôn và đồ vật này nọ như thế nào, thậm chí còn chỉ đường cho lái xe chạy đến “nhà mình”. Cha mẹ cô bé rất kinh ngạc, bởi trước nay con gái họ chưa từng đến nơi này.

Cuối cùng, Di Luxi đã gặp được cha mẹ, anh chị em của mình ở kiếp trước, lúc ấy cô bé quỳ xuống đất mà khóc lóc. Hai đời gặp lại, cha mẹ hai bên cũng buồn vui lẫn lộn, còn mọi người xung quanh thì cảm thấy rất kinh ngạc và tò mò. Di Luxi nhận ra những đồ vật mà mình trước đây đã dùng cũng như những người hàng xóm xung quanh. Giáo sư Haraldsson để ý thấy khi cô bé đến ngôi nhà này, tính cách dường như đã thay đổi, không còn thấy u buồn, cũng chẳng e ngại, vui vẻ thoải mái hơn rất nhiều.

Về sau Di Luxi còn dẫn giáo sư Haraldsson tới nơi mà cô bé bị chết đuối ở kiếp trước, đó là rìa của một con sông, có một khối đá lớn đứng sừng sững là nơi trẻ em thường vui chơi. Di Luxi nói đây chính là nơi mà kiếp trước mình đã bị rơi xuống và chết đuối.

Nếu như trong cuộc đời quả thật có luân hồi chuyển kiếp, thì được thân người trong kiếp này quý giá lắm thay. Mỗi kiếp sống thật ngắn ngủi tựa như một giấc mộng… Phật gia giảng không phải chết là hết, vạn vật đều có luân hồi, người nhiều đức, làm nhiều việc tốt thì kiếp sau được thân người, hưởng phúc phận, kẻ hành ác sẽ phải sống đời đau khổ mà không biết vì đâu, đáng thương hơn thì sẽ chẳng được thân người. Thiện ác hữu báo là thiên lý mà không ít kẻ mê muội cười chê, trong vô minh mà hành việc bất hảo, nhắm mắt xuôi tay mới thấy chân tướng thì đã muộn.

http://video.daikynguyenvn.com/embed.php?vid=7acc3ecd3

Bạch Mỹ tổng hợp.

Xem thêm:

Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

Vài Nét Về Đức Huỳnh

ducthay7-280x400

27 Tháng Bảy 2010(Xem: 32875)

Người sáng lập Đạo Phật Giáo Hòa Hảo là Đức Thầy tục danh Huỳnh Phú Sổ. Sanh ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi (15-1-1920) tại làng Hòa Hảo,tỉnh Châu Đốc, một tỉnh xa xôi giáp biên thùy Việt Miên Nam Việt. Ngài là trưởng nam của Đức Ông Huỳnh Công Bộ và Đức Bà Lê Thị Nhậm ; một gia đình trung lưu, nhiều phúc hậu và nhiều uy tín với nhân dân địa phương. Thuở nhỏ, vừa học đến hết bậc tiểu học thì đau ốm liên miên, nên Ngài phải rời nhà trường về dưỡng bịnh.Từ 15 đến 18 tuổi, Ngài không lúc nào dứt được cơn đau và không một lương y nào trị được. Năm 1939, sau khi hướng dẫn thân phụ đi viếng các am động miền Thất sơn và Tà lơn…
ÂM THANH
$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000014”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000015”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000016”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000017”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000018”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000019”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000020”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000021”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000022”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000023”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000024”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000025”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000026”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000027”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000028”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000029”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000030”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000031”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000032”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000033”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000014”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000015”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000016”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000017”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000018”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000019”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000020”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000021”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000022”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000023”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000024”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000025”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000026”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000027”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000028”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000029”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000030”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000031”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000032”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000033”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000014”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000015”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000016”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000017”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000018”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000019”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000020”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000021”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000022”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000023”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000024”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000025”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000026”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000027”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000028”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000029”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000030”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000031”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000032”).nwhtml5media()})

“>

$(function(){$(“#ctrl_media_RvkKMjU_10000033”).nwhtml5media()})

“>

ĐỨC PHẬT THẦY TÂY AN
Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

Búp Bê Thùy Trang 2006

Posted on by huyentamhh

Búp Bê Thùy Trang 2006

19 Tháng Ba 20168:33 SA(Xem: 469)

“>

Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

Trò Chuyện Với Bác Hai Như Sanh.

Posted on by huyentamhh

Trò Chuyện Với Bác Hai Như Sanh.

19 Tháng Ba 20167:14 SA(Xem: 732)

“>

Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

Búp Bê Thùy Trang Ứng Khẩu Vấn Đáp

Posted on by huyentamhh

Búp Bê Thùy Trang Ứng Khẩu Vấn Đáp

19 Tháng Ba 20168:16 SA(Xem: 532)

“>

Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

AI MUA XE RÁC (AI ĐÃ ĐẶT MUA XE PHÂN NÀY)

Posted on by huyentamhh

AI MUA XE RÁC
(AI ĐÃ ĐẶT MUA XE PHÂN NÀY)
Ajahn Brahm | Thích Trí Siêu chuyển ngữ
Nhà xuất bản Hồng Đức
Audio Book: Trung Tâm Diệu Pháp Âm | Diễn đọc: Huy Hồ & Kiều Hạnh
Nguyên tác: Who ordered this truckload of dung”

ai mua xe racAi Mua Xe Rác được Thượng tọa Thích Trí Siêu dịch thoát nghĩa từ tựa đề tiếng Anh “Who ordered this truckload of dung” của Hòa thượng Ajahn Brahm. Dịch sát nghĩa, tựa đề nguyên tác có thể chuyển ngữ trong tiếng Việt là “ai đã đặt mua xe phân này”.

Dùng ẩn dụ xe chở phân, Ajahn Brahm đã kể 54 câu chuyện thiền theo phong cách “góp nhặt cát đá” biến chúng trở thành các giai thoại thiền có giá trị giáo dục ý nhị va sâu sắc. Bằng tài diễn đạt khéo léo, các câu chuyện đời thường ở phương Tây, dưới lăng kính thiền học ứng dụng, Ajahn Brahm đã hiến tặng cho đọc giả những câu chuyện triết lý, mà càng nghiền ngẫm, chúng ta không khỏi thán phục tác giả đã có tài biến hóa “cái khác thường” từ những “cái bình thường”.

Các câu chuyện trong cuốn sách này có thể chia làm ba nhóm: (1) Lấy con vật làm ẩn dụ, (2) lấy sự vật làm ẩn dụ, (3) lấy con người làm đối tượng phân tích.

Các câu chuyện ẩn dụ về con vật như con bò khóc, con rắn ác, con rùa nói nhiều, con dòi và đống phân… chứa đựng các triết lý mà thông qua việc phân tích nội hàm của ẩn dụ, chúng rút ra được nhiều bài học có khả năng kết thúc khổ đau. Các ẩn dụ liên hệ đến sự vật như đống phân bò, hay là thùng rác, đá quý, cái búa… có khi mang tính châm biếm ý nhị, có khi dạy đời sâu sắc, cung ứng cho người đọc các kỹ năng sống và ứng xử thông minh trong đời để khỏi rơi vào tình huống khổ đau hay dở khóc dở cười. Các câu chuyện liên hệ trực tiếp đến con người rất đa dạng và chiếm đại đa số như những kẻ tội phạm, đứa bé trong siêu thị, bà nói gà ông nói vịt, đổ lỗi kẻ khác… bắt đầu từ các câu chuyện có thật trong xã hội phương Tây, được sử dụng như các phương châm hóa giải nghiệp chướng và bất hạnh. Dù dưới hình thức ngụ ngôn hay các câu chuyện triết lý, tác phẩm Ai Mua Xe Rác được xem như túi khôn nhà thiền, mà người sở hữu nó nếu ứng dụng đúng tình huống có khả năng giải quyết các vấn nạn cá nhân, gia đình và xã hội.

Cái hay của Ajahn Brahm qua tác phẩm này là giới thiệu Phật giáo bằng các câu chuyện bình dị, khích lệ ứng dụng triết lý Phật giáo từ những cái bình thường, trên nền tảng đó nỗ lực xây dựng hạnh phúc bây giờ và tại đây.

Đọc Ai Mua Xe Rác như những câu chuyện cười, người đọc sẽ có những nụ cười ý nhị. Đọc tác phẩm này bằng tâm của người ứng dụng Phật pháp, các câu chuyện bình dị sẽ trở nên triết lý. Bằng nhãn quan tiếu lâm và triết lý, các câu chuyện chứa đầy uẩn khúc, oan trái, nghịch cảnh, nước mắt khổ đau… người thưởng nghiệm sẽ trở nên minh triết và thông thái trong cuộc sống.

Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 01 – 06
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 07 – 13
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 14 – 18
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 19- 25
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 26- 31
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 32- 39
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 40 – 47
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 48 – 54
Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.