Tài-liệu Tu-Học

AI MUA XE RÁC (AI ĐÃ ĐẶT MUA XE PHÂN NÀY)

AI MUA XE RÁC
(AI ĐÃ ĐẶT MUA XE PHÂN NÀY)
Ajahn Brahm | Thích Trí Siêu chuyển ngữ
Nhà xuất bản Hồng Đức
Audio Book: Trung Tâm Diệu Pháp Âm | Diễn đọc: Huy Hồ & Kiều Hạnh
Nguyên tác: Who ordered this truckload of dung”

ai mua xe racAi Mua Xe Rác được Thượng tọa Thích Trí Siêu dịch thoát nghĩa từ tựa đề tiếng Anh “Who ordered this truckload of dung” của Hòa thượng Ajahn Brahm. Dịch sát nghĩa, tựa đề nguyên tác có thể chuyển ngữ trong tiếng Việt là “ai đã đặt mua xe phân này”.

Dùng ẩn dụ xe chở phân, Ajahn Brahm đã kể 54 câu chuyện thiền theo phong cách “góp nhặt cát đá” biến chúng trở thành các giai thoại thiền có giá trị giáo dục ý nhị va sâu sắc. Bằng tài diễn đạt khéo léo, các câu chuyện đời thường ở phương Tây, dưới lăng kính thiền học ứng dụng, Ajahn Brahm đã hiến tặng cho đọc giả những câu chuyện triết lý, mà càng nghiền ngẫm, chúng ta không khỏi thán phục tác giả đã có tài biến hóa “cái khác thường” từ những “cái bình thường”.

Các câu chuyện trong cuốn sách này có thể chia làm ba nhóm: (1) Lấy con vật làm ẩn dụ, (2) lấy sự vật làm ẩn dụ, (3) lấy con người làm đối tượng phân tích.

Các câu chuyện ẩn dụ về con vật như con bò khóc, con rắn ác, con rùa nói nhiều, con dòi và đống phân… chứa đựng các triết lý mà thông qua việc phân tích nội hàm của ẩn dụ, chúng rút ra được nhiều bài học có khả năng kết thúc khổ đau. Các ẩn dụ liên hệ đến sự vật như đống phân bò, hay là thùng rác, đá quý, cái búa… có khi mang tính châm biếm ý nhị, có khi dạy đời sâu sắc, cung ứng cho người đọc các kỹ năng sống và ứng xử thông minh trong đời để khỏi rơi vào tình huống khổ đau hay dở khóc dở cười. Các câu chuyện liên hệ trực tiếp đến con người rất đa dạng và chiếm đại đa số như những kẻ tội phạm, đứa bé trong siêu thị, bà nói gà ông nói vịt, đổ lỗi kẻ khác… bắt đầu từ các câu chuyện có thật trong xã hội phương Tây, được sử dụng như các phương châm hóa giải nghiệp chướng và bất hạnh. Dù dưới hình thức ngụ ngôn hay các câu chuyện triết lý, tác phẩm Ai Mua Xe Rác được xem như túi khôn nhà thiền, mà người sở hữu nó nếu ứng dụng đúng tình huống có khả năng giải quyết các vấn nạn cá nhân, gia đình và xã hội.

Cái hay của Ajahn Brahm qua tác phẩm này là giới thiệu Phật giáo bằng các câu chuyện bình dị, khích lệ ứng dụng triết lý Phật giáo từ những cái bình thường, trên nền tảng đó nỗ lực xây dựng hạnh phúc bây giờ và tại đây.

Đọc Ai Mua Xe Rác như những câu chuyện cười, người đọc sẽ có những nụ cười ý nhị. Đọc tác phẩm này bằng tâm của người ứng dụng Phật pháp, các câu chuyện bình dị sẽ trở nên triết lý. Bằng nhãn quan tiếu lâm và triết lý, các câu chuyện chứa đầy uẩn khúc, oan trái, nghịch cảnh, nước mắt khổ đau… người thưởng nghiệm sẽ trở nên minh triết và thông thái trong cuộc sống.

Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 01 – 06
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 07 – 13
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 14 – 18
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 19- 25
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 26- 31
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 32- 39
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 40 – 47
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 48 – 54
Advertisements
Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

ĐIỀU GÌ XẢY RA SAU KHI BẠN CHẾT?

ĐIỀU GÌ XẢY RA SAU KHI BẠN CHẾT?
Ajahn Brahm

Bài giảng cho đại chúng tại trung tâm Dhammaloka
Ngày 8 tháng Tư năm 2011, Perth, Úc.
Lược dịch: Một nhóm Phật Tử Bắc Mỹ.

Theo đề nghị của một bạn từ Melbourne, hôm nay tôi sẽ nói về “Điều gì xảy ra sau khi bạn chết”

Có một số cách để có thể biết được điều gì sẽ xảy ra sau khi bạn chết.

Trước hết là qua công phu thiền định của bạn. Công phu thiền định của tôi rất vững mạnh, đó không phải là trí nhớ, mà là sự hiểu biết cách vận hành của tâm và quan hệ tương giao giữa thân và tâm. Qua công phu hành thiền nhiều năm, bạn có thể có được sự hiểu biết quí báu này. Bạn biết chính xác điều gì sẽ xảy ra bởi vì bạn biết bản chất của tâm, bản chất của thân.

Loại thiền cụ thể mà bao năm qua tôi đã từng hướng dẫn, Thiền na (Jhanas), là loại thiền với những tầng định thâm sâu. Tôi cũng đã thẳng thắn trình bày những gì thực sự xảy ra trong những tầng thiền định đó. Chúng có thể giúp bạn biết được điều gì sẽ xảy ra khi bạn chết. Lát nữa tôi sẽ giải thích lý do tại sao.

Kế nữa, những câu chuyện dựa trên bằng chứng có thật của những người nhớ lại những gì xảy ra giữa các tiền kiếp của họ, và số người này không phải là ít. Một số người bỗng nhiên nhớ lại, số người khác nhờ được huấn luyện để nhớ lại.

Bằng chứng cuối cùng là những câu chuyện thú vị nhất và cũng vững chắc nhất, gọi là “kinh nghiệm cận tử”–near-death experiences–của những người bị tai nạn hoặc trên bàn mổ, hồn lìa khỏi xác, nhưng sau đó đã sống lại. Chủ yếu những câu chuyện cận tử này cho bạn thấy được chuyện gì xẩy ra sau khi bạn chết. Không phải chỉ là Phật Tử mà có cả những người với những niềm tin khác nhau nhưng khi “sống lại” đều có cùng những câu chuyện giống nhau.

Trong bài giảng này, tôi sẽ kết hợp tất cả những điểm trên đây, lấy chúng làm cơ sở để giải thích điều gì sẽ xảy ra sau khi bạn chết. Đây không phải là một điều không có dính dáng gì đến đời sống hàng ngày của bạn, mà thực sự, nó làm hiển lộ ra điều quan trọng nhất trong đời sống chính là thái độ sống của bạn, cách bạn phản ứng trước những gì bạn phải trải ngiệm khi này, khi khác.

Với những phương cách thực hành được giảng dậy ở đây, bạn có thể ứng xử tốt đẹp và tích cực trong mọi tình huống. Thế nào là cách ứng xử tích cực? Đó là đón nhận chúng (mọi tình huống) với một tâm bình an, tử tế và hiền hòa. Học hỏi từ chúng, chấp nhận chúng, không kháng cự, không khó chịu, không giận dữ, không sợ hãi. Tất cả những cảm xúc tiêu cực, mà các bạn đã từng chứng nghiệm ngay trong kiếp sống này, đều dẫn đến vô số vấn đề. Chúng cũng là những cảm xúc có thể gây ra vấn đề cho bạn một khi bạn “thực sự chết”.

Hãy kiểm lại xem những gì xảy ra trước khi bạn chết, nó sẽ cho bạn biết những gì sẽ xảy ra sau đó. Bởi vì sự sống là một cái gì liên tục, nó không thể thình lình thay đổi. Ban đêm bạn đi ngủ, sáng dậy bạn cũng không khác lắm, có thể già hơn chút xíu, nhưng gần như không khác, ít nhất là vẫn còn nhận ra được. Bạn không biến thành một cái gì khác. Khi bạn chết cũng vậy. Không có một sự chuyển đổi thình lình thành một cái gì hoàn toàn khác hẳn. Ở đây tôi đang nói đến những trường hợp chết chậm, vì bệnh tật, vì tuổi già, chứ không nói đến những trường hợp chết bất thình lình. Với những trường hợp chết chậm thì thể xác lịm đi từ từ cùng với năm căn: thấy, nghe, ngửi, nếm và sờ đụng.

Là tu sĩ, tôi từng phải ở bên cạnh những người đang hấp hối. Đó là một trong những nhiệm vụ của tôi. Chứng kiến sự chết xảy ra như một tiến trình. Cái người ta cho là sức sống (sinh lực- life force), thật ra chỉ là thể lực, lụi dần đi.

Rõ ràng không thể nói cái chết xảy ra ở điểm nào, giờ khắc nào. Bạn không thể nói một người chết vào lúc 8 giờ 9 phút. Đó là giờ theo chiếc đồng hồ ở đấy. Chết là một tiến trình kéo dài nhiều phút. Khi vị bác sĩ tuyên bố “xong rồi”, điều này có thể là ở một điểm nào đó giữa lúc nó bắt đầu và lúc nó thật sự chấm dứt. Đây là điều quan trọng cần phải hiểu. Cả cuộc đời là một tiến trình, không phải là một sự cố.

Khi đã hiểu cả cuộc đời là một tiến trình thì cũng phải hiểu tiến trình đó luôn tiếp diễn chứ không bất ngờ dừng lại. Cái dừng lại chỉ là năm giác quan: không còn thấy, ngửi, nếm, sờ đụng, cảm giác. Đây cũng chính là cách để biết một người còn sống hay đã chết. Kéo, giật, la lớn vào tai “Còn sống không?”, chờ xem coi có chuyển động nào trên thân họ không. Nhiều khi các vị y tá, bác sĩ, vạch mí mắt họ ra, chiếu đèn vào xem coi có phản ứng gì không.

Một trong những điều xảy ra khi bạn đạt đến mức định tâm sâu là sự biến mất của năm giác quan. Bạn thấy như tay, chân không còn có cảm giác, như thân thể đang biến đi. Tuy nhiên, trong thiền, bạn không chết, bạn sẽ trở lại hoàn toàn bình thường sau đó. Đối với người sắp chết thì khác, các giác quan của họ dần dần biến mất hẳn. Ít ra trong thiền, bạn kinh nghiệm được cái cảm giác đó (sự biến mất của thân thể) như thế nào. Thứ nhất, khi cơ thể biến mất, bạn thấy dễ chịu. Không biết các bạn thế nào, chứ tôi thì già rồi, năm nay đã 60 tuổi, trong người có đủ loại đau nhức và chắc là ngày càng trở nên tệ hại thôi. Vậy cho nên, thoát được ra khỏi thân này thì thật là dễ chịu. Khi thân bắt đầu biến đi từ từ, bạn có cảm giác khoan khoái tuyệt diệu của sự tự do. Không còn đau đớn, nhức mỏi. Cả mấy tuần qua, từ ngày đi Nam Dương về, cổ họng tôi thấy rất khó chịu. Hồi nãy, trong khi hành thiền, tôi thấy cảm giác khó chịu đó hoàn toàn biến mất. Thật tuyệt vời. Đây là điều xảy ra khi thân bắt đầu biến đi. Bạn thấy thoái mái tự do. Bạn không còn vướng bận với việc thấy, ngửi, nếm nữa. Thứ thường gây khó chịu cho bạn nhất trong khi hành thiền là âm thanh. Ví dụ như tiếng khóc của trẻ em bên ngoài hồi nãy, hay tiếng động, tiếng ho. Ngay cả Đức Phật cũng công nhận điều này, Ngài dạy âm thanh là thứ cuối cùng được nhận biết bởi năm giác quan. Cũng vậy, đối với người sắp chết, âm thanh là thứ cuối cùng được nhận biết.

Hiểu như thế thì, khi một người bị hôn mê (coma), nếu nghĩ là họ hấp hối, bạn nên nói chuyện với họ, bởi vì âm thanh là thứ cuối cùng họ có thể nghe được. Đừng mong họ nhận biết khi bạn lay giật hay sờ đụng thân họ.

Nhiều bạn đã kinh nghiệm được điều này khi hành thiền, khi năm giác quan bắt đầu biến đi, bạn cảm thấy thơ thới, nhẹ nhàng, bình an, bởi vì thể xác là thứ nặng nề khó chịu. Vậy, hãy tưởng tượng, khi bạn bệnh nặng và sắp sửa từ trần thì sẽ như thế nào? Đó là giai đoạn thực sự nặng nề. Cũng may là y học hiện đại đã giúp bạn chịu đựng được với thuốc mọt-phin (giảm đau). Có nhiều Phật tử hỏi tôi, ” Tôi muốn tỉnh táo vào giờ phút lâm chung, bởi vì đó là thời điểm quan trọng trong cuộc đời tôi, tôi không muốn ở trong trạng thái mê muội lúc đó”. Nhưng các bạn đừng lo, cứ dùng mọt-phin đi, bởi vì bình thường thì tâm thức (giác quan thứ sáu) của bạn nương nhờ vào não bộ, nhưng nó sẽ không cần đến não bộ nữa một khi cơ quan này ngừng hoạt động. Nói một cách khác, tâm bạn không còn cần đến não bộ nữa. Nó có thể thoát khỏi não bộ, và điều thực sự xẩy ra là vào một hai phút cuối cùng, có khi lâu hơn hoặc mau hơn, bạn trở nên sáng suốt.

Tôi đã kể về trường hợp mẹ tôi ở Luân Đôn, bà bị bệnh Alzheimer. Cách đây gần hai năm, khi tôi đến thăm, ngồi bên bà nói chuyện hai tiếng mà bà không nhận ra tôi, không biết tôi là ai. Thế rồi, tự nhiên, trong khi đang lẩm bẩm những lời không mạch lạc, bà bỗng thốt ra chữ “tu viện”. Thật lạ lùng. Rõ ràng đâu đó bà biết người đang ở trước mặt bà có dính dáng đến sự xuất gia.

Những người bị bệnh Alzheimer nặng, vào giây phút cuối của cuộc đời, họ sẽ sáng suốt, sẽ tỉnh ra, sẽ nhớ lại mọi điều, bởi vì đó là tính tự nhiên của tâm thức, nó xử dụng não bộ hầu như suốt cả cuộc đời, nhưng thực sự nó không cần đến não bộ. Trong vài phút cuối của cuộc đời, tâm thức tách rời khỏi não bộ.

Có một người thường hay đến đây, không biết hôm nay có họ ở đây không. Họ kể cho tôi câu chuyện về ông bố họ, ở thành phố Perth này. Ông bố sắp chết, hai chị em gái mỗi người ngồi một bên giường, nắm tay ông. Ông bị hôn mê, không nói gì đã nhiều giờ, hay nhiều ngày qua, tôi không nhớ.  Họ chỉ ngồi đó, nắm tay ông, chờ đợi giây phút cuối cùng của ông. Dĩ nhiên không ai biết giây phút đó sẽ xảy ra lúc nào. Tôi đã từng ở bên những người sắp chết, có khi phải chờ nhiều tiếng đồng hồ. Có khi tưởng hơi thở của họ đã lịm tắt nhưng bất ngờ họ thở trở lại. Trong trường hợp này, ông bố thở hơi cuối cùng, ông đã ngừng thở, nhưng rồi bỗng lại mở mắt ra. Ông nhướn người ngồi dậy, nhìn hai cô con gái. Hai cô tự động cùng thốt lên một lúc “chúng con thương cha”, thế rồi ông nhắm mắt lại và qua đời. Điều thực sự đã làm hai người con gái ngạc nhiên là, mặc dù bị hôn mê đã lâu, đáng lẽ cha họ không thể nhìn hay có cảm giác gì, vậy mà vào giây phút cuối ông đã có thể làm việc đó. Ông đã nhìn vào mắt họ và họ đã có thể nói lời cuối cùng với ông.

Có một ví dụ khác còn hay hơn nữa, đã được đưa lên tuần báo “TIME”, trong một bài viết về tâm thức con người. Trường hợp này nói về cái tâm lúc nó tách rời khỏi não bộ. Tôi còn giữ ở tu viện một bản của số báo TIME này, số tháng Giêng năm 2009 hay 2010 gì đó. Bài báo kể chuyện xảy ra bên Mỹ. Có một ông bác sĩ chữa cho một bệnh nhân bị một cục bướu thật to trong não. Bệnh nhân nằm hôn mê trong bệnh viện đã nhiều ngày và chỉ còn chờ chết, bởi vì cục bướu lớn đã xâm lấn những phần còn lại của não bộ. Theo nhận định của bác sĩ thì bệnh nhân sẽ không bao giờ ra khỏi cơn mê. Thế nhưng người này đã tỉnh dậy, mở mắt ra, ngồi lên, nói những lời chia tay cuối cùng với thân nhân trong vòng mười lăm phút, 15’ hoàn toàn tỉnh táo trước khi qua đời. Ông bác sĩ quá đỗi ngạc nhiên, điều đó không thể nào xảy ra được khi trong não bộ chẳng còn gì hoạt động cả. Vậy mà nó đã xảy ra.

Cách đây nhiều năm có lần tôi đã kể câu chuyện về một cậu thanh niên không có não bộ, của giáo sư John Lorber. Cậu thanh niên này là sinh viên Đại học Sheffield, đã đậu tốt nghiệp ngành toán học với hạng danh dự mặc dù cậu được sinh ra với một cái sọ hơi méo và, theo kết quả điện soi cho thấy, trong sọ của cậu tất cả chỉ hiện hữu có một phần trăm chất xám, ngoài ra không có gì nữa cả. Cơ bản, theo giáo sư Lorber, cậu ta không có não. Chỉ một số lượng chất xám nhỏ bé như thế thì không thể nào bù đắp nổi cho những gì thiếu sót. Vậy mà cậu thanh niên này là sinh viên đậu danh dự ngành toán. Thông minh, bình thường, có bạn gái. Không có gì để bạn nghĩ là cậu không có não. Làm sao như vậy được?

Theo như tôi biết, và cũng theo Phật giáo, tâm thức của con người, khả năng nhận biết, hình thành tư tưởng, sử dụng ý chí, không tùy thuộc vào thể xác. Đặc biệt là không tùy thuộc vào não bộ. Điều này được thể hiện vào những giây phút cuối của đời người. Tâm thức được giải phóng khỏi não bộ và thân thể để trở nên sáng suốt hơn. Điều này đã có nhiều tài liệu rõ ràng làm bằng cớ chứng minh. Vào giây phút cuối đời, bạn sẽ sáng suốt hơn.

Vậy bạn làm gì với những giây phút cuối đó? Đó là câu hỏi kế tiếp được đặt ra. Có rất nhiều người kể lại những kinh nghiệm cận tử (NDE: Near Death Experience) của họ. Một trải nghiệm thoát xác, nhưng vẫn có thể thấy và nghe được. Họ có cảm giác như họ đang có cái thân nhưng đồng thời họ lại thấy xác mình nằm trên bàn mổ, hay dưới gầm xe, hay bất cứ chỗ nào họ chết. Và dĩ nhiên, nhiều người đã được giúp hồi sinh và kể lại những kinh nghiệm họ vừa trải qua trước đó. Những người đó đi từ những văn hóa khác nhau trên thế giới chứ không phải chỉ những người theo đạo Phật.  Bạn nào muốn kiểm lại những gì tôi nói có thể vào trang mạng của Giáo sư Pim Van Lommel, ông này dạy y khoa ở Hòa Lan. Trong những công trình nghiên cứu của ông, giáo sư Lommel kể lại không biết bao nhiêu câu chuyện về kinh nghiệm cận tử.

Tuy nhiên, điều mà giáo sư Lommel quan tâm muốn biết là, về mặt khoa học, những câu chuyện này có thực hay không? Như đã tường thuật trên ấn bản tháng 12, năm 2001 của tờ Lancet (tạp chí y khoa), nghiên cứu của ông được tiến hành trong ba bệnh viện ở Hòa Lan. Với mỗi trường hợp bị hôn mê vì tai biến tim mạch được đưa vào bệnh viện và sau đó được hồi sinh, ông đưa cho họ một tờ giấy ghi nhiều câu hỏi để họ trả lời. Ông muốn biết xem họ có nhớ những gì đã xảy ra trong thời gian chờ được hồi sinh hay không? Trong thời gian họ “chết”.  Đồng thời, trong mỗi trường hợp, ông cũng ghi lại những gì xảy ra trong phòng cấp cứu, trong phòng mổ, để đối chiếu với những gì có thể được mô tả lại bởi người bệnh, xem trí nhớ họ có chính xác hay không. Kết quả nghiên cứu cho thấy, gần 10 phần trăm số người được hồi sinh đã có một hay nhiều kinh nghiệm cận tử điển hình. Lơ lửng bềnh bồng ngoài thể xác nhưng nghe được những gì xảy ra xung quanh. Khi kiểm lại, ông thấy chúng không phải là những ký ức do tưởng tượng mà đó là những ký ức thực. Những điều họ nói đã nghe, đã thấy, đều thực sự đã có xảy ra. Nhưng điều thú vị nhất trong kết quả nghiên cứu này là: những người được hồi sinh có não bộ đã chết. Và đó chính là điều phân biệt giữa những kinh nghiệm cận tử và những người không có kinh nghiệm cận tử. Não bộ ngừng làm việc là khởi điểm của những kinh nghiệm cận tử. Điều này chứng minh cho thấy: tâm thức, ý chí, ký ức, hoạt động khi não bộ đã hoàn toàn ngừng hoạt động. Và đây cũng là điều xảy ra khi bạn đạt định rất sâu.

Có câu chuyện của một thành viên ở đây, ông không có mặt hôm nay, nhưng ông đã cho phép tôi kể chuyện của ông trong cuốn sách tôi viết “Chánh Niệm, Giác Ngộ và Giải thoát”. Câu chuyện là, một bữa nọ, vào ngày cuối tuần, ông ngồi hành thiền trong phòng ngủ. Thấy ông ngồi lâu quá, bà vợ vào gọi ông nhưng ông vẫn bất động và không có dấu hiệu gì chứng tỏ ông còn sống. Hoảng sợ, bà gọi xe cứu thương và họ chở ông vào bệnh viện Sir Charles Gairdner. Ở đó, người ta đo điện tâm đồ và điện não đồ của ông nhưng trên cả hai màn ảnh chỉ thấy một đường thẳng.  Người ta cho điện giật người ông nhưng không có hiệu quả gì. Thật ra thì trong khi đó ông vẫn đang thiền. Và cuối cùng, ông xuất thiền! Ngay khi ông ta xuất thiền, cả hai máy điện tâm và điện não đồ đều chạy lại một cách hoàn hảo. Ông không hiểu tại sao mình lại ở trong bệnh viện? Sau khi được bác sĩ khám lại tổng quát và kết quả cho thấy ông vẫn bình thường, ông đã lội bộ về thẳng nhà. Trong suốt thời gian “chết”, ông vẫn hoàn toàn tỉnh táo, hoàn toàn tỉnh giác, nhưng không hay biết gì về thể xác của mình, hoặc về những gì xảy ra xung quanh. Ông nhập định thật sâu bên trong. Đó là một kinh nghiệm tuyệt vời nhất trong đời ông ta. Tôi kể câu chuyện này vì nó là kinh nghiệm của một người thường đến đây, là một ví dụ minh chứng những gì xảy ra khi não bộ ngừng hoạt động trong trạng thái thiền định rất sâu.

Khi não bộ ngừng hoạt động, đối với đại đa số, điều đầu tiên được cảm nhận là sự hoàn toàn thoải mái, an lạc. Vì sao? Vì thể xác này là một gánh nặng, cất bỏ được nó sẽ như được giải phóng. Đó là điều xảy ra khi bạn chết. Bạn hoàn toàn được giải phóng khỏi cái thân xác này. Hạnh phúc biết bao!

Sau khi có những kinh nghiệm cận tử, ai cũng nói: “Bây giờ tôi không sợ chết nữa, vì tôi đã biết nó như thế nào rồi”. Nó dễ chịu, ngập tràn hỷ lạc, tự do, an lạc. Biết được điều này, không những bạn không còn sợ chết mà bạn cũng sẽ không buồn khổ quá khi có người thân qua đời.

Tuy nhiên, không phải ai cũng hạnh phúc sau khi chết. Bạn biết vì sao không? Bởi vì không phải ai cũng hoan hỉ khi được hạnh phúc; có khi bạn cảm thấy mình không xứng đáng hưởng niềm hạnh phúc đó, có khi bạn cho như thế vẫn là chưa đủ.

Chính thái độ của bạn, cách phản ứng trước một việc xảy ra đã ảnh hưởng đến những gì xảy ra cho bạn sau khi chết. Ví dụ như ngay bây giờ, có thể bạn đang có những giây phút tuyệt vời, hạnh phúc, một ngày an bình, một cuối tuần tuyệt diệu. Nhưng có bao nhiêu bạn tự nghĩ: “Ta không xứng đáng hưởng niềm vui này! “ “Điều này không thể được: ta đang cảm thấy thích thú!” và họ để vuột mất hạnh phúc đó. Ví dụ này, có thể hơi qúa đáng, nhưng nó cho ta thấy làn sóng ngầm (ảnh hưởng ngầm) rất mạnh của bản chất con người, gọi là mặc cảm tội lỗi, thái độ tiêu cực, bới lông tìm vết.

Nếu trong đời này bạn luôn nuôi dưỡng những thái độ đó thì bạn sẽ tiếp tục mang theo và phát triển nó sau khi bạn chết. Bạn có được cơ hội tốt đẹp để hưởng hạnh phúc mà bạn chối từ nó. Tại sao vậy? “Tôi không xứng đáng, tôi là người xấu, tôi có tội lỗi!”. Chính thái độ tiêu cực, bới lông tìm vết, sẽ ngăn cản không cho bạn được tự do. Bản thân tôi đã bỏ ra không biết bao nhiêu thì giờ trong những buổi nói chuyện vào mỗi tối thứ Sáu như thế này về đề tài “khắc phục mặc cảm tội lỗi”. Hãy có cái nhìn tích cực về bản thân mình. Hãy buông bỏ những đau buồn trong quá khứ. Đừng làm tù nhân trong bất cứ lỗi gì bạn phạm phải. Đừng dán mắt vào hai viên gạch lệch mà quên nhìn 998 viên gạch đẹp còn lại trên bức tường! (1). Hãy chọn thái độ, không phải là tích cực, mà là công bằng, khi nhìn đời. Tôi không thích dùng chữ “thái độ tích cực”, bởi vì từ này đã bị lạm dụng qúa nhiều. Công bằng, hợp lý, đúng mực, đối với bản thân mình. Bạn không phải là một người xấu. Tôi chưa bao giờ gặp một người xấu trong đời tôi. Tôi đã từng gặp những kẻ giết người, những kẻ hiếp dâm, trong tù. Nhưng họ không phải là những người thích làm chuyện xấu. Họ không đáng bị ghét bỏ, bị trừ khử. Đó là điều tôi muốn nói, tôi chưa bao giờ thấy người nào đáng bị trừ khử. Trong họ, luôn có một cái gì đó thiện lành, tử tế, đẹp đẽ, và đó là một điều tuyệt vời để nhận ra.

Nhận ra cái tốt nơi bạn, bạn xứng đáng hưởng được hạnh phúc. Nếu bạn muốn biết câu trả lời ngắn gọn về ý nghĩa của cuộc đời thì đó chính là: bạn xứng đáng được hạnh phúc. Đó là ý nghĩa cuộc đời của bạn. Điều này có những hệ qủa rất lớn. Có nghĩa là bạn có thể buông bỏ được những nỗi khổ, niềm đau trong quá khứ, bạn có thể đạt đến hạnh phúc (2), đến sự bình an, sự vui sướng.

Như vậy, sau khi chết rồi, điều quan trọng nhất bạn cần phải làm là từ ái với chính bạn. Chấp nhận những gì xảy đến. Thông thường, cuộc sống của con người bị khống chế bởi sự sợ hãi. Một trong những lý do của buổi nói chuyện tối nay là để tháo gỡ nỗi sợ hãi của bạn. Một khi bạn biết chính xác những gì sẽ tiếp diễn, nhận thức rõ ràng là nó tiếp diễn, và thực sự là nó xảy ra như thế, bạn được chuẩn bị sẵn sàng. Thông thường người ta sợ những cái chưa biết. Khi sự chết được hiểu biết rồi thì nỗi sợ hãi không còn nữa. Nghĩa là bạn có thể thư giãn và thưởng thức toàn bộ tiến trình sau khi chết.

Người ta thường có lắm thứ dính mắc với thế gian này.  Dính mắc với người, dính mắc với vật, những thứ mà họ phải để lại đằng sau. Nhà Phật thường nói “Bạn phải buông bỏ những gì đã qua rồi, những thứ đó bạn không thể mang theo được”. Hiển nhiên là như vậy. Tuy nhiên, muốn làm được việc buông bỏ này bạn cần phải học hỏi, phải tu luyện, phải thực hành. Buông bỏ không có nghĩa là bạn không vui hưởng cuộc đời, không thương yêu những người xung quanh. Nhưng, ví như sau một ngày vui chơi, đến cuối ngày, đến giờ bạn cũng phải lên giường đi ngủ, chuẩn bị một ngày mới sẽ đến hôm sau.

Tôi có thể lấy trường hợp cái chết của cha tôi để làm một ẩn dụ tuyệt vời. Cha tôi mất lúc tôi mới mười sáu tuổi. Mặc dù vậy tôi đã không buồn, không tiếc, rằng ông chỉ sống ở bên tôi có mười sáu năm, bởi vì đó là mười sáu năm tuyệt đẹp. Tôi thấy tôi thật là may mắn. Một bản hoà tấu tuyệt vời. Nhưng buổi hoà tấu nào rồi cũng có hồi kết thúc. Khi một buổi hòa tấu kết thúc, có ai khóc lóc vì buồn khổ không? Dĩ nhiên là không, vì buổi hòa nhạc này hết thì sẽ có một buổi hòa nhạc khác vào tuần sau. Họ đến và đi. Đó là cái đẹp của cuộc đời, cuộc đời là một chuỗi những buổi hòa nhạc nối tiếp. Những giây phút hạnh phúc, những khoảnh khắc hân hoan, chúng ta đều biết sớm muộn gì rồi chúng cũng sẽ qua đi, nhưng chẳng phải vì thế mà chúng ta không thể vui hưởng những khoảnh khắc bên nhau. Ngược lại, chúng ta phải tận hưởng chúng. Và khi chúng kết thúc, chúng ta thấy biết ơn, chúng ta tạ ơn và rồi bước sang buổi hòa nhạc kế tiếp, bước qua một ngày mới, một cuộc đời mới.

Cố gắng thực hành như thế, kể cả trong lúc hành thiền, buông bỏ hoàn toàn những gì đã qua rồi. Buông bỏ chúng bạn mới có thể vui hưởng những gì xảy ra ở hiện tại và để cho tương lai xảy diễn ra sao thì ra. Thực tập buông bỏ trong khi hành thiền bạn sẽ có những buổi hành thiền tốt đẹp, tĩnh lặng, an vui. Tương tợ như thế, khi trút hơi thở cuối cùng, bạn buông bỏ quá khứ, không sợ hãi tương lai. Chấp nhận những gì xảy ra, từ ái, dịu dàng ngay trong phút giây hiện tại. Hãy nhớ kỹ điều này. Trong đời bạn đã trải qua nhiều kinh nghiệm vui sướng, nhiều điều buồn khổ. Nhưng khi bạn chết thì bạn phải bỏ lại tất cả. Bạn không cần đem qúa khứ vào hiện tại. Đây là một giáo lý tuyệt vời nhất trong đạo Phật. Bạn sẽ được tự do. Không ai có thể dày vò bạn vì những gì bạn đã làm, hoặc vì những gì người khác làm cho bạn. Chỉ có chính bạn tự dày vò mình mà thôi.

Một ví dụ hay về điều này, đó là câu chuyện được khắc lên đá mà tôi đã đọc được ở Borobudur, ngôi đền Phật giáo ở Java. Những hình thể khắc trên đá được trình bày như một hệ thống thế gian, phần dưới đáy giống cảnh giới ở địa ngục. Những gì khắc lên ở đó đã làm tôi chú ý. Tôi có thể nói rằng: “Đây thực sự là những gì diễn ra khi chết” (tiến trình của cái chết). Chuyện cổ tích Phật giáo này kể rằng: có một chàng thanh niên khá hiền lành nhưng anh ta đã làm một việc bất thiện, anh đã xô mẹ khiến bà bị thương. Anh bị dày vò bởi điều đó đến nỗi sau khi chết anh rơi xuống địa ngục. Ở đó anh ta thấy có một gã khác đang bị một bánh xe có lưỡi sắc nhọn cắt vào đầu, hắn bị bánh xe cắt liên tục nhưng rõ ràng là hắn vẫn sống. Hắn ta rất đau đớn, vừa trông thấy chàng thanh niên, hắn nói: “Chao ôi, ngươi đã tới rồi ư! Ta có cái bánh xe này trên đầu đã sáu trăm năm rồi vì ta đã gây thương tích cho mẹ ta. Ta được bảo rằng, sáu trăm năm nữa, sẽ có một gã khác đến đây vì đã đả thương mẹ hắn; khi hắn đến, bánh xe sẽ rời đầu ta để sang đầu hắn và ta sẽ được tự do. Đây là bánh xe cho ngươi! Vừa nói xong, gã ta biến mất và bánh xe truyền qua đầu chàng thanh niên và cắt đầu khiến chàng ta quằn quại đau đớn.

Tuy nhiên, chàng thanh niên này là người có những tư tưởng đầy từ bi, anh ta tự nhủ: “Ta sẽ chịu đựng bánh xe này không những sáu trăm năm mà là ba ngàn năm, để bốn, năm người sau ta sẽ khỏi phải chịu cực hình này. Ta sẽ nhận sự trừng phạt thay cho họ”. Lời nguyện vừa dứt thì chiếc bánh xe bể tan tành, chàng thanh niên thoát ra khỏi địa ngục và tái sanh nơi thiên đàng. Chỉ một tư tưởng thiện lành, từ bi đã làm được việc này.

Đây không phải là một huyền thoại mà là một ẩn dụ: chính thái độ của bạn đã tạo nên những gì bạn trải nghiệm. Thái độ của bạn là người sáng tạo, là người tạo ra ý niệm. Vì thế, khi bạn chết, xin đừng có những tư tưởng có tính tiêu cực. Bởi vì lúc đó chính là lúc bạn đang tạo ra thế giới của bạn. Đúng vậy, có những cõi thiên giới và có những cõi địa ngục, nhưng chính bạn đã tạo ra chúng, chính bạn tạo ra cảnh giới mà bạn nghĩ là (cho là) xứng đáng với bạn.

Nếu là người tiêu cực, nếu chỉ nghĩ đến những điều xấu mình đã làm và cảm thấy tội lỗi, không buông bỏ được, thì khi chết bạn sẽ nhớ lại, sẽ nghĩ mình là người xấu đáng bị trừng phạt. Bạn sẽ thiết kế mẫu hình phạt sao cho phù hợp với mình.

Khi chết, thể xác vật lý đã không còn nữa. Thể xác sau đó là thể xác do tâm thức bạn tạo ra. Bạn đi vào cảnh giới do tâm thức bạn tạo ra. Tâm thức là một cái gì rất mạnh mẽ, nó có khả năng tạo ra đủ thứ theo ý bạn muốn.(3)

Để minh họa, tôi xin kể ra đây một kinh nghiệm của tôi trong một buổi hành thiền nhiều năm trước. Hôm đó, khi đã đạt định sâu, khi thể xác đã biến mất, tôi thấy một con ác quỉ hiện ra trước mắt, tai nó thật lớn, mắt đỏ, răng nanh lòi ra khỏi miệng, máu tươi đỏ nhỏ giọt. Nó đeo một chuổi đầu lâu, trên đầu đầy gai nhọn, lưỡi thè dài. Nó hiện ra ngay trước mắt, trong khi tôi đang hành thiền. Nếu là bạn, bạn có sợ không? Phần lớn người ta sợ vì không biết phải làm gì. Tôi thì đủ sáng suốt, ngay cả thời đó, biết là tự tâm mình sáng tạo ra thế giới.

Ý thức được chính mình là kẻ sáng tạo, theo bản tánh, việc đầu tiên tôi làm là vẽ lên hai mắt con quỉ hình hai mặt trời. Rồi đeo lên đôi mắt lồi của nó cặp kính Ray Ban, xóa đen vài cái răng nanh, nhét điếu thuốc vào miệng nó theo kiểu một tên quái vật du thủ. Cuối cùng là đội lên đầu nó chiếc nón rơm có cài một cái hoa. Tôi đã tạo nên một con quái vật khôi hài, tôi cười lớn trong tâm và quái vật biến mất, không bao giờ trở lại nữa.

Bởi vì nếu mình đã tạo ra một thứ gì đó thì mình cũng có thể cải tạo nó bằng cái tâm tích cực, từ ái, khôi hài của mình. Thật vậy, cách đây nhiều năm, sự việc tương tự cũng đã xảy ra cho một người có lần đã đến ở trong tu viện vài tháng hay vài tuần gì đó. Anh ta cứ thấy từ mỗi viên gạch lót đường là hình một con quái vật hiện ra khiến anh ta muốn phát khùng. Tôi chỉ cho anh ta phương pháp tôi đã làm và ngày hôm sau đến gặp tôi, anh nói, “Tôi đã trải qua một ngày thật tuyệt. Đúng là mình có thể tạo ra những bức hình ngộ nghĩnh từ những con quái vật đó! Dĩ nhiên sau đó chúng biến mất!”.

Đó chính là sức mạnh của tâm sáng tạo trong việc hành thiền, nhất là khi tâm nhập vào định sâu. Và nó cũng gần giống như vậy khi bạn chết. Khi thể xác biến mất, tâm sáng tạo sẽ không còn bị nhiều cản trở bởi những yếu tố vật lý. Vì thế, khi chết, hãy nhớ học cách tạo ra những điều tích cực và tốt đẹp trong tâm bạn. Hãy phát triển một tâm hồn đẹp đẽ, từ ái, tử tế, bởi vì đó là những gì bạn sẽ tạo ra cho cảnh giới tương lai của bạn. Bạn có cơ hội để làm việc này.

Tôi biết có nhiều nơi các thầy được mời đến tụng kinh cho người mới qua đời, mục đích là để giúp cho tâm họ có được một trạng thái tích cực.

Tôi nhớ thời còn nhỏ, thỉnh thoảng tôi theo bạn bè vào các quán rượu, ở đó thường xảy ra những cuộc đụng độ khi người ta say. Họ đấm đá nhau bên ngoài quán, máu văng tung tóe. Tôi nghĩ, “Tại sao người ta tìm đến những quán rượu?” Lý do là vì họ thích đánh nhau. Họ tìm kiếm sự xung đột. Tôi nghĩ, “Tại sao những người này tạo ra những hoàn cảnh đã dẫn họ đến sự bạo động, sự tiêu cực, đau đớn?” Đó là vì họ muốn như vậy.

Vậy nên, tôi hỏi bạn, “Bạn muốn gì? Bạn thực sự muốn gì? Không phải bạn nghĩ bạn muốn gì, mà từ sâu thẳm trong lòng, thực sự bạn muốn gì?”

Hãy hun đúc một tâm hồn cao đẹp, một tấm lòng từ bi, một đức tính bao dung. Đó là cảnh giới bạn sẽ tạo ra. Bạn tạo ra nó ngay trong đời này. Tôi không biết có người nào trong số các bạn đang gặp khó khăn trong quan hệ tình cảm không? Đừng đổ lỗi cho người kia. Như tôi đã từng nhắc, chẳng phải lỗi của chàng, chẳng phải lỗi của nàng, mà là lỗi của hai chúng ta. Bởi vì cả hai đều ở trong cuộc, luôn luôn có những việc bạn có thể làm được.

Vậy thì thực sự bạn có thể tạo ra một cảnh giới tốt đẹp cho bạn, ngay trong kiếp sống này. Tuy nhiên, khi còn sống thì khó làm hơn, vì có qúa nhiều những hạn chế, những rào cản bởi yếu tố vật lý. Nhưng, mặc dù có những khó khăn như thế, trước giờ các bạn cũng đã làm được khá tốt rồi. Thử tưởng tượng, một khi được giải phóng khỏi thể xác này rồi, nghĩa là khi chết, bạn sẽ có biết bao cơ hội hơn nữa!

Vì thế, đừng tạo cảnh giới địa ngục cho bạn khi bạn qua đời. Làm thế nào để tránh được điều đó? Tha thứ, không mang mặc cảm tội lỗi, không trách mình, không trách người!

Phật giáo nhấn mạnh sự cần thiết phải tha thứ kẻ khác, và tha thứ cho chính mình. Đó là điều tối quan trọng khi bạn chết. Hãy tha thứ! Bởi vậy trong nhiều tang lễ, chúng tôi đã cử hành buổi lễ tha thứ, cho người ở lại, cho người vừa quá vãng. Tôi nói với người đã mất, thay mặt họ, xin người ở lại tha thứ cho những lỗi lầm mà họ có thể đã phạm phải về thân, khẩu, ý, vô tình hay cố ý. Thay mặt người chết, chúng tôi thực sự xin lỗi, xin tha thứ, xin bỏ qua, để không còn đau đớn, không còn mặc cảm tội lỗi, không còn ý muốn trả thù sau đó.

Chúng ta ai cũng có sai lầm. Ở đây tôi xin nhắc lại một ẩn dụ tôi đã có dịp nói tuần rồi. Đó là ẩn dụ về bài kiểm tra. Một bài kiểm tra mà thí sinh nào cũng đạt điểm 10/10, hoặc 1/10,  thì đó là một bài kiểm tra dở. Thời còn làm nghề thầy giáo, khi cho một bài kiểm tra, điều tôi nhắm đến là học trò đạt điểm 6/10, 7/10, 8/10, bởi vì mục đích của tôi là khuyến khích học trò nhưng đồng thời muốn biết các em yếu kém những mặt nào. Khi các em trả lời sai câu hỏi nào tôi sẽ biết để chú ý giảng kỹ hơn trong lớp học lần tới.

Trong cuộc đời cũng thế. Bạn được khích lệ để đạt được một số thành công. Có thành công bạn sẽ được thêm khích lệ, thêm phấn khởi. Nhưng những thất bại, lỗi lầm, cũng tốt, vì chúng chỉ cho bạn thấy mặt nào bạn còn yếu kém cần sửa đổi và làm cho tốt hơn, bạn sẽ có cơ hội để hiểu mình, hiểu đời hơn.

Nếu đạt được 6/10, 7/10, 8/10 thì đó là bài kiểm tra tối ưu trong đời và đại đa số con người là được như vậy. Hãy vui hưởng cuộc sống, nếu đôi khi gặp điều đau buồn hay thất vọng thì hãy xem như đó là một bài học thử thách, nên đón chào nó hơn là nhìn nó với cái nhìn tiêu cực. Đó là cách để học hỏi, trưởng thành, và khi cuộc sống chấm dứt thì cứ xem như đã học xong, hết phải làm bài kiểm. Có thể bạn chưa tốt nghiệp, bạn còn phải trở lại học năm sau, nhưng bạn cũng đã làm rất tốt rồi.

Thái độ tích cực đối với bản thân, thái độ sáng suốt trước những lỗi lầm và khổ đau của cuộc sống có nghĩa là bạn không tức giận, không nhìn chúng với cái nhìn tiêu cực. Do đó, vào giờ phút lâm chung, những thái độ tiêu cực không có mặt. Tâm thức bạn lúc đó sẽ bình yên và giai đoạn sau khi chết sẽ là một giai đoạn tốt lành. Bạn có thể tạo một cảnh giới thiên đàng cho bạn. Hay nếu muốn, bạn có thể trở lại làm người, sẽ tiếp tục học hỏi thêm, bởi vì nếu chỉ tu tập một đời thôi thì thường không đủ để thực sự phát triển từ tâm, sự hiểu biết, lòng bao dung tha thứ.

Vậy thì, hãy vui với bất cứ chuyện gì bạn phải làm trong cuộc sống. Đó cũng là thái độ bạn nên có lúc cuối đời. Rồi bạn sẽ được tái sanh tốt đẹp, thậm chí không còn tái sanh nữa nếu bạn có thể hoàn toàn buông xả.

Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

Muốn biết có “duyên” với Phật không, hãy xem 10 điều sau đây

Muốn biết có “duyên” với Phật không, hãy xem 10 điều sau đây

Cập nhật lúc: 23:58 19/07/2016

Phật gia giảng rằng chúng sinh ai cũng có “Phật tính”, tức là ai trong chúng ta cũng tiềm ẩn mối liên hệ tâm linh với Phật.
Phật tính” là bản chất vốn có của chúng sinh, nó không sinh ra cũng không mất đi, chỉ có thể bị che mờ bởi dục vọng, si mê và thù hận…
Con người chúng ta như những hòn ngọc quý nằm trong đá, nếu không mài không thể phát sáng được. Bạn có thể tự mình tôi luyện bản thân để một ngày có nào đó có thể phát sáng như những viên ngọc quý, tự rèn luyện bản thân cũng chính là tự gieo duyên với Phật, chờ đợi Phật ân. Dưới đây là mười điều chứng minh bạn có duyên với Phật.
10 điều chứng minh bạn có duyên với Phật:
Muon biet co
Ảnh minh họa.
1. Trong tâm có Phật chính là Phật duyên
Phật vô xứ bất tại, tu Phật không ở vẻ bên ngoài mà ở tại trong tâm, bạn có tâm như thế nào, có tin Phật tồn tại hay không. Trong tâm có Phật cũng chính là có duyên với Phật.
2. Vứt bỏ đi cái dục vọng xấu chính là Phật duyên
Phật duyên chính là giảm bớt những dục vọng quá đà. Trong kinh Phật nói chưa đoạn đứt tự ngã, tình ái thì khó nhập cảnh giới khiết tịnh, yêu hận ơn thù đều là chướng ngại của tình cảm. Tất cả những đau khổ của con người đều ở tại sự theo đuổi những thứ sai trái. Sự cố chấp của ngày hôm nay có thể tạo thành sự hối hận của ngày mai.
Nếu như bạn không đem lại phiền não cho chính bạn thì người khác cũng chẳng bao giờ có thể đem lại phiền não cho bạn. Mọi thứ đều là vì nội tâm của bạn không dứt bỏ được cái dục vọng xấu. Có thể buông bỏ được dục vọng xấu đó cũng chính là có duyên với Phật.
3. Đối diện với cuộc sống một cách bình hòa chính là Phật duyên
Phật duyên chính là một loại tâm cảnh bình hòa. Tư tưởng của con người rất không ổn định, nó rất dễ bị dẫn dụ, nhất là những cám dỗ kì lạ càng dễ làm người ta mất phương hướng. Rất nhiều người trong tâm muốn chiếm hữu thì khó có được khoảnh khắc thanh nhàn, không những mất đi niềm vui trong cuộc sống mà còn đem lại cho cuộc sống sự căng thẳng và phiền não.
Phật dạy chúng ta biết cách dùng cái tâm bình lặng để nhìn nhận cuộc sống được và mất, làm cho thể tính bộc lộ một cách tự nhiên. Bình hòa đối diện với cuộc sống đó chính là có duyên với Phật.
4. Có trách nhiệm với việc làm của mình là Phật duyên
Phật duyên chính là trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Người có tâm phật không nhìn vào sai lầm của người khác, nếu chỉ nhìn vào sai lầm của người khác thì không nhìn thấy được sai lầm của mình.
Do vậy cần phải hiểu rõ bản thân, nhìn rõ những việc bản thân cần làm và cũng cần nhìn rõ hậu quả của cái việc bản thân cần làm, bởi vì bạn cần có trách nhiệm với cái hậu quả đó. Đừng để cuộc đời của bạn lãng phí vào nơi mà bạn nhất định hối hận. Có trách nhiệm với việc làm của mình chính là có duyên với Phật.
5. Có tín niệm tốt lành chính là Phật duyên
Phật duyên là trong tâm có tín niệm. Trong lúc bạn đau khổ nhất chỉ cần bạn có niềm tin rằng đau khổ không phải là mãi mãi bạn nhất định sẽ có sức mạnh để chiến thắng đau khổ, đây chính là một dạng tín niệm.
Có thể nói tín niệm chính là con đường chủ đạo của đời người, thành Phật hay thành ma cũng chính là ở tại một niệm, nếu có tín niệm tốt lành đó cũng chính là có duyên với Phật.
Trong lúc bạn đau khổ nhất chỉ cần bạn có niềm tin rằng đau khổ không phải là mãi mãi, ngày tốt đẹp sẽ tới…
6. Làm việc có trí huệ chính là Phật duyên
Phật duyên là trí huệ thông suốt đại ngộ. Trong cuộc sống, nếu có thể dùng trí huệ để nhìn nhận vấn đề thì có thể tiết kiệm được rất nhiều thời gian và công sức, cũng có thể giảm bớt rất nhiều phiền não và ràng buộc, lại còn có hiệu quả làm ít hưởng nhiều.
Nhận biết chính mình, hàng phục chính mình là trí huệ. Nếu có được dạng trí huệ này mới có thể thay đổi người khác, chỉ biết nói không biết làm không phải là trí huệ chân chính. Người hiểu được nhìn đời bằng trí huệ, làm việc có trí huệ cũng chính là có duyên với Phật.
7. Giỏi kiềm chế chính là Phật duyên
Phật duyên là kiềm chế tất cả, kiềm chế chính là sự rèn luyện trí huệ, cũng chính là tích lũy năng lượng, nó dùng ngọn lửa vô hình làm tan chảy băng đá. Kiềm chế đem lại cho bạn sự đau khổ, những ngày sau nó tất thành mật ngọt.
Kiềm chế không giống với trốn chạy, bởi vì trốn chạy là sự thất bại của ý chí, mà kiềm chế lại là không quên sứ mệnh của bản thân làm cho ý chí thêm kiên định, thêm chữ Nhẫn. Hãy học cách cảm ơn những chúng sinh đem lại cho bạn nghịch cảnh, giỏi kiềm chế cũng chính là có duyên với Phật.
8. Rộng lượng đối với người chính là Phật duyên
Phật duyên là biết rộng lượng. Từ bi chân chính không phải là yêu thương những người yêu thương bạn mà còn phải khoan dung và yêu quý những người đối lập bạn. Hãy yêu người khác như yêu chính bản thân mình.
Trong lúc người khác vì một sự hiểu lầm nào đó mà đối xử không tốt với bạn, cần phải đem cái tâm từ bi mà bao dung người đó. Hãy đem lý trí để cảm hóa người đó. Rộng lượng đối với người cũng chính là có duyên với Phật.
9. Biết chờ đợi chính là Phật duyên
Lúc cơ duyên ở tại nhân quả đã thành thục, Phật duyên tự nhiên sẽ đến bên chúng ta.
Chưa có duyên không có nghĩa là không bao giờ có duyên, mỗi người đều có Phật tính, ai cũng có tâm tu Phật. Biết ơn hoàn cảnh xung quanh, cho dù là nghịch cảnh, biết chờ đợi Phật duyên tới cũng chính là có duyên với Phật.
10. Thiện từ chính là Phật duyên
Phật duyên là thiện, tức là sống thiện đã hướng tới Phật duyên, là gieo mầm nhân quả cơ duyên với Phật Pháp rồi.
Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

Tham luyến mỹ sắc, khẩu nhãn tạo nghiệp, mất hết phúc lộc

Tham luyến mỹ sắc, khẩu nhãn tạo nghiệp, mất hết phúc lộc

Lữ Thanh là người triều Minh (1368-1644). Anh ta thường thích nói về những chuyện dâm uế và hay nhìn lén phụ nữ, tùy tiện dùng mắt và miệng tạo nên dâm nghiệp, hành vi hết sức phóng đãng trụy lạc. Chính vì vậy, khi anh ta đã 30 tuổi mà gia cảnh vẫn vô cùng bần cùng, hai người con trai của anh ta lần lượt chết sớm. Một ngày nọ, Lữ Thanh đột nhiên chết bất đắc kỳ tử. Anh ta gặp lại ông nội ở dưới âm phủ. Ông nội rất tức giận nói với anh ta:

“Hai thế hệ trong gia đình chúng ta đã tích đức hành thiện, trong mệnh của ngươi lẽ ra đã có rất nhiều tài phú, không ngờ ngươi tham luyến mỹ sắc, khẩu nhãn đều tạo nghiệp, phúc báo đã sắp hết rồi. Ta e rằng nếu ngươi cứ tiếp tục phạm tội tà dâm xấu xa, thì Lữ gia chúng ta sẽ tuyệt tự, không còn hy vọng gì nữa. Chính vì vậy ta đã cầu khẩn Diêm Vương bắt ngươi xuống âm tào địa phủ sớm hơn để ngươi nhìn thấy phạm tội tà dâm sẽ bị trừng phạt như thế nào.”

Lữ Thanh nói: “Con nghe nói ai gian dâm với vợ của người khác, thì người đó sẽ bị báo ứng tuyệt hậu. Thực ra con cũng rất sợ bị báo ứng như thế, cho nên con chưa từng phạm tội đó.”

Nghe tới đây, một quan viên của âm phủ bèn lên tiếng:

“Tuyệt hậu mới chỉ là hình phạt nhẹ nhất đối với tội tà dâm mà thôi. Nếu là người nữ chủ động đến dụ dỗ, bản thân mình biết sai mà lại không khước từ, thì tội nghiệp đó đã đủ để bị báo ứng tuyệt tự rồi. Nếu như là tự mình nhiều lần dụ dỗ ép buộc người nữ, hãm hại vợ của người khác, thậm chí phá thai hay sát hại vợ hoặc chồng của người khác, thế thì hình phạt còn đáng sợ hơn rất nhiều.”

Quảng cáo

Quan viên này nói tiếp: “Đối với việc trừng phạt tội tà dâm, pháp luật trên nhân gian quá khoan dung, nhưng pháp luật tại âm gian là tối nghiêm. Con người hễ động một dục niệm tà dâm thôi, thì đã tính là tội nghiệp rồi. Tam thi thần liền trình báo, Táo Quân và Thành Hoàng liền xem xét tấu minh, nếu họ che giấu hoặc bỏ sót thì họ cũng phạm tội rất lớn. Hôm nay ngươi thử xem những kẻ phạm tội này bị xét xử như thế nào thì sẽ biết.”

Một lát sau, lũ quỷ đưa các phạm nhân phạm tội tà dâm lên thượng điện. Họ đều bị mang gông xiềng và phải quỳ dưới đất.

Diêm Vương bắt đầu nghiêm nghị tuyên án từng người một. “Người này sẽ trở thành kẻ ăn mày bị điên và bị câm trong kiếp tới. Người này sẽ chuyển sinh thành một kỹ nữ bị mù. Người này sẽ phải làm trâu trong hai kiếp. Người này sẽ phải làm heo trong mười kiếp…”

Sau đó, lũ quỷ áp giải những người phạm tội đi đầu thai. Lữ Thanh tận mắt chứng kiến mà thấy sợ hãi sởn tóc gáy.

Quan viên của âm phủ nói với anh ta: “Vẫn còn có những hình phạt đáng sợ hơn nữa. Ngươi nhất định không được vì thèm muốn khoái lạc trong chốc lát mà đánh mất sinh mệnh của mình. Phải tránh sắc giống như tránh mũi tên bắn vào ngươi vậy. Hơn nữa, ngươi nên viết xuống những gì ngươi đã chứng kiến, để khuyên giải thế nhân đừng phạm tội ác này nữa.”

Ngay sau đó, Diêm Vương liền thả cho Lữ Thanh trở về dương gian. Lữ Thanh viết cuốn “Du Minh lục” (những ghi chép về chuyến đi xuống âm phủ), đã được in thành một ngàn bản để cảnh tỉnh thế nhân. Ngoài ra, anh ta còn không ngừng nỗ lực hành thiện.

Khi Lữ Thanh 40 tuổi, anh ta liên tiếp sinh được hai người con trai. Gia đình anh ta lại trở nên rất giàu có.

Sau này Lữ Thanh quyết định đoạn tuyệt với thế giới trần tục, đến Nam Hải tu Đạo.

Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

Trên đời này thứ gì là khó được nhất?

Trên đời này thứ gì là khó được nhất?

Ảnh: Getty

Ảnh: Getty Images

Có ba vị tỳ kheo thảo luận vấn đề: “Trên đời này thứ gì là khó được nhất”?

Vị tỳ kheo thứ nhất nói: “Trên đời khó được nhất là có mãi tuổi thanh xuân, khoẻ mạnh và trường thọ. Một người cho dù có gia tài của cải tiền tỉ, nhưng khi bệnh tật già nua tới, cũng không thụ hưởng được những niềm vui của đời”. Vị tỳ kheo thứ hai nói: “Trên đời điều khó được nhất là có người bạn tri kỷ, có thể cùng nhau chia sẻ hoạn nạn. Một người dù cho quyền cao chức trọng đến đâu, nếu không có lấy một người bạn chân thành bên cạnh, quạnh hưu cô đơn, chẳng khác nào đoá hoa mà mất đi hương thơm, không có ong bướm vòng quanh.” Vị tỳ kheo thứ ba nói: “Tôi nhận thấy thứ khó được nhất là họ hàng quyến thuộc hoà hợp mỹ mãn. Nếu một người có thân thể khoẻ mạnh, có bạn tốt tri kỷ nhưng họ hàng quyến thuộc tranh đấubất hòa, thì có ích gì? Cuộc sống mỗi ngày giống như ở địa ngục trần gian, muốn thoát ra mà không biết đến khi nào.”

Phật Đà nghe ba vị tỳ kheo luận nghị xong, liền quyết định triệu tập đại chúng. Lúc này tiết trời đang độ mùa thu, gió thu nhè nhẹ thổi, cỏ cây xanh tươi khoáng dã, không khí thanh khoát sảng khoái lòng người. Phật Đà nói với các chư vị tỳ kheo: “Trên thế gian này thứ gì là khó được nhất? Không phải khoẻ mạnh trường thọ, không phải bạn bè tri tâm, cũng chẳng phải thân quyến hoà hợp. Ta kể một câu chuyện cho các vị nghe:

Ở đại trung hải, có một con rùa mù, mệnh thọ của nó vô lượng kiếp số, trải qua thiên bách ức thương hải tang điền (trăm ngàn năm bãi bể nương dâu). Bình thường nó lặn sâu nghìn trượng tận dưới lòng đại dương, trăm năm mới nổi lên mặt nước một lần. Lại có một cây gỗ nổi trên mặt nước, bên trong có một cái lỗ hổng, theo gió và sóng biển mà trôi dạt. Rùa mù trăm năm mới nổi lên mặt nước một lần, để gặp được cây gỗ nổi thì đã là kỳ tích, huống hồ hôm nay lại gặp đúng cây gỗ có lỗ hổng, chở nó vào bờ? Rùa mù gặp gỗ rỗng, hơn cả cơ hội ngàn vạn năm có một, nhưng đối với sinh mệnh trôi nổi trong luân hồi mà nói, muốn có được thân người còn khó hơn rùa mù được vào bờ cả vạn lần!”

Quảng cáo

Đức Phật dúm lấy một nắm đất trên mặt đất, mở bàn tay ra, nói với các tỳ kheo: Chúng sinh được thân người như đất trên lòng bàn tay ta, chúng sinh chẳng được thân người như đất trên khắp đại địa cầu. Cái gì khó được nhất? Chính là thân người!”

Ảnh: NTDTV

Ảnh: NTDTV

Một khi đã mất thân này, vạn kiếp khó có lại được, đây không phải chỉ là lời dạy của kinh Phật cổ xưa mà còn là nhận thức không thể thiếu trong cuộc sống của sinh mệnh chúng ta, giúp chúng ta quý tiếc thân người, trân trọng nhân duyên đương tại. Cái gì khó được nhất? Thân người khó được nhất. Con người là anh linh của vạn vật, cũng chỉ có người có thể tu luyện, có thể tu thành Phật, tu thành Đạo. Cho nên cần trân quý cơ quyên này. Danh lợi là không mang theo đi được, chúng ta khi đến cõi đời này với hai bàn tay trắng, khi rời khỏi nơi đây tay trắng vẫn hoàn trắng tay mà thôi. Vậy mà còn mê lạc trong thế gian, vì danh vì lợi mà theo đuổi đến cùng, lại càng tạo thêm nhiều nghiệp lực tội lỗi, thiện – ác tất có báo ứng đó là đạo lý của trời, cứ như vậy càng khiến cho đời sau thêm nhiều khổ nạn. Hãy trân trọng hiện tại, tuân theo chính pháp, phản bổn quy chân mới là mục đích chân chính để làm người.

Chia sẻ bài viết này
Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

Không biết không có tội: Phật tổ đã trả lời như thế nào?

Không biết không có tội: Phật tổ đã trả lời như thế nào?

Câu chuyện sau là lời cảnh báo cho những quan điểm bào chữa thoái thác tội của nhiều người bằng câu nói “Không biết không có tội”

Đương thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp luôn hiển đắc hòa ái rất thân thiện, dễ gần. Ngài thường xuyên nói về những sự vật và những vấn đề gần gũi quen thuộc trong cuộc sống mà các đệ tử rất thích nghe. Để giúp cho chúng sinh dễ hiểu và có đủ khả năng lý giải nên lời ngài giảng đều rất thấu đáo, từ bình dị đến thâm nhập, ngài đại lượng dùng ví dụ so sánh mà từ tốn mang đạo lý tới cho mọi người, các đệ tử đều cảm thấy rất thân thiết gần gũi và thiết thực dễ hiểu.

Một hôm khi Đức Phật Thích Ca thuyết pháp xong, một đệ tử hướng về ngài xin thỉnh giáo hỏi :

– Thưa Sư Phụ “Không biết không có tội”, có thật là không biết không có tội?

Đối với vấn đề này Đức Phật Thích Ca Mâu Ni không trả lời trực tiếp mà đưa ra ví dụ: Bây giờ có một cái gắp than, nó bị lửa đốt cho nóng bỏng nhưng bằng mắt thường lại nhìn không thấy được. Nếu con đi lấy cái gắp than đó, giữa việc con biết là nó đang nóng bỏng hay không biết nó đang nóng bỏng, cái nào sẽ gây ra tổn hại nghiêm trọng?

Quảng cáo

Đệ tử thoáng suy nghĩ đáp rằng: đương nhiên không biết nó đang nóng bỏng là rất tai hại. Bởi vì không biết nên không có sự chuẩn bị, không đề phòng trước nên bị bỏng.

Phật Thích Ca Mâu Ni hòa ái nói tiếp: Đúng vậy! Nếu biết cái kẹp than ấy nóng bỏng thì tâm sẽ kinh đảm đề phòng, khi cầm lấy nó sẽ không dám vô ý dùng tay không mà nắm chặt. Từ đó đủ thấy không phải “Không biết không có tội”, mà không biết sẽ là tai hại lớn nhất. Mọi người vì vô minh không hiểu chân lý nên mãi trầm luân chìm sâu trong bể khổ.

Đạo lý: Thường người vô minh, hồ đồ, chính là những người chịu tổn hại lớn nhất, bởi vì họ không thể thông qua phân tích của tự thân mà hiểu được bối cảnh, cũng như không lường trước được hậu quả của sự việc. Chỉ có “hữu tri” mới giúp người ta sáng suốt, mới thấy được chân lý. Vì thế đối với những sự tình nào bạn không nhìn thấu được sự vật thì đừng vội đưa ra kết luận, càng không nên hùa theo số đông chỉ bởi vì người ta thế – rất nhiều người thế nên tôi cũng thế. Đặc biệt với đoàn thể những người tu tâm hướng thiện, nhất định càng cần nên thận trọng trong từng lời nói.

Khi người ta bị những lời nói dối lừa mị, chính tà bất phân, thiện ác bất minh, thì họ chỉ làm những việc “trợ Trụ vi nghiệt” mà thôi. Hậu quả tự mình chuốc lấy!

Nguồn: Nhân Vi Ái

Biên tập: Thiên Thiên.

Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

“Khi ở một mình, ngài có ăn thịt không?” Lão hòa thượng trả lời quá hay!

“Khi ở một mình, ngài có ăn thịt không?” Lão hòa thượng trả lời quá hay!

 Ảnh lão hòa thượng từ NTDTV

Ảnh: NTDTV

Có người khách hỏi lão hòa thượng: Pháp sư, tôi muốn hỏi ngài một vấn đề hơi bất kính một chút có được không ạ?

Lão hòa thượng: Xin ông cứ nói!

Người khách: Lúc ở nơi dân chúng đông đúc thì ngài ăn chay, vậy khi ở một mình trong phòng ngài có ăn thịt không?

Lão hòa thượng hỏi người khách: Ông là lái xe tới đây phải không?

Quảng cáo

Người khách trả lời: Vâng, đúng ạ!

Lão hòa thượng: Khi lái xe cần thắt dây an toàn, xin hỏi ông là ông thắt vì sự an toàn của bản thân hay vì cảnh sát? Nếu như vì bản thân mình thì có hay không có cảnh sát ông sẽ vẫn đều thắt thôi.

Người khách: oa, Tôi hiểu rồi!

Rất nhiều người nói rằng không tự có kỷ luật, không có người đốc thúc thì không thể kiên trì thành công thói quen của mình.

Bây giờ bạn đã hiểu rõ nên làm thế nào chưa?

Năm trăm nghìn làm thế nào mua được xe hơi?

Có người phàn nàn với lão hòa thượng nói: Thưa thầy! Vì sao mà con nỗ lực cố gắng rồi mà cũng vẫn không đạt được? Làm việc thiện, niệm kinh cũng đã có cả rồi nhưng vận mệnh vẫn không thấy cải biến gì?

Lão hòa thượng: Vậy, ta cho ông một tờ 500 nghìn đồng có được không?

Người khách: Tiền của hòa thượng con không dám lấy ạ!

Lão hòa thượng: Ta là muốn ông làm giúp ta một việc.

Người khách: Sư Phụ, thầy nói làm việc gì con cũng tuyệt đối giúp thầy làm tốt.

Lão hòa thượng: Hãy giúp ta mua một chiếc xe hơi.

Người khách: (giật mình kinh ngạc) Sư Phụ, 500 nghìn làm sao có thể mua được xe hơi cơ chứ?!

Lão hòa thượng: Ông biết 500 nghìn mua không được xe hơi! Thế nhưng trên đời này có rất nhiều người đều đang vắt hết óc ra để suy nghĩ làm sao chỉ cần bỏ ra một chút thôi mà lại muốn phải đạt được rất nhiều thứ đấy!

Chia sẻ bài viết này
Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

LỜI KHUYÊN THA THIẾT CỦA MỘT ĐẠO SƯ ĐẠI ẤN – CHUẨN BỊ CHO CÁI CHẾT

LỜI KHUYÊN THA THIẾT CỦA MỘT ĐẠO SƯ ĐẠI ẤN –
CHUẨN BỊ CHO CÁI CHẾT
Gendun Rinpoche Thanh Liên dịch sang Việt ngữ

Gendun Rinpoche

Gendun Rinpoche (1918-1997)

Chuẩn bị cho Cái Chết

Việc thực hành Pháp có được ý nghĩa
chân thực trong sự chuẩn bị cái chết. Như thế
giá trị đầy đủ của nó trở nên hiển nhiên.

Bởi ta đã thực hành trong cuộc đời, ta sẽ không sợ hãi khi tiến trình của sự hấp hối bắt đầu. Chúng ta sẽ bám rễ vào niềm tin và biết rõ thái độ nào là lợi lạc và thái độ nào không có lợi trong tiến trình này. Ta sẽ thu hoạch trái quả của một cuộc đời được dâng hiến cho việc thực hành Pháp. Tuy nhiên, nếu ta chỉ bắt đầu thực hành của ta vào giây phút cuối cùng, các kết quả tốt lành của nó sẽ không trở thành hiện thực. Hậu quả của những hành vi có hại của ta sẽ đi theo chúng ta vào quá trình của sự hấp hối giống như một cái bóng và dẫn tới những kinh nghiệm về nỗi khổ ghê gớm. Vì thế, ta nên áp dụng những giáo huấn không chút trì hoãn và giải tan gánh nặng của những hành vi ác hại khi vẫn còn thời gian.

Có lẽ ta tự nhủ rằng nếu ta không suy nghĩ quá nhiều về cái chết thì tốt hơn bởi dù sao chăng nữa ta cũng không thể ngăn ngừa nó, và sự suy nghĩ về nó có lẽ chỉ làm ta kinh hãi hay ngã lòng. Nhưng kềm chế tư tưởng về cái chết không phải là điều khôn ngoan. Chỉ khi ta nhượng bộ sự thực của cái chết, đầu hàng điều không thể tránh khỏi và không thể đoán trước của nó, ta mới có thể tự chuẩn bị về nó và nhìn nó bằng đôi mắt an bình và một tâm thức trong trẻo. 

Cái chết của ta có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, hoặc bởi một tai nạn, một chứng bệnh bất ngờ, thực phẩm hư hỏng – hầu như mọi sự đều có thể trở thành nguyên nhân cho cái chết của ta. Ta không thể biết được thời điểm sẽ tới của ta. Và dù có thể cố gắng, ta không thể ngăn ngừa cái chết sẽ đến – giống như ta không thể làm dừng lại tiến trình của mặt trời. Đối diện với cái chết, mọi của cải và quyền lực sẽ tuyệt đối không thể giúp ta được gì. Ta sẽ phải bỏ lại mọi sự ở phía sau. Nếu ta dùng toàn bộ cuộc đời mình để tích tập mọi sự, nỗ lực chiến thắng bè bạn, tạo dựng quyền lực và thành tựu danh vọng, thì điều đó có nghĩa là ta đã đặc biệt theo đuổi khuynh hướng chấp-ngã và bị vướng sâu vào chúng một cách đầy cảm tính.

Vào lúc chết, ta sẽ không còn cơ hội để tự giải thoát khỏi tình cảnh này. Mọi nỗ lực ta đã dùng khi nỗ lực bòn rút hạnh phúc cho chính mình từ cuộc đời này sẽ chỉ dẫn tới một núi nghiệp tiêu cực, khi mọi hành động của ta được thúc đẩy bởi sự quy-ngã. Vào lúc chết, năng lực của những hành vi có hại này sẽ ném ta vào một trong ba cõi hiện hữu có đặc điểm là đau khổ, nghĩa là các cõi địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Trong những cõi này sự đau khổ ghê gớm trội vượt thì mãnh liệt hơn nỗi khổ ở cõi người rất nhiều.

Nếu ta không đủ động lực để thực hành tâm linh, điều đó ngụ ý rằng ta đã cho là mình am tường về lẽ vô thường và cái chết. Ta có thể không muốn nghĩ đến các hậu quả của một cuộc đời đã bị phí phạm với những hoạt động vô nghĩa; như thế ta chỉ khẳng định rằng việc tự chuẩn bị cho cái chết và thời gian sau đó là điều không cần thiết. Ta bị dính mắc vào đời sống thế tục và những lạc thú của nó và coi hạnh phúc hiện tại của ta là điều quan trọng nhất. Nhưng cuối cùng ta sẽ phải chấp nhận hậu quả của những hành động của ta, và khi đó sẽ quá trễ để thay đổi mọi sự.

Khi ta đầu hàng sự thực của cái chết, nhiều điều trước đây bị che dấu bởi cái nhìn của ta, thì nay với ta chúng sẽ trở nên rõ ràng. Ta sẽ không chỉ thấy cái chết nhất định xảy ra mà cũng thấy rằng việc nó xảy đến hoàn toàn không thể đoán trước. Cái chết có thể đến bất kỳ lúc nào. Ta không có thời gian để uổng phí. Ta nên bắt đầu sự chuẩn bị của mình tức thì và kềm chế mọi hành động dẫn tới những tái sinh đau đớn. Việc thiền định về năng lực quyết định-tất cả của nghiệp, quyết định ta sẽ xử sự ra sao trong tương lai, là một động cơ mạnh mẽ đối với ta để tham gia vào những hành động tốt lành, hiến mình cho Pháp và ngừng đánh mất thêm thời gian trên con đường dẫn tới giác ngộ.

Những hậu quả của nhiều hành động có hại mà chúng ta đã đảm nhận tạo nên nguy hiểm to lớn nhất trong cái chết. Ta phải lập tức học tập cách thức giải quyết những chủng tử này với sự trợ giúp của Pháp và thay vào đó là những hạt giống của cây trái hạnh phúc. Chỉ có Pháp, con đường của sự giải tan tính chất hoàn toàn-quy ngã là có năng lực này. Vì thế, ta phải lập tức áp dụng các phương pháp của Giáo pháp. Trong quá trình hấp hối và sau đó, khi ta tìm kiếm sự che chở một cách tuyệt vọng, giúp đỡ hữu hiệu duy nhất sẽ đến từ Phật, Pháp và Tăng.

Thật sai lầm khi nghĩ rằng ta mở lòng với Tam Bảo vào giây phút cuối là đủ. Ta phải thực hành việc lập các nguyện ước và quy y Tam Bảo và Đạo sư trong toàn bộ tiến trình cuộc đời ta, khiến cho thái độ này bám rễ sâu xa và hoàn toàn tự nhiên vào lúc chết. Khi ta không chuẩn bị điều đó, hấp hối là một tiến trình đau khổ, và ta có thể không phản ứng với nó một cách an định và bình tĩnh như ta ước muốn, bởi để cho qua mọi sự và đi vào chốn chưa từng biết tới là điều không dễ dàng. Sẽ quá trễ để học điều gì mới mẻ – khi ấy những tập quán tốt của ta sẽ hỗ trợ cho ta.

Khi ta dâng hiến đời mình cho việc thực hành Pháp, ta học chuyển hóa những hoàn cảnh khó khăn thành con đường dẫn tới giác ngộ, tịnh hóa nghiệp lực của ta và giải thoát mình khỏi gánh nặng của quá khứ. Việc thực hành Pháp cũng giải thoát ta khỏi khuynh hướng cắm rễ sâu xa khiến lập đi lập lại những sai lầm tương tự và liên tục tạo nên đau khổ mới. Dần dần, trong sự đau khổ của chúng sinh, việc thực hành Pháp khiến ta đứng cạnh họ và cứu giúp họ giải tan nghiệp chướng. Nhờ năng lực của hứa nguyện thực hành của ta và nhờ sự thanh tịnh của động lực, ta sẽ có thể gây hứng khởi cho càng lúc càng nhiều chúng sinh đi trên con đường giải thoát. Theo cách này, thực hành của ta quả là sự thực hiện lợi lạc cho tất cả chúng sinh.

Khi ta chuẩn bị tốt nhờ việc
thực hành Pháp, cái chết là một cơ hội
phi thường để đào sâu nội quán của ta.

Những hành giả vô cùng tiến bộ có thể đạt được Phật quả trong cái chết của họ nhờ nhận ra tâm họ là thân chân thực. Những hành giả có phần kém hơn, những vị nhờ thực hiện các thực hành Bổn Tôn đã học để nhận ra mọi sự xuất hiện là những biểu lộ khác nhau của Phật tâm, có thể đạt được giải thoát trong cái chết bằng cách nhận ra thân hỉ lạc.

Nếu ta không là những hành giả hảo hạng như thế nhưng đã phát triển một tâm thức thư thản, rộng mở và niềm tin sâu sắc nơi Đạo sư, ta sẽ không cảm thấy bị đe dọa bởi những xuất hiện huyễn hóa của trạng thái sau-cái chết mà sẽ nhận ra nơi chúng chân tánh của mọi hiện tượng, nghĩa là tánh Không. Bởi ta đã thực hành lòng sùng mộ và cởi mở đối với Đạo sư và cũng đã thực hành việc lập các nguyện ước, ta sẽ có thể hòa hợp tâm ta với tâm Đạo sư. Qua việc này, mọi sự xuất hiện trong trạng thái sau-cái chết, không là gì khác hơn những hiển lộ của các khuynh hướng nghiệp của ta, sẽ được tịnh hóa tức thì khi chúng xuất hiện. Chúng tan biến khi ta nhận ra chân tánh của chúng và ta sẽ đạt được sự giải thoát toàn hảo.

Vì tất cả những lý do này, điều quan trọng là vào lúc này, khi ta còn sống, ta hướng về việc nghiên cứu và thực hành Pháp và phát triển sự rộng mở và niềm tin nơi Đạo sư và Giáo lý. Vật chất và bằng hữu không giúp ích được gì khi ta chết. Như thế, chỉ có năng lực được phát triển qua việc thực hành, sự tin cậy và khả năng của ta để mở rộng chính mình hầu nhận lãnh sự gia hộ của Tam Bảo và Đạo sư, mới có thể bảo vệ chúng ta.

Vì thế, từ nay trở đi, ta nên sử dụng mọi hoàn cảnh, đặc biệt là những tình huống khó khăn và đau khổ, để phát triển niềm tin và lòng sùng mộ đối với Tam Bảo và Đạo sư. Những hoàn cảnh trong đó ta chịu đau khổ hay bị tấn công hoặc gặp phải những vấn đề khó khăn là nền tảng tu tập tốt nhất cho ta. Ta không nên sử dụng các phương tiện thế tục để giải quyết những vấn đề đó mà thay vào đó mở rộng lòng mình để đón nhận những gia hộ của Giáo pháp.

Càng quen thuộc với sự quy y, điều đó sẽ càng giúp ta trong giấc ngủ, trong những giấc mộng nặng nề, và khi ta chết. Nhờ những lời cầu nguyện mà ta hướng tới những suối nguồn của sự quy y trong trạng thái thức của ta, ta thiết lập một tập quán khiến ta cũng quy y một cách tự nhiên trong những giấc mộng. Khi ta làm điều này, những sợ hãi lập tức tan biến và những giấc mộng của ta xoay chuyển qua một chiều hướng khác. Hơn nữa, sự quy y tự nhiên của ta trong giấc mộng cho thấy việc quy y đã trở thành một phản ứng xác thực, hầu như tự động và cũng sẽ hỗ trợ ta trong tiến trình hấp hối. Nhờ năng lực của tập quán mà ta đã phát triển thực hành trong đời mình, ta sẽ nhớ lại sự quy y, và với Giáo pháp, vào lúc ta chết và sau đó, ta sẽ có thể tìm ra con đường thoát khỏi mọi sợ hãi và lầm lạc.

Nhờ việc xoay chuyển về sự quy y, ta sẽ
nhận ra những kinh nghiệm của tiến trình hấp hối như
những phóng chiếu của tâm ta và không nhầm lẫn chúng
bởi những hành vi tác động lên ta từ bên ngoài.

Nếu chúng ta muốn chắc chắn rằng ta sẽ đạt được giải thoát vào lúc chết, ngoài niềm tin và lòng sùng mộ, ta phải phát triển một sự thấu suốt trực tiếp về chân tánh của mọi hiện tượng. Vì thế, ta nên thiền định không ngừng nghỉ về sự kiện là toàn thể thế giới – tất cả các chúng sinh và các hiện tượng – thì không có thực tại, như một giấc mộng, sự phô diễn huyễn hóa của tâm. Khi ta thực sự hiểu rõ tính chất huyễn hóa của mọi sự xuất hiện của hạnh phúc và đau khổ, ta sẽ không còn quy gán một thực tại cụ thể cho các kinh nghiệm của ta và ta cũng sẽ nhận ra những phóng chiếu trong tiến trình hấp hối là huyễn hóa. Bởi chúng có thể rất kinh khủng, ta sẽ hiểu rằng chúng chỉ là những hình ảnh trong tấm gương của tâm ta. Sự hiểu biết này phát triển khi ta mở lòng mình để đón nhận những gia hộ của Đạo sư và Tam Bảo. Lần này tới lần khác, ta trở lại với những yếu chỉ này của việc thực hành: niềm tin, sự rộng mở và lòng sùng mộ.

Nếu trong đời mình, ta không học tập để sống những kinh nghiệm của ta như thể ta đang sống trong một giấc mộng và học nhận ra chính trạng thái mộng là một sự huyễn hóa, thì ta sẽ khó đạt được giải thoát vào lúc chết hay trong trạng thái sau-cái chết. Bởi các sự xuất hiện và khuynh hướng của ta hiển lộ trong cùng cách thế sau cái chết như chúng đang làm, khi đó, không có lợi lạc của việc thực hành Pháp, ta sẽ thấy những kinh nghiệm xuất hiện với ta hiện giờ là thật có. Như thế, để chuẩn bị tốt đẹp cho cái chết, ta nên lập tức thực hành việc nhận ra tính chất không thực của mọi sự xuất hiện.

Từ Tây Tạng “bardo” thường được dùng để chỉ giai đoạn sau-cái chết, nhưng thực ra bardo có nghĩa hết sức thông thường “trong trạng thái ở giữa.” Hiện tại, chúng ta cũng ở trong bardo, có nghĩa là trạng thái ở giữa sự sinh ra và chết đi. Khác biệt duy nhất giữa bardo này và bardo sau-cái chết là các kinh nghiệm của ta sau cái chết sẽ mãnh liệt hơn bây giờ. Mọi điều ta đã kinh nghiệm trong những đời trước, mọi điều ta kinh nghiệm trong bardo hiện tại, và mọi điều ta sẽ kinh nghiệm trong bardo sau-cái chết đều là kết quả của việc làm thuần thục những hạt giống nghiệp – năng lực của các hành vi của ta – mà ta đã tạo ra trong vô số cuộc đời. Tất cả những kinh nghiệm bardo khác nhau này theo những định luật giống nhau: chúng sinh khởi từ những nhân và duyên nghiệp báo.

Vì thế, chuẩn bị tốt đẹp nhất cho bardo sau-cái chết là học sống trong bardo của giây phút hiện tại, với sự trợ giúp của việc thực hành Pháp của ta. Từ viễn cảnh của Pháp, cái chết của ta chỉ thay đổi trong nội dung của những gì ta nhận thức. Các sự xuất hiện của thế giới hiện tại của ta ngừng dứt, và chúng nhường chỗ cho những nhận thức khác. Không có sự đứt quãng thực sự: tâm ta tiếp tục là cái nó là trong chân tánh của nó và nhận thức với những khuynh hướng tương tự. Cấu trúc quan hệ của những nhận thức của ta thay đổi nhưng về nền tảng thì tiến trình tương tự vẫn tiếp tục – các phản ứng của tâm ta vẫn giống như trước. Thực ra, cái chết, cũng như cuộc đời, là một sự huyễn hóa, một sự chuyển di trong-trạng thái ở giữa, một bardo. Trái nghịch với những gì có lẽ ta có thể đảm đương, với cái chết của ta mọi sự không kết thúc một cách đơn giản.

Cái chết là sự tiếp tục của cuộc đời: một sự thay đổi của
quang cảnh trong tiến trình liên tục của sự biến đổi.

Các tri giác của ta sau khi chết là sự hiển lộ đang tồn tại của nghiệp lực chín mùi của ta. Nghiệp này tiếp tục hiện diện, mặc dù trong lúc này ta chỉ sở hữu thân tinh thần và không có thân xác hữu hình. Và giống như trong cuộc đời hiện tại của ta, ta phản ứng với sự tham luyến hay thù ghét và mọi cảm xúc khác, tùy thuộc vào việc nghiệp lực của ta tạo ra những kinh nghiệm an bình hay khủng khiếp.

Cái chết của ta có thể được so sánh với một sự di chuyển. Ta sống trong một căn nhà trong đó ta đã phát triển những tập quán nào đó, và một hôm các điều kiện để ta tiếp tục sống ở đó kết thúc. Ta chết đi, nhặt lấy “những va li nghiệp” và di chuyển tới nơi nào khác, để sống trong một hoàn cảnh và môi trường khác biệt. Nhưng mặc dù thấy mình trong một thế giới mới mẻ không quen biết, ta tiếp tục được đồng hành bởi những tập quán xưa cũ của ta. Các giáo lý của Pháp giúp ta định hướng trong hoàn cảnh mới mẻ này, bởi trong cuộc đời này ta đã phát triển các tập quán sẽ trợ giúp ta trong những xứ sở xa lạ.

Vào lúc chết cấu trúc hiện tại của ta về mối quan hệ tan biến. Cái chết là sự kết thúc của thế giới quen thuộc của chúng ta. Trong đời ta, nếu ta đã từng tin tưởng vào tính xác thực của thế giới có điều kiện này, khi ấy cái chết của ta sẽ đẩy chúng ta vào sự lầm lạc tuyệt đối. Ta sẽ không thể đương đầu được nữa, khi mọi điểm quy chiếu quen thuộc, mọi phản chiếu mà trước đây đã cho ta cảm nhận rằng ta hiện hữu, bị mất đi. Ta khám phá rằng chúng ta hoàn toàn đơn độc. Ảo tưởng cho rằng ta được những người khác vây quanh, rằng ta là người nào đó và ta đang làm những việc quan trọng, sụp đổ vào lúc chết. Và nếu ta đã không sử dụng cuộc đời mình để phát triển sự tin tưởng sâu xa nơi sự nương tựa (quy y) và theo đó trong tâm ta, ta sẽ cảm thấy bị nhổ bật rễ và mất mát.

Những gì còn lại của chúng ta vào lúc chết là tâm ta,
cái nhìn của ta về các sự việc và mọi sự tin tưởng,
kinh nghiệm và sự chứng ngộ ta đã thành công
trong việc phát triển trong dòng sống của ta.

Vào lúc chết, mọi sự tùy thuộc vào việc ta có thực sự học hỏi để quy y hay không – quy y Đạo sư, đấng đồng thời là chiều kích đích thực của tâm ta. Trong tiến trình chết, khi môi trường quanh ta tan biến và Đạo sư bên ngoài không thể vươn tới được nữa, hẳn là ta có thể thoát khỏi mọi sự nghi ngờ, quy y bản chất chân thực của Đạo sư. Nhờ một sự quy y như thế, Đạo sư chân thực có thể được tìm thấy trong ta.

Khi ta chết, tâm ta tự phân cách với mọi vật chất, thoát khỏi thân ta cũng như khỏi thế giới. Khi ấy nó hoàn toàn trần trụi, không còn bị trói buộc với thân thể này là cái đào tạo lại nó nhưng cũng bảo vệ nó khỏi sự chuyển di quá sức nhanh chóng của những lực đẩy vào hành động. Tâm thức trống không, năng động của ta phô diễn một năng lực làm sửng sốt khi nó không còn bám chặt vào một thân thể vật lý: trong chiều kích tinh thần thuần tịnh này, mọi tư tưởng có một tác động tức thời. Nếu một cảm xúc xuất hiện, ta lập tức nhận ra mình trong một môi trường phản chiếu cảm xúc này. Mặc dù các tiến trình tinh thần căn bản của ta vào lúc này và sau khi chết thì đồng nhất, giờ đây ta có thể có một thời gian khó khăn khi hình dung trạng thái tâm của ta, bởi trong những cuộc đời bình thường ta chẳng bao giờ kinh nghiệm tâm thức trần trụi này không nối kết với một thân thể.

Trong trạng thái bình thường của ta, ta liên tục tạo lập những che chướng thuộc về khái niệm giấu giếm chân tánh của tâm ta và của thế giới. Ta không bao giờ thực sự chủ ý thiết lập sự gặp gỡ với bản chất sâu xa của ta – trừ phi ta thực hành thiền định. Trong thời gian sau cái chết, tâm ta vô cùng di động và sở hữu nhiều năng lực không thể kiểm soát được. Hơn nữa, nó gặp những hoàn cảnh hoàn toàn bất ngờ và vô danh. Không sẵn sàng như thế này, ta khó có thể đáp ứng thích đáng cho những thách thức này. Nó vô cùng bất ổn – mọi sự có thể xảy ra, và dễ mất quân bình. Tùy thuộc vào việc các tư tưởng của ta đi theo chiều hướng nào, ta có thể thấy mình trong những trạng thái hạnh phúc sâu xa nhất hay nỗi khổ lớn lao nhất.

Giáo pháp dạy ta những phương pháp cho phép ta nhận ra bản chất của tâm. Những giáo huấn sâu xa này, chẳng hạn những giáo lý của Đại Ấn (Mahamudra), Đại Viên mãn (Maha-ati), Bát nhã ba la mật (Prajnaparamita), và Trung Đạo (Madhyamaka), với những danh xưng gây ấn tượng của chúng, gây một sức hấp dẫn lớn lao lên những người tìm cầu tâm linh. Nhưng để hiểu được những giáo lý này qua kinh nghiệm của riêng ta thì đòi hỏi sự thực hành thường xuyên, bền bỉ. Chỉ bằng phương tiện của thực hành như thế ta mới có thể thâm nhập cốt lõi của những tiếp cận này và không mắc kẹt trong sự hiểu biết đơn thuần. Việc tự coi mình là những hành giả của những giáo lý này mà không thực sự hiểu rõ ý nghĩa của chúng, sẽ là một biểu lộ của sự kiêu hãnh tâm linh.

Vào lúc chết, ta cần một phương pháp khiến
ta có được một sự tinh thông thực sự
như thế việc đánh giá
chính mình quá cao sẽ không giúp gì cho ta.

Vì thế ta nên thực tập tính khiêm tốn và nương tựa vào một thực hành đơn giản và chắc chắn nằm trong tầm tay của ta và dẫn dắt an toàn những người dốt nát như ta tới sự giải thoát. Đặc biệt thích hợp cho mục đích này là thực hành lập các nguyện ước tái sinh trong cõi thuần tịnh của A Di Đà, Đức Phật Vô Lượng Quang. Thực hành này khiến chúng ta có thể thực hiện điều đó, chỉ nhờ niềm tin của ta nơi Đức Phật A Di Đà, lúc chúng ta chết để đi vào các cõi thuần tịnh của sự chứng ngộ bản tánh của tâm. Khi chúng ta đạt được sự tái sinh trong một cõi thuần tịnh chẳng hạn như cõi thuần tịnh Dewachen của Đức Phật A Di Đà, ta được giải thoát khỏi hiện hữu luân hồi, không gặp các chướng ngại và có thể nhanh chóng tiến tới sự hoàn toàn giác ngộ.

Dĩ nhiên là trong đời người này chúng ta có thể chứng ngộ Đại Ấn, nội quán vào chân tánh của tâm, nhưng một khát khao như thế cần đến hứa nguyện tuyệt đối. Ta phải hướng trực tiếp mọi năng lực của ta vào mục đích này và thực hành không mỏi mệt trong toàn bộ cuộc đời ta, cho tới khi ta làm chủ các giai đoạn phát triển và thành tựu của thiền định.

Hiện nay, có lẽ hầu hết chúng ta thiếu thời gian và năng lực cần thiết. Đối với điều đó, các điều kiện nghiệp lực của ta rõ ràng là không chín muồi – và có lẽ chúng ta cũng lười biếng quá sức! Như đã nói ở trên, tất cả những người hoặc quá lười biếng hay quá bận rộn thì không thể thực hành một cách mãnh liệt, nhưng với những người có một khát khao sâu xa về sự giải thoát khỏi đau khổ của hiện hữu luân hồi thì có thực hành lập các nguyện ước tái sinh trong cõi thuần tịnh cực lạc của Đức A Di Đà. Thực hành này đơn giản và ít đòi hỏi thời gian nhưng mang lại kết quả to lớn.

Trong tất cả các cõi chứng ngộ của tâm thức được gọi là các cõi thuần tịnh, cõi thuần tịnh của Đức A Di Đà dễ đạt được nhất. Trong toàn bộ con đường đạt được Phật quả của ngài, Đức A Di Đà đã lập những nguyện ước khẩn cầu chư Phật khiến cho chúng sinh bình thường sống trong cuộc đời mà chưa hiểu được bản tánh của tâm có thể đến được một cõi chứng ngộ. Trong tiến trình phát triển tâm linh của các ngài, mỗi vị Bồ Tát lập những nguyện ước cho hoạt động tương lai của mình. Đức A Di Đà thấy rằng đối với chúng sinh bình thường, việc đến được nhiều cõi thuần tịnh thật khó khăn, bởi việc vào các cõi đó bao hàm rằng ta đã đạt được một cấp độ chứng ngộ nào đó về bản tánh của tâm trong đời người.

Ngài đã cầu nguyện rằng với sự thành tựu Phật quả của ngài, một môi trường tâm linh sẽ hình thành khiến mọi người đều có thể đến được – chỉ là kết quả của nguyện ước chân thành được tái sinh trong cõi thuần tịnh này và kết quả của niềm tin không bị lay chuyển nơi ngài. Khi Ngài đã trở thành một vị Phật toàn giác, nhờ năng lực của sự chứng ngộ, những nguyện ước của Ngài được đáp ứng và cõi Dewachen đã hiển lộ, một cõi thuần tịnh mở rộng cho tất cả những ai có niềm tin đầy đủ nơi Ngài.

Để đến cõi Dewachen, ta cần niềm tin to lớn
nơi Đức Phật A Di Đà, và ta không được
nghi ngờ rằng chúng ta có thể tái sinh ở đó.

Để được tái sinh trong cõi Dewachen, thật vô cùng lợi lạc khi ta lập nguyện ước mỗi ngày, khẩn cầu rằng ta lập tức đi tới cõi thuần tịnh này sau khi chết, không phải tái sinh trong sự sùng mộ luân hồi đối với toàn bộ tiến trình của những cuộc đời của ta, chúng ta thực hành phó thác chính mình cho Đức A Di Đà. Cũng đặc biệt ích lợi cho điều này là thiền định về Đức Quán Thế Âm, Bồ Tát của lòng Đại Bi, bởi chính ngài sẽ mở cho ta cánh cửa dẫn tới phạm vi giác ngộ thuần tịnh này và dẫn ta tới Đức Phật A Di Đà, Đạo sư của ngài.

Khi ta kết hợp thực hành Quán Thế Âm với việc lập các nguyện ước, một khao khát sâu xa đạt đến cõi Dewachen sẽ xuất hiện trong ta. Dĩ nhiên là thực hành cũng bao gồm việc ta nỗ lực để tránh mọi hành vi có hại và thực hiện càng nhiều càng tốt điều lợi lạc. Như thế khi ta hoàn toàn hướng cuộc đời mình đến sự giải thoát và giác ngộ, dần dần ta tháo gỡ mình khỏi những bận tâm về thế giới này và vào lúc ta chết, ta sẽ sẵn sàng bỏ lại sau lưng thế giới của những trói buộc. Khi ta đã giải tan mọi tham muốn tái sinh trong hiện hữu luân hồi, ta sẽ trực tiếp đi tới cõi Dewachen sau cái chết. Ta có thể chắc chắn rằng điều này ở trong tầm tay của bất kỳ ai trong chúng ta.

Để có thể thiết lập sự chuyển di vĩ đại này và được chứa đầy niềm tin trong khi ta trải qua nó, ta phải có một sự hiểu biết trong trẻo về những gì thực hành trong tiến trình chết. Khi giây phút cái chết của ta tới gần, trước hết ta cúng dường thân, ngữ và tâm ta cũng như mọi hành vi tốt lành mà ta đã thực hiện trong tiến trình của cuộc đời ta vì lợi lạc của tất cả chúng sinh. Càng đầy đủ càng tốt, chúng ta hồi hướng mọi sự của tất cả chúng sinh. Càng đầy đủ càng tốt, chúng ta hồi hướng mọi sự tốt lành cho họ và ước nguyện họ được đáp ứng mọi sự họ mong ước. Cầu mong họ được hạnh phúc, cầu mong tâm họ mở trống, và cầu mong tâm rộng mở, hạnh phúc của họ nhanh chóng đưa họ tới Phật quả!

Sau đó ta sinh khởi ước nguyện mãnh liệt, thuần tịnh được tái sinh trước sự hiện diện của Đức Phật A Di Đà, ngay sau khi ta chết. Để hỗ trợ nguyện ước này, ta quán tưởng Đức A Di Đà có một hình tướng chói ngời, an vị trên đầu ta hay trong không gian trước mặt ta. Ta hình dung rằng ngài không hề ly cách với Đạo sư gốc của ta, đấng đã cho ta thành tựu toàn bộ cuộc đời và với ngài ta đã phát triển một nối kết mạnh mẽ. Chúng ta đã hướng về ngài trong nhiều hoàn cảnh gian khó, và giờ đây ta có thể nối kết với sự rộng mở, niềm tin và lòng sùng mộ đã ló dạng trong ta theo cách này. Ta quán tưởng thật rõ ràng Đạo sư của ta là Đức Phật A Di Đà và phát triển lòng tin cậy trước sự hiện diện của ngài, cho tới khi với sự xác quyết, ta cảm thấy ngài thực sự ở đó.

Tràn ngập lòng sùng mộ và hỉ lạc, trong tâm ta, ta dâng cúng ngài mọi sự mà ta coi là thuộc về ta trong cuộc đời này: của cải, nhà cửa, những thành viên khác nhau của gia đình ta, bằng hữu ta, đất nước ta – tóm lại, mọi sự mà có lẽ ta vẫn còn vướng mắc, kể cả thân thể ta. Tất cả những điều này ta đã phó thác cho Đức Phật A Di Đà; chúng không còn thuộc về ta nữa. Ta cúng dường nó mà không có bất kỳ dự liệu hay tính toán nào, không hy vọng điều gì đáp trả. Ta cúng dường mọi sự mà dù thế nào chăng nữa ta cũng phải bỏ lại sau lưng. Theo cách này, ta giải thoát chính mình khỏi những trói buộc đích thực cuối cùng vẫn còn trói buộc ta với thế giới này.

Mọi tham muốn còn sót lại đối với cuộc đời
đang chấm dứt này, sẽ là một chướng ngại cho dù rất nhỏ bé,
cho sự giải thoát của ta vào lúc chết.

Những thái độ thờ ơ của ta và nhiều cảm xúc xuất phát từ chúng là những chướng ngại lớn lao cho việc tái sinh của ta trong cõi Dewachen. Vì lý do này, giờ đây, ta nên từ bỏ mọi sự ở bên trong và dâng cúng nó cho Đạo sư A Di Đà và cho sự lợi lạc của tất cả chúng sinh. Khi làm điều này, ta phát triển một năng lực tích cực mạnh mẽ sẽ trợ giúp ta trên con đường. Thoát khỏi mọi âu lo và vướng mắc, khi đó ta có thể hoàn toàn hướng về chư Phật A Di Đà và Quán Thế Âm. Trong sự buông bỏ sâu xa này, tâm ta mở trống và bắt đầu thấm đẫm đại lạc của cõi Dewachen.

Sau đó, khi tâm ta rời bỏ xác thân, sự chuyển di xảy ra trong một chốc lát duy nhất và theo một cách thức hoàn toàn tự nhiên. Ta bỏ lại sau lưng hành tinh quen thuộc của sự hiện hữu của ta và đảm đương một sự tái sinh tinh thần trong Cõi Cực Lạc Thuần tịnh. Trái lại, nếu ta tiếp tục bám chặt vào của cải của ta và lạc thú của cuộc đời, thì trước và sau khi chết, ta sẽ gặp nhiều trở ngại, như ta sẽ bị đau khổ bởi nỗi sợ mất các đối tượng của sự tham luyến của ta. Và đó là một suối nguồn của nỗi khổ đau ghê gớm.

Sau khi chết, trong một khoảng thời gian, ta vẫn nhận thức thân thể của ta và môi trường xung quanh trước đây. Điều đó có thể làm phiền ta rất nhiều khi phải chứng kiến sự thật là các vật ta từng bám luyến nay đã thuộc về người khác, thậm chí họ có thể là những người làm hại ta nhiều nhất hay những người mà ta ghét nhất. Có thể ta phải chứng kiến những thân quyến của ta vồ lấy của cải của ta một cách thèm khát và cãi nhau về chúng ra sao. Việc nhìn thấy điều đó có thể gây ra cho ta sự thất vọng và sân hận lớn lao, là điều đến lượt chúng sẽ trực tiếp bắn thẳng ta vào cõi hiện hữu có đặc điểm là đau khổ ghê gớm. Do bởi điều này, điều tối quan trọng là trước khi chết, ta phải tự gỡ bỏ mình khỏi mọi thân quyến, bạn hữu, của cải và cũng dâng hiến thân ta cho Đức Phật, khiến tâm ta không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ điều gì xảy ra với tử thi và những gì liên quan tới nó sau khi ta chết.

Một khi ta hoàn toàn buông bỏ cuộc đời và thế giới này, ta tập trung vào Đức A Di Đà và vào ước nguyện tái sinh trong cõi thuần tịnh của ngài, và ta duy trì trạng thái tâm thức này cho tới hơi thở cuối cùng. Nếu ta hoàn toàn tập trung vào mục tiêu này, thì một cách tự nhiên khi ta chết, tâm thức ta sẽ đi tới Đức Phật A Di Đà ở cõi Deawachen. Để điều này xảy ra, thậm chí ta không cần biết thực hànhphowa, một phương pháp thiền định dành cho sự chuyển di trực tiếp tâm thức của ta tới các cõi khác. Một niềm tin sâu xa vào năng lực của những nguyện ước của ta tới Đức Phật A Di Đà và tâm khát khao hoàn toàn tập trung của ta đã là đủ.

Với niềm tin và năng lực như thế của sự định hướng bên trong, tâm thức ta sẽ rời bỏ thân xác một cách tự nhiên qua đỉnh đầu và ta sẽ lập tức tái sinh trong một hoa sen trong Cõi Cực Lạc Thuần tịnh. Nếu ta đã phát triển một niềm tin sâu xa chân thực, hoa sen sẽ nở ra tức thì và ta sẽ có thể đi vào cõi thuần tịnh này của sự tỉnh thức giác ngộ.

Hoa sen mà chúng ta sinh ra trong đó biểu thị một tâm thức tràn đầy niềm tin. Nếu ta có niềm tin to lớn, hoa sen sẽ mở rộng. Nếu ta thiếu lòng sùng mộ và niềm tin của ta không kiên định, những cánh hoa quanh ta vẫn khép lại, ít nhất là trong lúc này. Điều này tất nhiên là không vui, bởi ta cần có mọi thứ. Ta có cơ hội nghe mọi giáo lý của Đức Phật A Di Đà nhưng ta không thể nhìn thấy ngài mà cũng không thấy môi trường quanh ta trong cõi Dewachen. Chỉ khi niềm tin tràn đầy xuất hiện trong ta thì hoa sen mới nở.

Sự mô tả Cõi Cực Lạc Thuần tịnh và những phẩm tính của nó đến từ chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Khi chúng ta sống trong cõi này, ta không sở hữu một thân thể gồm thịt và máu. Đúng hơn, ta có một thân tinh thần chói ngời là một biểu lộ của Phật tánh của ta. Ta không trải qua những cấp độ của sự phát triển từ thời thơ ấu tới lúc trưởng thành – thân thể chói ngời của ta lập tức toàn thiện như sự toàn thiện của một vị Phật. Không có sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà – sự khác biệt về giới tính được giải tan. Bởi không có sự sinh ra theo ý nghĩa thông thường, chúng ta cũng không là đối tượng của quá trình lão, bệnh và tử.

Chúng ta sống trong xứ sở tuyệt đẹp này, cùng với Đức Phật A Di Đà và nhiều Bồ Tát. Ta không có những lo lắng và không cần làm việc – mọi ước muốn của ta được đáp ứng một cách tự nhiên, và ta không thiếu thốn gì cả. Mọi sự có bản chất của ánh sáng, kể cả các cây cối. Thực phẩm của ta – cho là ta muốn tiêu thụ bất kỳ thứ gì – là cam lồ trí tuệ thuần tịnh. Ta không cần những che chở khỏi sự nguy hiểm hay thời tiết, vì thế nhà cửa thì không cần thiết. Ta không có trú xứ cố định, có thể ở bất kỳ nơi đâu và thoát khỏi sự trói buộc vào vật chất hữu hình. Đó là một nơi vô cùng an bình và hạnh phúc.

Trong cõi thuần tịnh này, mọi sự là biểu lộ hoạt động của Đức Phật A Di Đà. Không hề ngơi nghỉ, vô số hiện thân liên tục của Đức A Di Đà thực hiện một cách tự nhiên hạnh phúc của tất cả chúng sinh. Các ngài hiển lộ trong thân tướng của Guru Rinpoche (Liên Hoa Sanh), Đức Quán Thế Âm, Tara và vô số những vị phụ tá khác trùm khắp mọi thế giới. Trong trái tim của Đức A Di Đà, Guru Rinpoche an trụ trong một thiên thể chói ngời từ đó vô số hiện thân của ngài tuôn chảy vào mọi thế giới và các cõi hiện hữu.

Từ một thiên thể chói lọi trong bàn tay phải của Đức A Di Đà, một dòng hiện thân liên tục của Đức Quán Thế Âm xuất hiện, là những vị che chở và dẫn dắt mọi chúng sinh với lòng bi mẫn giác ngộ. Từ một thiên thể chói lọi trong bàn tay trái của Đức A Di Đà, vô số thân tướng của Đức Phật nữ Tara Xanh hóa hiện những vị che chở tất cả chúng sinh khỏi sự sợ hãi và những hiểm nguy và giải thoát họ khỏi mọi đau khổ. Theo cách này, Đức A Di Đà và các hiện thân của ngài không ngừng làm việc cho sự lợi lạc và giác ngộ của tất cả chúng sinh.

Trong cõi Dewachen, đối với mọi người, điều hiển nhiên là những gì tạo nên hoạt động giác ngộ. Giáo pháp có mặt ở khắp nơi. Bất kỳ khi nào ta ước muốn lắng nghe giáo lý của Đức A Di Đà, các giáo huấn của ngài lọt vào tai ta hoàn toàn tự nhiên. Ta hiểu mọi điều ngài giảng và sau này có thể nhớ lại toàn bộ những lời dạy đó. Theo cách này, ta nhanh chóng phát triển thành các Bồ Tát và cuối cùng thành các vị Phật, không phải theo đuổi một con đường dài ngập đầy chướng ngại, và không có khổ đau nào làm ta sao lãng và tâm ta đi vào thiền định sâu xa một cách dễ dàng. Chúng ta có thể thực hiện bất kỳ thiền định nào ta mong muốn và đạt được sự chứng ngộ trọn vẹn.

Khi ta gia nhập vào chúng sinh đang sống ở Dewachen, ta không còn tái sinh trong hiện hữu luân hồi do nghiệp của ta nữa.[1] Bản thân ta không còn kinh nghiệm bất kỳ đau khổ nào, nhưng ta nhận thức nỗi khổ của chúng sinh trong những cõi hiện hữu khác và có thể gởi các hiện thân đến giúp họ. Chẳng hạn như ta tỉnh giác về trạng thái hoang mang, sợ hãi của chúng sinh đang lang thang trong trạng thái sau-cái chết và ta có thể dẫn dắt họ một cách an toàn tới cõi thuần tịnh.

Trên hành tinh của tâm thức mà đặc biệt là cuộc đời ở cõi Dewachen, ta di chuyển bằng phương tiện của tâm thức ta. Bằng một tư tưởng duy nhất, ta lập tức di chuyển tới nơi ta muốn tới. Bằng thân tinh thần, ta có thể viếng thăm vô số cõi Phật khác trong đó ta có thể thọ nhận giáo huấn từ các vị Phật. Các điều kiện cho sự phát triển nội tại là lý tưởng ở cõi Dewachen, và vì thế ta nên nuôi dưỡng một mong muốn mãnh liệt đi tới cõi Dewachen khi chấm dứt cuộc đời này.

Những giáo huấn này mở toang cho ta cánh cửa đi tới cõi Dewachen – giờ đây ta có nhiệm vụ phải thực hành chúng. Nhưng ta không nên cho rằng ta sẽ tái sinh ở đó chỉ bằng cách suy nghĩ: “Có lẽ ta nên tiến hành kiểm tra cõi Dewachen; sự mô tả này có vẻ không quá tệ.” Một tái sinh trong cõi Dewachen là kết quả của một cuộc đời hoàn toàn hướng về mục đích này với thực hành Quán Thế Âm đều đặn và việc trì tụng vô số lời nguyện ước. Chỉ khi đó sẽ là một sự tích lũy đầy đủ niềm tin nơi Đức Phật A Di Đà, Đức Quán Thế Âm và cõi Dewachen, khiến cho sự tái sinh này có thể xảy ra một cách tự nhiên và không bị chướng ngại.

Khi ta học gặp gỡ mọi hoàn cảnh một cách rộng mở và sử dụng nó cho con đường, khi đó những phẩm tính của Pháp sẽ tự hiển lộ với ta một cách nhanh chóng. Ta sẽ học cách có thể giải thoát bản thân khỏi đau khổ và chuyển hóa nó thành hạnh phúc. Đặc biệt là sự thiền định về Đức Quán Thế Âm, Bồ Tát của lòng Đại Bi, và việc trì tụng thần chú OM MANI PADME HUNG của ngài, sẽ giúp ích cho ta cũng như cho tất cả chúng sinh.

Quán Thế Âm là hiển lộ của một lòng bi mẫn giác ngộ ghì chặt tất cả chúng sinh một cách bình đẳng. Lòng bi mẫn giác ngộ không thể phân ly với trí tuệ, sự tỉnh giác về tánh Không. Quán Thế Âm giác tánh giác ngộ an trụ trong mọi chúng sinh, bản chất của họ là sự hợp nhất của lòng bi mẫn và tánh Không. Ngài không là một vị trời mà là một tấm gương của sự sống chân thật của riêng ta, và hiểu theo cách thông thường thì ngài không xa lìa chúng ta.

Khi ta trì tụng thần chú của ngài, lòng từ và bi sẽ phát triển trong ta một cách tự nhiên, và kinh nghiệm về tánh Không sẽ dần dần xuất hiện trong ta. Lòng từ và bi dẫn ta tới sự chứng ngộ thân chân thực, tính chất trống không của tâm và của mọi sự xuất hiện. Vì thế, thật vô cùng ích lợi cho ta khi làm thực hành này một cách đều đặn và thực hiện nó với sự tin tưởng và hỉ lạc. Ta luôn luôn kết thúc thực hành Quán Thế Âm với những nguyện ước tái sinh trong cõi Dewachen. Sự thực hành kiên định pháp này sẽ làm an dịu cái chết của ta rất nhiều.

Cho dù ta chẳng chứng ngộ điều gì và mọi khái niệm của ta sụp đổ khi đối mặt với cái chết, ta sẽ bị bỏ lại với mối nối kết với Đức Quán Thế Âm. Khi ấy, niềm tin của ta nơi ngài và năng lực của tất cả các thần chú của lòng bi mẫn giác ngộ mà ta đã trì tụng sẽ trợ giúp ta. Vào những giây phút cuối cùng trước khi ta chết, chúng ta bị tóm bắt bởi sự sợ hãi, ta sẽ tự động hướng về Đức Quán Thế Âm, kêu cầu ngài cứu giúp và được nương tựa nơi ngài. Đối với ta, việc kêu cầu lòng bi mẫn và các gia hộ của tất cả chư Phật là điều hoàn toàn tự nhiên, bởi ta đã vun trồng một cách kiên định niềm tin này trong thực hành của ta.

Việc ta kêu cầu Đức Quán Thế Âm sẽ không đến từ trí năng của ta mà từ tận cùng trái tim ta. Ta sẽ cảm nhận sự hiện diện của ngài, lòng bi mẫn của ngài sẽ tràn ngập chúng ta, tâm ta sẽ mở rộng, và ta sẽ cảm thấy tâm ta không còn phân cách với tâm Đức Quán Thế Âm. Bởi ta đang tụng thần chú của ngài, ngữ của ta sẽ trở thành ngữ của ngài, và thân ta sẽ trở nên không ly cách với thân ngài. Ta sẽ kinh nghiệm rằng thân, ngữ và tâm ta đồng nhất với thân, ngữ và tâm của Đức Quán Thế Âm.

Khi ấy ta có thể thở hơi cuối cùng mà không sợ hãi, tràn đầy sự quả quyết và  tin cậy. Nhưng trước khi điều này xảy ra, ta phải thực hành rất nhiều. Khi giờ đây ta hoàn toàn quen thuộc với thực hành Quán Thế Âm và thực hành việc để tâm ngơi nghỉ trong trạng thái nguyên sơ và lòng bi mẫn, điều này sẽ trở thành một tập quán giúp ích cho ta rất nhiều vào lúc chết.

Khi cái chết của ta đến gần, ta nên giải thoát chính mình khỏi mọi sợ hãi và không định liệu một kinh nghiệm về sự đau khổ. Với một tâm thức hoan hỉ, ta nên hồi hướng mọi hành vi tốt lành và công đức tâm linh của ta cho sự lợi lạc của mọi chúng sinh và hình dung rằng họ đạt được hạnh phúc của sự tỉnh giác. Nhờ làm điều này, tâm ta trở nên đầy ắp tình thương và sự hoan hỉ. Nếu chúng ta đã nắm vững thực hành hoán đổi ta và người (tonglen) và thường thực hành nó, thì giờ đây, ta cũng có thể tiến hành nó, và thực hành pháp này thêm nữa bằng cách trì tụng thần chú của Đức Quán Thế Âm và tưởng tượng rằng ta trở thành ngài.

Cuối cùng, ta an trụ một lát trong trạng thái hoàn toàn tự nhiên, siêu vượt mọi ý niệm về “ta” và người. Ta kết thúc hành động tốt lành này với ước muốn rằng sau khi ta chết, thân, ngữ và tâm ta có thể trở thành cội nguồn của mọi sự lợi lạc và hữu ích cho toàn thể chúng sinh:

Dù chúng sinh trong mọi cõi hiệu hữu,
đang cố gắng hay cần có gì,
cầu mong con đảm đương một cách tự nhiên mọi hình tướng
đáp ứng một nhu cầu như thế.

Cầu mong mọi chúng sinh cùng chia sẻ điều này với lạc thú,
với sự tự do hoàn hảo,
không có bất kỳ hạn chế hay nguy hiểm nào,
và cầu mong mọi ước muốn của họ được đáp ứng.

Cầu mong con luôn luôn có thể thực hiện
lợi lạc của tất cả chúng sinh.

Khi khả năng hoàn toàn hiến mình cho hạnh phúc của toàn thể chúng sinh của ta vẫn còn bị giới hạn, ta có thể lập những nguyện ước khẩn cầu rằng thái độ và hoạt động tinh thần này có thể phát triển hơn nữa, khiến ta sẽ hữu ích hơn trong tương lai và cuối cùng có thể dẫn dắt chúng sinh tới sự giải thoát. Khi thực hành theo cách này, ta sẽ cảm thấy vô cùng hoan hỉ vào lúc chết.

Chết với một ước muốn như thế trong tâm sẽ dẫn ta tới một tái sinh rất lợi lạc cho con đường dẫn tới giác ngộ của ta. Bởi khuynh hướng tự phát của ta về lòng từ và bi đối với tất cả chúng sinh, trong đời sau ta sẽ tìm thấy các điều kiện dẫn tới sự thành tựu Phật quả một cách hoàn toàn tự nhiên. Ta sẽ được phú bẩm nhiều phẩm tính và năng lực cần thiết để giúp đỡ chúng sinh. Năng lực của việc lập các lời nguyện ước vào lúc chết thì thực sự kỳ diệu.

Trạng thái tinh thần của ta vào lúc chết thì khẩn thiết như thế bởi những thôi thúc tinh thần cuối cùng của ta trong cuộc đời này lập tức dẫn tới kinh nghiệm về một thế giới tinh thần, là một hình ảnh trung thực của những thôi thúc đó. Vào lúc tâm thức ta rời khỏi thân xác, nó vô cùng dao động và dễ bị tác động. Khi những giây phút cuối cùng của đời ta được đánh dấu bởi sự sân hận hay sợ hãi, khi ấy những cảm xúc này thấm đẫm tâm thức ta với những năng lực tương ứng và ta có nguy cơ bị tái sinh trong những cõi thấp.

Trái lại, nếu tâm ta an bình, tràn đầy niềm tin và thoát khỏi sự tham luyến cuộc đời này, ta có thể hướng nó về sự tái sinh vào cõi Dewachen và hướng tới giải thoát. Ít nhất, rất có khả năng là ta sẽ được tái sinh trong một cõi hiện hữu cao hơn.

Bởi điều này, bầu không khí bao quanh người hấp hối cũng nên được đặc biệt quan tâm, dù người đó là ta hay người nào khác. Họ nên được cung cấp càng nhiều sự yên bình bên ngoài và an ninh thì càng tốt. Nhưng thậm chí còn quan trọng hơn sự yên bình bên ngoài là sự phát triển một động lực thanh tịnh, vị tha nơi những người chăm sóc cũng như nơi người đang hấp hối.

Đi kèm theo sự hấp hối thường là nỗi khổ, sợ hãi và ngay cả sự hoảng loạn. Nhiều người kinh nghiệm sự lầm lạc, các tư tưởng dằn vặt và những cảm xúc mạnh mẽ chẳng hạn như sự giận dữ, thất vọng và căm hờn khi họ chết. Thật sớm sủa, ta phải học cách làm thế nào xử sự với những trạng thái này của tâm khiến chúng không quét sạch ta trong cái chết của ta, bởi chết trong một trạng thái tâm không tốt có một ảnh hưởng tiêu cực mạnh mẽ lên đời sau của ta. Khi đó, ta thường bị tái sinh trong những hoàn cảnh bất lợi, chẳng hạn như trong một thân thể không phù hợp với việc thực hành Pháp, một điều kiện sẽ ảnh hưởng một cách tiêu cực đến tâm ta và mọi hoạt động của ta. Khuynh hướng thực hiện những hành vi có hại của ta sẽ mạnh mẽ hơn lên và gánh nặng nghiệp của ta sẽ tăng trưởng.

Để tránh điều này, ngay bây giờ, điều quan trọng là ta bắt đầu học cách làm chủ các cảm xúc của mình, khiến ta có thể thư thản vào lúc chết. Nếu không, ta sẽ chết như những con vật là những kẻ hấp tấp đi theo bản năng và cảm xúc của chúng mà không hiểu rõ những gì đang xảy ra. Là con người, ta có cơ hội để chết với sự hoàn toàn tỉnh giác về những gì đang xảy ra cho ta và với sự hiểu biết về những gì ta có thể làm để sử dụng hoàn cảnh cho mục đích giác ngộ của riêng ta.

Vào lúc chết, điều tối quan trọng đối với tất cả những người có liên quan là phải an định, quân bình và thoát khỏi những tham luyến. Trên tất cả, điều này là đúng đắn đối với người hấp hối, nhưng nó cũng có ý nghĩa đối với những người giúp đỡ cho người chết. Với sự nhạy cảm và trí tuệ, ta nên tùy ý sử dụng mọi phương tiện để người đang hấp hối lìa bỏ thế giới này trong một môi trường an bình và với tâm thức định tĩnh. Ta nên cố gắng hỗ trợ họ trong việc phát triển một thái độ tinh thần lành mạnh, ngay cả khi họ không quen thuộc với giáo lý đạo Phật và không trì tụng các bài nguyện tương tự. Điều tối quan trọng trong khi hấp hối là giữ thái độ tinh thần đúng đắn.

Người đang hấp hối kinh nghiệm những cảm xúc mãnh liệt. Họ đang đau đớn, lo sợ và yếu đuối – những gì đang xảy ra cho họ khiến họ bất an ghê gớm. Để không khích động họ thêm nữa, ta nên dịu dàng và cẩn trọng trong những giây phút và ngôn từ của ta và hỗ trợ họ mọi cách ta có thể. Ta nên tránh nói hay làm bất kỳ điều gì có thể khiến họ tràn ngập hối tiếc hay khiến họ giận dữ, kiêu ngạo, tham muốn hay ganh tị – bất kỳ cảm xúc nào có thể dẫn tới một cái chết khó khăn và một tái sinh tràn đầy đau khổ.

Việc gây ra những cảm xúc như thế nơi một người đang hấp hối – dù chỉ bởi sự vô minh hay vụng về – không chỉ gây nên những hậu quả trầm trọng cho họ mà còn để lại những dấu vết nghiệp tiêu cực trong chúng ta. Vì thế ta không nên sống hay nói năng một cách khinh xuất nhưng vô cùng cẩn trọng, và hành động trong một cách thế hòa hợp và đồng cảm. Khi ta học qua việc thực hành đều đặn để tâm ta thư thản trong mọi tình huống và không để bản thân ta đi theo những cảm xúc, điều này cũng rất ích lợi trong việc giúp đỡ người đang hấp hối.

Sau khi họ mất, ta có thể làm cho hành trình của người đã mất dễ dàng hơn nếu ta không bám dính vào họ mà phát triển lòng bi mẫn và tiến hành nhiều hành vi tốt lành về thân, ngữ và tâm mà ta hồi hướng cho sự giác ngộ của họ. Đặc biệt hữu ích cho họ và cho thân quyến của họ và cho chúng ta nếu tiến hành tu tập Quán Thế Âm, nếu có thể với các hành giả khác, trong đó ta có thể cúng dường đèn, hoa và v.v.. nhân danh người đã mất. Dù người mất có một mối liên hệ mật thiết với Pháp hay không thì không quan trọng gì – thực hành Quán Thế Âm thì phổ quát và đến với tất cả chúng sinh một cách bình đẳng.

Nếu ta ước muốn tìm được sự tự do nội tại, điều cần thiết đối với ta là không tự động phản ứng lại mọi kinh nghiệm với sự tham luyến hay ganh ghét. Nếu không trau dồi sự chánh niệm và lòng từ ái, ta sẽ không thành công trong việc thoát khỏi những khuôn mẫu phản ứng tự động này. Chỉ khi tỉnh giác về những gì đang xảy ra trong tâm ta, việc ta có thể dùng thời gian để khám phá ra câu trả lời cho mọi hoàn cảnh là điều hợp lý nhất.

Không có chánh niệm, ta sẽ bị bỏ xa vì bị sự quy-ngã của ta thôi thúc và chắc chắn là nghiệp tiêu cực sẽ được tăng trưởng. Giải pháp duy nhất có giá trị cho ta để rút ra khỏi vòng quay xấu xa này và tránh những tái sinh đau khổ là phải phát triển một nguyện ước thanh tịnh, vị tha và một sự tỉnh giác chuyên chú trong từng giây phút. Đó là sự chuẩn bị tốt nhất cho cái chết của ta.

Khi bản thân ta đã thực hành một cách đúng đắn,
ta không có gì để sợ hãi vào lúc chết.

Nếu ta đã phát triển niềm tin nơi Tam Bảo và những phẩm tính của sự giác ngộ và đã tịnh hóa những khuynh hướng không tốt của ta ở một mức độ nào đó, ta sẽ không coi cái chết của ta là lúc kết thúc tồi tệ của một cuộc đời tràn đầy niềm vui mà như một cơ hội để tích tập thêm nhiều kinh nghiệm mang ta đến gần sự giải thoát hơn và cũng giúp ta giải thoát chúng sinh. Vì thế chết không còn là một nguyên nhân cho sự hoảng loạn mà là một cơ hội cho niềm hỉ lạc thực sự.

Việc ta kinh nghiệm cái chết là khủng khiếp hay là giải thoát thì tùy ở ta, tùy ở các hành động và công việc nội tại của ta. Khi ta không làm việc một cách có ý thức nơi chính mình, ta sẽ như một con cá bị ném trên bãi biển và quậy đen đét trong sự giãy chết. Tất cả những gì dập khuôn tâm thức ta suốt một thời gian dài sẽ là những gì còn lại trong cái chết của ta. Sẽ không khó để chết với phẩm giá khi ta được chuẩn bị tốt đẹp cho điều đó trong suốt một đời người thực hành, tu tập.

Một bài ca nhỏ về tính chất thuần tịnh toàn hảo,
trôi tuột khỏi miệng tôi

Kiến (cái thấy) vương giả là bỏ lại phía sau
mọi ý niệm về chủ thể và khách thể.
Thiền vương giả là không làm bất kỳ điều gì,
không thiền thịnh và không bị sao lãng.
Hành vương giả là thoát khỏi nỗ lực,
chấp nhận và từ bỏ.[2]

Khi buông bỏ hy vọng và sợ hãi,
trái quả được khám phá.
Siêu vượt mọi điểm quy chiếu
nơi không có tâm,
bản chất của tâm soi sáng.

Không tiến bộ qua những giai đoạn và con đường,
đoạn cuối con đường của tất cả chư Phật được đạt tới.
Không thiền định về những đối tượng của sự thiền định,
Phật quả vô song được thành tựu.

Gendun Rinpoche

 

Trích dịch từ chương “Preparing for Death” trong “Heart Advice from a Mahamudra Master” của Gendun Rinpoche

Thanh Liên dịch sang Việt ngữ


[1] Nghiệp còn sót lại của ta hiển lộ trong hình thức những ấn tượng và tư tưởng xuất hiện trong tâm ta trong khi ta ở cõi Dewachen, và ta tịnh hóa nó bằng cách lập tức áp dụng sự hiểu biết sâu xa của ta về Pháp.

[2] “Chấp nhận và từ bỏ” ở đây ám chỉ thái độ của ta đối với những hành động tốt và xấu. Trong trạng thái Đại Ấn, là không cần thiết khi chấp nhận một cách cẩn trọng những thái độ tốt lành và từ bỏ một cách ý thức những thái độ có hại, bởi tâm hoàn toàn rộng mở không tập trung vào bản ngã một cách tự nhiên và tự nhiên hành động vì sự lợi lạc của chúng sinh.

GỬI Ý KIẾN CỦA BẠN

TẮT
TELEX
VNI

Tên của bạn
Email của bạn

Tạo bài viết

12/05/2015(Xem: 794)

21/03/2015(Xem: 2439)

Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

Thông điệp Đại lễ Vesak LHQ 2014 của Đức Dalai Lama

Thông điệp Đại lễ Vesak LHQ 2014 của Đức Dalai Lama
Minh Nguyên chuyển ngữ
đăng ngày 01/05/2014
Tôi xin gửi lời chào trân trọng nhất đến quý vị đại biểu tham dự lễ kỷ niệm và Hội nghị Phật giáo quốc tế lần thứ 11 trong ngày Đại lễ Vesak LHQ năm 2014, do Giáo hội Phật giáo Việt Nam đăng cai tổ chức.
image

Đối với người con Phật trên toàn thế giới thì Đại lễ Vesak không chỉ là dịp để chúng ta kỷ niệm ngày Đản sinh, Thành đạo và Nhập diệt của Đức Phật mà còn nhắc nhở bản thân chúng ta về tầm quan trọng của việc vận dụng những lời dạy cao quý của Ngài vào trong cuộc sống.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã chứng ngộ đạo quả Vô thượng Bồ-đề và đã truyền bá Chánh pháp tại Ấn Độ cách đây hơn hai ngàn năm, nhưng những lời dạy của Ngài vẫn còn tươi mới và rất thiết thực đối với xã hội hiện tại, chẳng hạn như việc mọi người ngày càng ý thức về tầm quan trọng của sự bất bạo động. Tính khả dụng của giáo lý bất bạo động không chỉ giới hạn trong mối quan hệ giữa người với người mà còn có thể vận dụng vào trong việc bảo vệ sinh thái, bảo vệ môi trường và cả trong mối quan hệ giữa con người với những loài sinh vật khác đang sống chung trên hành tinh này. Vì thế, bất bạo động có thể được vận dụng hàng ngày trong cuộc sống của chúng ta, bất kể chúng ta thuộc địa vị hay hoàn cảnh nào.

Mục đích của cuộc sống là để có được hạnh phúc. Với tư cách là một người đệ tử Phật, tôi nhận thấy rằng thái độ của chúng ta chính là yếu tố có sức ảnh hưởng mạnh nhất trong việc hướng tới mục đích đó. Để thay đổi những điều kiện bên ngoài, dù cho những điều kiện ấy liên quan đến môi trường hay các mối quan hệ với người khác, thì chúng ta phải thay đổi từ bên trong bản thân mình. Sự bình an nội tâm chính là mấu chốt của vấn đề. Với sự bình an nội tâm, bạn có thể đối mặt với những khó khăn bằng sự bình tĩnh và có lý trí, trong khi đó bạn vẫn giữ được niềm hạnh phúc nội tại. Những lời dạy về tâm từ bi, về sự tử tế, lòng khoan dung, về bất bạo động, về giáo lý duyên sinh, và cả những phương pháp giúp tịnh hóa tâm thức chính là nguồn cội của sự bình an nội tâm.

Tôi nghĩ rằng Phật giáo có vai trò quan trọng trong thế giới hiện đại của chúng ta; giáo lý duyên khởi trong Phật giáo có sự tương thích mật thiết với những khái niệm cơ bản của khoa học hiện đại. Chúng ta có thể nghĩ về Phật giáo trong mối quan hệ của ba phạm trù chính, đó là triết học, khoa học và tôn giáo. Phần tôn giáo là những giới luật và những pháp môn tu mà chỉ có người đệ tử Phật quan tâm đến, còn triết lý về duyên khởi trong Phật giáo và khoa học Phật giáo về tâm thức và những cảm xúc của con người thì có lợi ích rất lớn đối với tất cả mọi người.

Như chúng ta biết, khoa học hiện đại đã phát triển một sự hiểu biết rất tinh vi về thế giới vật chất, bao gồm cả những hoạt động tinh tế của cơ thể và não bộ. Còn khoa học Phật giáo thì tập trung vào việc phát triển sự hiểu biết cặn kẽ và thiết yếu về nhiều khía cạnh của tâm thức và cảm xúc của con người, đây là những lĩnh vực  còn khá mới mẻ đối với khoa học hiện đại. Do đó, bản thân khoa học và Phật giáo đều có những kho kiến thức rất quan trọng và có thể bổ sung cho nhau. Tôi tin rằng, sự kết hợp của hai phương pháp tiếp cận này sẽ tạo tiềm lực lớn cho những khám phá làm phong phú hơn về vật chất, về đời sống tình cảm và sự thanh bình của xã hội chúng ta.

Trong hơn 50 năm qua, cộng đồng đa dạng của Phật giáo trên thế giới chỉ có một ý niệm mơ hồ về sự tồn tại của nhau và không mấy quan tâm đến những điểm tương đồng với nhau. Bởi vì những lời dạy của Đức Phật đã được bắt rễ tại những vùng đất khác nhau và đã có những biến đổi nhất định về phong cách mà ở đó lời Phật dạy đã được thực hành và gìn giữ một cách tự nhiên.

Tuy nhiên, tôi tin rằng đã đến lúc chúng ta có thể giao tiếp cởi mở với nhau; suy cho cùng thì những truyền thống Phật giáo khác nhau của chúng ta đều là những chi nhánh được mọc ra từ một gốc, một thân cây. Vì thế, tôi hy vọng là trong lần quy tụ này, chư vị tôn túc của Phật giáo, quý vị đại biểu hãy nắm lấy cơ hội này để phát huy và mở rộng sự giao tiếp trong chính chúng ta để cho cộng đồng Phật giáo của chúng ta có thể được hợp nhất, từ đó chúng ta sẽ đóng góp hiệu quả hơn cho hạnh phúc của nhân loại và sự bình an của tâm hồn trên toàn thế giới.

(đã ấn ký)
(Minh Nguyên chuyển ngữ)

Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

ĐỨC PHẬT ĐỐI VỚI CHÚNG-SANH

ĐỨC PHẬT ĐỐI VỚI CHÚNG-SANH

Inbox
x

Vu Nguyen

Feb 14 (1 day ago)

to bcc: me

Kính thưa quý đạo hữu, quý đồng đạo;

 

Em cháu xin gởi quý vị bài: “ĐỨC PHẬT ĐỐI VỚI CHÚNG-SANH để tiện việc tham khảo, tìm hiểu về những điều mà Tổ Thầy giáo hóa về:

 

ĐỨC PHẬT ĐỐI VỚI CHÚNG-SANH

 

–       Đức Phật đối với chúng-sanh và môn-đồ như người cha đối với các hạng con. 

–       Phật yêu hết chúng sanh, dầu duyên-nghiệpchẳng đồng nhautu cao thấp khác nhau, nhưng mỗi chúng-sanh đều có Phật tánh.

–       Lòng từ-bi của Phật, thương xótdạy-dỗchúng-sanh, nhưng mà sự gần gũi và ban phước-huệ vẫn có khác, vì phải tùy theo mỗi kẻ tín-đồ:

o  Người tín-đồ vâng lời, lo học hỏikiếm đạo mầuquí trọng chuyện lànhquí trọng kinh luậtgiữ theo giới-luậtcẩn thận từ lời nói việc làm thì Phật thường gần-gũi hơn và thường ban thưởng

o  Những tín-đồ dối tuchẳng vâng lời dạychẳng giữ giới-luật thì trên là Đức Phật và dưới là ông Thầy của kẻ ấy chỉ lấy lòng từ-bi mà nhận sự trách-cứ, chớ không thế nào mà gần-gũi và ban phước-huệ cho kẻ chẳng thành-tín kia đặng.

 

****************

 

ĐỨC PHẬT ĐỐI VỚI CHÚNG-SANH

 

Một ông cha ở trong gia-đình vẫn có lòng thương xót hết các con, dù lớn nhỏ, khôn dại gì cũng vậy.  Tại sao?  Vì xét ra lớn nhỏ là tại đứa sanh ra trước, đứa sanh sau; khôn dại là tại đứa chăm học cùng biếng trễ, chớ cũng đồng là conđều do huyết nhục sanh ra. Vậy bổn-phận ông cha thì hết lòng lo dạy-dỗ các con,lo-lắng cho có gia-cư, nghiệp-nghệ, tài-sản để cho con, ruộng đất cho con.  Vậy thì tình thương vẫn đồng, mà cái chỗâu-yếm ban thưởng nhiều khi có khác, ấy là phải tùy theo mỗi đứa. 

 

Tại sao vậy?  Vì đứa nào hiếu thuận từ-hòa, dễ dạy, dễ hiểu, thì ông cha âu yếm hơn đứa ngỗ-nghịch, bạo tàn.  Với đứa khó dạy thì ông chỉ biết than-thởmà thôi, chớ không thể âu-yếm đặng. Còn đứa nào cần-kiệm, lo giữ-gìn gia-sản của cha nó, chẳng cho hư-hoại, cẩn thận từ ly, dầu lời nói hay việc làm để bảo tồn danh-giá của cha nó, thì cha nó hằng ngày ban thưởng cho nó luôn, chớ không thể ban thưởng cho những đứa hoang chơi, tàn phá sự-nghiệp, làm những điều điếm-nhục gia môn!  Những đứa ấy, ông cho có thể nén lòng mà rước lấy sự chế-nhạo, trách-cứ là nhiều lắm rồi, chớ làm sao mà ban thưởng đặng.

 

Cũng mường tượng như trên, hỡi các người!  Đức Phật đối với chúng-sanhvà môn-đồ như người cha đối với các hạng con trên đây vậy.  Phật cũng yêu hết chúng sanh, dầu kẻ ngu người trí, yêu tất cả môn-đồ (dầu kẻ biếng-nhác với kẻ siêng-năng).  Bởi tại duyên-nghiệpmỗi chúng-sanh chẳng đồng nhau, tucao thấp khác nhau, nhưng mỗi chúng-sanh đều có Phật tánh.  Vậy lòng từ-bi của Phật là vì thương xót chúng-sanh, lo dạy-dỗ chúng-sanh, nhưng mà sự gần gũi và ban phước-huệ vẫn có khác, vì phải tùy theo mỗi kẻ tín-đồ

 

Người tín-đồ nào hằng ngày vâng lờiPhật dạy, rán lo học hỏi, tìm kiếm đạo mầu, quí trọng chuyện lành thì Phật thường gần-gũi hơn đứa đã dạy nhiều lần mà chẳng chịu nghe theo, và thườngban thưởng cho kẻ tín-đồ nào quí trọng kinh luật của Phật, chăm lòng giữ theo giới-luậtcẩn thận từ lời nói việc làm, đừng để cho người ta nhạo-báng Phật hay chê-bai Thầy của mình.  Còn những kẻtín-đồ dối tuchẳng vâng lời dạy,chẳng giữ giới-luật thì trên là Đức Phật và dưới là ông Thầy của kẻ ấy chỉ lấy lòng từ-bi mà nhận sự trách-cứ của kẻ ngoại đạo, chớ không thế nào mà gần-gũi và ban phước-huệ cho kẻ chẳng thành-tín kia đặng.

 

Bạc-liêu, ngày 24-8 Nhâm-Ngũ (1942)

Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.