Uncategorized

Trân trọng kính mời: Quí hiền hữu đến tham dự

THƯ MỜI  December 3, 2015
Trân trọng kính mời:
 Quí hiền hữu đến tham dự
 Bữa cơm trưa
Vào lúc 11.00 trưa THỨ NĂM, 3 December 2015
tại DIAMOND SEA FOOD RESTAURNT
8058 Lampson Ave, Garden Grove, CA 92841
(Góc Lampson + Beach Blvd)
Phone 714/ 891.5347
MỤC ĐÍCH:
Gặp thăm nhau, làm quen dùng trưa đàm đạo tâm tình, chia xẻ buồn vui.
và trao đổi về thời sự xã hội.
 (Chi phí 8 dollars/người, tùy nghi có thì góp trả, không thì cũng tốt).
 Mong quí vị rủ thêm bà con, đồng hương, bạn bè cùng đến tham dự.
 Trân Trọng Kính Mời,
 Xin đến đúng giờ, vì thời lượng không quá 2 giờ.
NHÓM VI NHÂN, 
PHILIP HO
Mỗi tháng rủ ăn quán một lần,
Cho đời vui vẻ kết tương thân.
Tinh thần xã hội luôn ghi nhớ,
Lối Mỹ, lối Tây tự góp phần.*

 

Advertisements
Categories: Uncategorized | Leave a comment

Trung Quốc “động binh” (?!)

Tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông và biển Hoa Đông:

Trung Quốc “động binh” (?!)

Tờ The Diplomat vừa dẫn cảnh báo của giới chuyên gia quốc tế trước việc Trung Quốc (TQ) đang lên kế hoạch xây dựng hàng loạt “đảo nổi” trên Biển Đông.

Bởi đây là các trạm chiến đấu di động trên mặt biển, được thiết kế để phục vụ tham vọng độc chiếm Biển Đông của Bắc Kinh.

Các “đảo nổi” này nặng khoảng 1 triệu tấn, có thể trở thành sân bay tiếp nhận máy bay chiến đấu. Và dù sự linh hoạt của chúng thua xa tàu sân bay, nhưng lại có thể trở thành nhà kho quân sự, hoặc vận hành như căn cứ hải quân tiếp nhận tàu đổ bộ. Theo nhà phân tích Jack Detsch, các “đảo nổi” sẽ là vũ khí bổ sung hữu hiệu vào hệ thống chống ngăn chặn, chống tiếp cận (A2/AD) của TQ. Và quân đội TQ sẽ dễ dàng triển khai máy bay quân sự tại Biển Đông hơn.

Tên lửa của Trung Quốc trong một cuộc diễu hành quân sự ở Bắc Kinh

Quan ngại của giới chuyên môn

Ngày 11/8, khi bình luận trên trang cá nhân của tờ The National Interest, học giả Bonnie Glaser thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và quốc tế (CSIS) cho rằng, không thể tiếp tục chờ đợi Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) thêm nữa, bất chấp tuyên bố của Ngoại trưởng TQ Vương Nghị: Bắc Kinh đã dừng lại. Bạn chỉ cần bay ra đó là có thể nhìn thấy! Bởi thực tế cho thấy, TQ vẫn đang tiếp tục đẩy nhanh tiến trình đảo hóa, trong khi lại lớn tiếng nói rằng, luôn sẵn sàng làm việc với các bên hữu quan bằng cách thiết lập đường dây nóng giữa Bộ Ngoại giao các nước để đối phó với trường hợp khẩn cấp trên Biển Đông. Điều đáng nói là đường dây nóng không chi phối được lực lượng cảnh sát biển, hải quân và dân quân biển bởi họ không thuộc sự quản lý của Bộ Ngoại giao. Trong khi Bắc Kinh tuyên bố “tăng tốc độ tham vấn COC”, nhưng họ không làm gì để thực hiện điều này.

Bà Bonnie Glaser khuyến cáo, nếu chưa áp đặt Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông, TQ sẽ không ký COC, do đó ASEAN nên chủ động trong vấn đề này. Theo bà Bonnie Glaser, chuỗi tiền đồn mà Bắc Kinh đang cải tạo trái phép chắc chắn sẽ được lắp đặt hệ thống radar và thiết bị do thám điện tử nhằm tăng cường năng lực tình báo của Trung Quốc, cũng như khả năng theo dõi, trinh sát trên biển. Và khi xung đột quân sự nổ ra, các đảo nhân tạo cùng lực lượng tàu chiến và máy bay đồn trú trên đó rất dễ bị tấn công, nhưng trong thời bình và khủng hoảng hiện nay, Trung Quốc có thể lợi dụng những tiền đồn này để đẩy Mỹ ra xa Biển Đông – trực thăng, tàu đổ bộ cùng các loại pháo có thể được sử dụng để tấn công chớp nhoáng.

Học giả Bonnie Glaser

Trang web chính thức của Viện Chính sách Lowy vừa dẫn lời Đô đốc Harry Harris, Chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ cho rằng, các đảo nhân tạo mà Bắc Kinh đang xúc tiến là “những tiền đồn tiềm năng” của quân đội Trung Quốc. Và ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy, Trung Quốc đang biến các đảo nhân tạo mà Bắc Kinh xây dựng trái phép tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam trên Biển Đông để phục vụ cho mục đích quân sự. Khi đó, Trung Quốc có thể tăng cường khả năng kiểm soát trên một khu vực rộng lớn.

Đô đốc Harry Harris cho rằng, đường băng dài 3.000m trên bãi đá Chữ Thập cho phép hầu như tất cả các loại chiến đấu cơ cất và hạ cánh, thậm chí đủ sức đón cả máy bay ném bom B-52, gần đủ lớn để trở thành bãi phóng tàu con thoi và thừa sức để một chiếc Boeing 747 cất cánh. Ngoài ra, TQ còn dựng lên nhiều nhà chứa với mục tiêu biến nơi đây trở thành một kho dự trữ máy bay chiến thuật, sẵn sàng xuất kích bất cứ lúc nào.

Theo nhận định của ông Harry Harris, TQ hiện chưa điều tên lửa hành trình chống hạm hay thiết bị hỗ trợ đến các đảo nhân tạo kể trên, nhưng trong tương lai gần họ sẽ triển khai. Ngoài ra, bến cảng trên bãi đá Chữ Thập khá phù hợp để trở thành nơi neo đậu cho tàu ngầm của Bắc Kinh nếu so với cảng nước nông mà quân đội TQ đang sử dụng ở đảo Hải Nam. Nhà nghiên cứu Mira Rapp Hooper của CSIS cũng cho rằng, lý do TQ xây đường băng dài như trên là để có thể triển khai mọi loại máy bay quân sự ở đó.

Đô đốc Harry Harris, chỉ huy Bộ tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ

Nhiều chiêu lách luật

Theo đánh giá của Giáo sư James Kraska, nhà nghiên cứu của Trung tâm Luật quốc tế Stockton thuộc Đại học Hải quân Mỹ, lực lượng dân quân TQ đã xóa nhòa ranh giới trong định nghĩa giữa tàu chiến và tàu dân sự theo luật hải chiến. Với việc sử dụng tàu cá làm lực lượng dân quân, Bắc Kinh muốn lợi dụng sự khó khăn trong việc phân biệt tàu dân sự và quân sự để hỗ trợ cho hoạt động hải quân, và có cớ để công kích đối phương nếu những tàu này bị tấn công. Đội tàu dân quân này tạo thành một lực lượng hải quân không chính thức và tăng cường sức mạnh cho Hải quân TQ mà không quá tốn kém, nhưng lại đặt ra thách thức lớn về quân số, cách đối phó, và cả khía cạnh chính trị, pháp lý cho mọi đối thủ, buộc họ phải thận trọng trong mọi hành động nếu có khủng hoảng hoặc chiến tranh trên biển.

Theo thống kê, Bắc Kinh có hơn 200.000 tàu và TQ có đội tàu đánh cá lớn nhất thế giới. Số nhân lực hoạt động trong lĩnh vực này cũng rất lớn, 14 triệu người, tương đương 25% tổng số ngư dân trên thế giới. Đội tàu cá này đã và đang phối hợp cùng với Hải quân TQ để thúc đẩy các mục tiêu chiến lược của Bắc Kinh ở Biển Đông và biển Hoa Đông.

Ngày 9/8, tờ South China Morning Post và tờ The Philippines Star đều cho rằng, tuyên bố chung của Hội nghị ASEAN không nêu đích danh TQ là quốc gia đã tiến hành hoạt động cải tạo đất gây căng thẳng ở Biển Đông. Việc này giống như lên án tội ác nhưng không nêu tên thủ phạm. Đồng thời ghi nhận một số Ngoại trưởng đã bày tỏ mối quan tâm đến hoạt động cải tạo đất trên Biển Đông của TQ, như vậy những Ngoại trưởng còn lại không quan tâm.

Ngoại trưởng Vương Nghị từng bác bỏ đề nghị đóng băng các hoạt động khiêu khích ở Biển Đông. “Có gì để đóng băng? Mỗi quốc gia có cách nhìn khác nhau. Tiêu chuẩn nào để đóng băng? Ai sẽ phán xét các quá trình hoạt động đóng băng? Đây là những câu hỏi rất phức tạp, phi thực tế và không có tác dụng thực tiễn”, ông Vương Nghị tuyên bố.

Mặc dù quan ngại, nhưng cho đến nay phản ứng của các bên trong khu vực vẫn chưa đủ mạnh để buộc TQ phải thay đổi và trong dài hạn, các nước Đông Nam Á có thể phải thích nghi với lợi ích của TQ ở Biển Đông. Học giả Alexander Larin đến từ Viện Nghiên cứu Viễn Đông, thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga cho rằng, Moskva không muốn bị lôi kéo vào tranh chấp giữa Trung Quốc với các nước hữu quan ở Biển Đông.

Sức mạnh cơ bắp

Theo Tân Hoa xã, ngày 11/8, quân đội Trung Quốc bắt đầu diễn tập quân sự chung mang mật danh “Hành động Hỗn hợp-2015B” tại thành phố Nam Kinh, thủ phủ tỉnh Giang Tô, với sự tham gia của các quân nhân đến từ hải – lục – không quân và pháo binh. “Hành động Hỗn hợp-2015B” là một trong năm cuộc diễn tập với sự tham gia của hơn 140.000 binh sĩ đến từ hơn 140 trung đoàn thuộc nhiều binh chủng. Trước đó (10/8), Bộ Tư lệnh Quân khu Thành Đô đã tổ chức tập trận mang mật danh “Hành động Hỗn hợp-2015D”. Và trong năm nay, TQ có kế hoạch hoàn tất hơn 100 cuộc tập trận hỗn hợp liên quan đến hơn 50 quân đoàn. Trong năm 2015, Trung Quốc cũng có kế hoạch tiến hành hơn 20 cuộc tập trận chung với các nước như Nga, Pakistan, Colombia, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ.

Ngày 11/8, tờ South China Morning Post đưa tin, TQ có kế hoạch tiến hành 100 cuộc tập trận quân sự trong năm nay. Quân đội 2,3 triệu người đã gia tăng tần suất và mức độ sát thực tế chiến tranh cho các cuộc tập trận. Các tình huống căng thẳng mới đã được nêu ra trong các cuộc diễn tập quân sự nhằm hiệp đồng tác chiến với các lực lượng khác nhau. Trước đó (10/8), trang web của Cơ quan Đảm bảo hàng hải Trung Quốc (msa.gov.cn) cho biết, từ 11 đến 14/8, quân đội TQ tổ chức 3 cuộc diễn tập bắn đạn thật và huấn luyện quân sự tại các khu vực biển khác nhau trên Biển Đông, nhưng không nêu rõ nội dung diễn tập.

Giới chuyên môn cho rằng, với những hình ảnh lần đầu được công bố trên một trang website chính trị có trụ sở tại Thượng Hải hôm 7/8 chứng tỏ, Bắc Kinh đã có khả năng tự phát triển một phiên bản radar cảnh báo sớm tầm xa như Mỹ và Nga tại một trạm giám sát không gian bí mật ở tỉnh Hắc Long Giang.

Sáng 12/8, đồng NDT lại giảm thêm 1,6%, xuống còn 6,3306 nhân dân tệ đổi 1USD, đây là mức giảm mạnh nhất kể từ năm 1994. Và các chỉ số chứng khoán lớn trên thế giới đã đồng loạt lao dốc do tác động của việc TQ phá giá đồng NDT. Mỹ khẳng định sẽ giám sát cũng như hối thúc Trung Quốc có những cải cách cơ chế tỷ giá nhằm cho phép thị trường có vai trò lớn hơn, đồng thời cảnh báo Bắc Kinh không nên rời xa cam kết hướng tới áp dụng một giá tỷ giá hối đoái theo quy luật thị trường, bởi mọi động thái đảo ngược các biện pháp cải cách sẽ là một diễn biến tiêu cực.

Ngày 11/8, Ngân hàng Nhân dân TQ gây sốc lớn khi phá giá đồng NDT gần 2% so với đồng USD để kích thích nền kinh tế. Ngay lập tức, thị trường tài chính toàn cầu bị chấn động và giới chuyên môn cảnh báo về nguy cơ chiến tranh tiền tệ. Và nhiều khả năng tỷ giá đồng NDT sẽ là một trong những đề tài nóng được Tổng bí thư, Chủ tịch nước TQ Tập Cận Bình hội đàm với Tổng thống Mỹ Barack Obama trong tháng 9 tại Washington. Ngày 10/8, người phát ngôn Bộ Ngoại giao TQ Lục Khảng cho biết, Trung – Mỹ sẽ trao đổi đoàn trong thời gian tới nhằm chuẩn bị cho chuyến thăm Mỹ vào tháng 9 của Chủ tịch nước Tập Cận Bình.

Theo Hồng Thất Công

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Tín hiệu chuyển biến từ Trung Nam Hải: Bốn bản tin của truyền thông Trung Quốc tiết lộ tình cảnh của Giang Trạch Dân

Tín hiệu chuyển biến từ Trung Nam Hải: Bốn bản tin của truyền thông Trung Quốc tiết lộ tình cảnh của Giang Trạch Dân

Trong gần một tuần, nhiều kênh truyền thông ở Trung Quốc đã có ít nhất bốn bản tin ám chỉ đến cựu lãnh đạo ĐCSTQ Giang Trạch Dân. Ông Tân Tử Lăng, một quan chức của chế độ đã về hưu từng cho rằng: Giang Trạch Dân sắp bị điều tra; Trung Quốc đang đứng trước sự thay đối lớn về cục diện chính trị. (Ảnh LIU JIN/ AFP/ GETTY IMAGE)

Sau khi những bản án của Chu Vĩnh Khang, Lệnh Kế Hoạch, Quách Bá Hùng được công khai rộng rãi, các cơ quan của ông Tập Cận Bình không ngừng tung ra những tín hiệu để tiếp tục công cuộc “đả hổ”. Trong gần một tuần, nhiều kênh truyền thông ở Trung Quốc đã có ít nhất bốn bản tin ám chỉ đến cựu lãnh đạo ĐCSTQ Giang Trạch Dân. Ông Tân Tử Lăng, một quan chức của chế độ đã về hưu từng cho rằng: Giang Trạch Dân sắp bị điều tra; Trung Quốc đang đứng trước sự thay đối lớn về cục diện chính trị.

Tân Hoa xã: Không có hội nghị Bắc Đới Hà – các bạn đã hiểu

Ngày 5 tháng 8, mạng Weixin của “Tuần báo kinh tế Quốc gia” thuộc Tân Hoa xã – cơ quan ngôn luận của ĐCSTQ – đã cho đăng bài viết “Khỏi phải đợi nữa, không có hội nghị ở Bắc Đới Hà”. Bài viết nói, gần đây Bộ Chính trị liên tục mở hai hội nghị – đây đã là điều khác với quy củ thông thường. Theo kế hoạch 5 năm lần thứ 13, hội nghị Ủy ban Trung ương lần thứ 5, thì những nội dung như: triển khai kinh tế, “đả hổ”, tất cả đã được bàn qua một lần. Thế thì cập rập thêm mười mấy ngày chạy đến Bắc Đới Hà để bàn tiếp một lần nữa thì có ý nghĩa gì? Có cần thiết không? Có khả năng không?

Trong bài viết còn có liệt kê qua những hạng mục cụ thể vốn phát xuất từ những lần hội nghị Bắc Đới Hà trước đó dưới thời các lãnh đạo như Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình. Nhưng điều kỳ lạ ở đây là, tại thời kỳ chấp chính của Giang Trạch Dân thì hội nghị này nổi lên nhiều tin đồn nhất nhưng bài viết hoàn toàn không đề cập mà lướt rất nhanh đến thời Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và chủ trương hủy bỏ hội nghị Bắc Đới Hà đầy hào nhoáng của ông ta. Đến lượt mình chấp chính, ông Tập Cận Bình đã thực hành “Tập bát điều” (tám điều cần học tập, điểm thú vị là chữ “Tập” này cũng chính là họ của ông Tập Cận Bình), không cần “chạy đến nơi chơi bời đông khách như Bắc Đới Hà để họp hành”.

Cuối cùng bài viết nói, trước kia, ở trên Weixin khi nhập từ khóa tìm kiếm mang nội dung “Hội nghị Bắc Đới Hà” thì có hiển thị một vài lời “tiên tri” nhưng đến nay phần nhiều đã không còn thấy nữa. Ý nghĩa bên trong là gì? “Bạn tự hiểu”.

Quảng cáo

Bình luận viên thời sự Tạ Thiên Kỳ phát biểu, cuộc “đả hổ” của các cơ quan dưới quyền ông Tập Cận Bình và các động thái dày đặc nhắm vào hàng nhân sự trong quân đội cho đến việc cơ quan truyền thông chính phủ tuyên bố “không mở hội nghị Bắc Đới Hà” đã cho thấy lực lượng của ông Tập đang khống chế quyền lực của các cơ chế đảng – chính – quân, công khai phế bỏ các tín hiệu “trưởng lão chấp chính”.

Mạng tin tức The Paper đưa tin cơ cấu lại bản đồ chính trị ở Bắc Đới Hà, Giang Trạch Dân “mất tích”

Ngày 5 tháng 8, mạng tin tức The Paper (thepaper.cn) của Trung Quốc trong mục “Tin đặc sắc” đã cho đăng lại bài viết cũ từ ngày 8 tháng 8 năm 2014 mang tên “Đã phát sinh tại ‘Hạ đô’ Bắc Đới Hà: Cơ cấu lại bản đồ chính trị của Trung Quốc”.

Bài viết đề cập đến rất nhiều sự việc liên quan đến hội nghị Bắc Đới Hà của các đời lãnh đạo ĐCSTQ trước như Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, sau khi Hồ Cẩm Đào lên đài chính trị đã hủy bỏ cơ chế làm việc Bắc Đới Hà, cho đến những vấn đề khách khứa của hội nghị, cho đến việc ông Tập Cận Bình ủy thác người khác trông chừng các chuyên gia ở Bắc Đới Hà.

Điều không tầm thường ở đây là, Giang Trạch Dân, người từng được phong xưng “hạt nhân lãnh đạo đời thứ ba”, không hề được nhắc đến, mất tích một cách triệt để trong bài viết này.

Mạng tin tức The Paper cho đăng bài “ N kiểu kết cục của đại ca cầm đầu” ám chỉ Giang Trạch Dân

22 giờ 40 phút ngày 3 tháng 8, mạng tin tức The Paper cho đăng bài phát biểu với tiêu đề “N kiểu kết cục của đại ca cầm đầu”, đã phát biểu hàng loạt phán đoán có khả năng xảy ra đối với tin xấu dâm loạn, sinh con riêng của phương trượng chùa Thiếu Lâm được nổi lên gần đây.

Bài viết đã đưa ra rất nhiều “phiên bản” phỏng đoán như: “phiên bản lịch sử”, “phiên bản phổ thông”, “phiên bản văn nghệ”, “phiên bản kiếm hiệp” và “phiên bản huyền ảo”. Trong đó, “phiên bản kiếm hiệp” viết: “Muốn tố cáo lão nạp ư? Đùa à! Có biết Tiêu Viễn Sơn của nước Đại Liêu năm ấy không? Không biết ông ta cao minh hơn các người bao nhiêu, lão nạp từng cùng ông ấy cười đàm chuyện thế gian! Các người a, luôn nghĩ rằng cả hệ thống truyền thông đều phê phán lão nạp, nói lão nạp thông gian, chiếm tiền của phi pháp, thật là ấu trĩ quá đi mà! Con mắt nào của các người nhìn thấy vậy? Thôi về nhà hết đi, rửa mặt coi có tỉnh ngủ chưa”.

“Phiên bản kiếm hiệp” này khiến người ta liên tưởng đến cựu lãnh đạo Giang Trạch Dân khi ông này chửi rủa các phóng viên Hồng Kông bằng cả thể diện quốc gia, khiến cho dân mạng đàm tiếu nhộn nhịp.

Có cư dân mạng của Trung Quốc bình luận rằng, đây chính là trực tiếp ám chỉ Giang Trạch Dân: “Đang châm chích Tổng bí thư đời trước đây”, “Chân diện mục rất nhanh sẽ lộ!”, “Phiên bản kiếm hiệp này thật là thâm! Hắn còn có thể nhảy nhót được mấy ngày?”

Mạng Tân Tài phơi bày điểm phát xuất của Quách Bá Hùng, trực tiếp chỉ mặt Giang Trạch Dân

22 giờ ngày 30 tháng 7, cơ quan truyền thông của ĐCSTQ công khai tin tức Cựu Chủ tịch Quân ủy Quách Bá Hùng bị khai trừ khỏi đảng và chuyển đến cơ quan tư pháp. Trong thông báo còn tiết lộ, Hội nghị Bộ chính trị nhấn mạnh: cuộc đấu tranh chống tham nhũng cần phải được đẩy mạnh hơn nữa. Lập tức sau đó, các cơ quan truyền thông chính phủ cũng bình luận: cuộc chống tham nhũng không phải là một dạng “kế sách quyền lực”, cũng không phải là “đủ chỉ tiêu rồi thôi”, mà là “tận lực trừ gian”.

Một tiếng sau khi truyền thông chính phủ công khai cú ngã ngựa của Quách Bá Hùng, tức vào thời điểm 23 giờ 11 ngày 30 tháng 7, mạng Tài Tân của Trung Quốc cho đăng bài viết “Sự thăng trầm của Quách Bá Hùng”. Bài viết này đã công khai bước khởi nghiệp của Quách Bá Hùng từ lúc còn là chỉ huy trưởng quân đoàn 47. Trạm đầu tiên của ông Quách là quân đoàn 415 thuộc sư đoàn 139, nơi được mệnh danh là sư đoàn bộ binh số 1 của Quân khu Lan Châu. Quách Bá Hùng đã từng phát biểu trước hơn 200 tướng lĩnh của quân đoàn rằng, “ông ta nói rằng sẽ xây dựng quân đoàn Hồng nhất liên 415 (tên đội quân từng tham gia khởi nghĩa với Mao Trạch Đông) theo  5 phương châm của Chủ tịch Quân ủy Trung ương Giang Trạch Dân”.

Bài viết còn tiết lộ, cách thức làm việc của ông Quách Bá Hùng lúc còn là chỉ huy trưởng đã từng được “Quân ủy Trung ương khẳng định, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đương thời cũng không hết lời khen ngợi”. Kể từ đó, con đường thăng tiến của Quách Bá Hùng rất chi là thuận lợi.

Bài viết còn tường thuật chi tiết con đường thăng tiến đề bạt của ông Quách dưới thời Giang Trạch Dân vẫn còn là Chủ tịch Quân ủy, đồng thời còn nhấn mạnh việc ông Quách thể hiện bổn phận với ông Giang như thế nào.

Bình luận viên thời sự chính trị Tạ Thiên Kỳ phân tích, mạng Tài Tân –  một kênh tin tức thân với ông Tập Cận Bình nhanh chóng cho đăng một bài viết dài để lật mặt ông Quách Bá Hùng như thế tất nhiên là đã có chuẩn bị từ trước. Tín hiệu lớn nhất mà ta thấy được ở đây, chính là tình tiết ông Quách đã nịnh bợ họ Giang như thế nào để được leo cao, đồng thời điểm đích danh Giang Trạch Dân. Điều này chứng tỏ các cơ quan dưới quyền ông Tập đang khóa chặt vào cái hậu đài sau lưng ông Quách.

Tân Tử Lăng: Giang Trạch Dân sắp sửa bị điều tra, Trung Quốc đang đứng trước sự thay đổi lớn về chính trị

Đối với vụ việc ông Quách Bá Hùng một nhân vật đứng đầu quân đội ĐCSTQ bị tình nghi tham ô, Cựu tổng biên tập nhà xuất bản Học viện Quân sự Tân Tử Lăng đã có những ý kiến như sau khi trả lời phỏng vấn của phóng viên đài VOA: Quách Bá Hùng và Từ Tài Hậu là hai nhân vật mà Giang Trạch Dân đã bỏ biết bao công sức ra, dùng phương thức “buông rèm chấp chính”, nuôi chí đưa đẩy vào tận cấp lãnh đạo Quân ủy dưới thời đại của Hồ  – Ôn (tức Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo).

Ông Tân Tử Lăng nhận định, việc dọn dẹp Quách Bá Hùng có thể bảo lưu quân đội ở trạng thái một khối thống nhất, không lo bị phân hóa. Tập Cận Bình có thể nắm chắc bộ phận Quân ủy, đây chính là điều kiện tiền đề cho việc tiếp tục đẩy mạnh công cuộc chống tham.

Ông Tân Tử Lăng còn dự đoán, rất có khả năng cựu lãnh đạo Đảng Giang Trạch Dân sẽ bị truy cứu. Ông nói: “Tập Cận Bình một lần nữa nhắc lại: không có giới tuyến, không có ‘Thiết Mạo tử vương’, ai có vấn đề thì điều tra người nấy, nên làm như vậy. Nếu thế thì sẽ đề cập đến cựu lãnh đạo Giang Trạch Dân rồi. Vấn đề của Giang không xử không được. Nhưng so với vụ của Quách Bá Hùng thì càng phải ổn thỏa, càng phải cẩn thận. Ý chí phải kiên quyết, nhưng bước đi phải ổn thỏa. Cần phải không để ra sơ sẩy, không thể gây chấn động trên toàn quốc”.

Trước đó, vào ngày 24 tháng 6 năm 2015, ông Tân Tử Lăng trong cuộc thảo luận với bà July –  phóng viên đài SBS, Austraulia – đã từng phủ định ý kiến cho rằng: việc Chu Vĩnh Khang bị kết án chung thân đã gióng lên hồi kết cho công cuộc “đả hổ”. Ông Tân Tử Lăng đã trả lời phỏng vấn: tại Trung Quốc, người hi vọng Chu Vĩnh Khang sẽ bị tử hình nhất chính là Giang Trạch Dân. Bởi vì rất nhiều những mệnh lệnh liên quan đến việc trấn áp Pháp Luân Công và các hoạt động mổ cướp nội tạng sống đều do Giang Trạch Dân trực tiếp truyền xuống cho họ Chu. Để cho Chu Vĩnh Khang sống chính là đã lưu lại chứng cứ cho tội ác phản nhân loại của Giang Trạch Dân, trận quyết chiến trong tương lai nhất định sẽ dùng đến. Cái kết của Chu Vĩnh Khang vẫn chưa phải là hồi kết cho cuộc đả hổ chống tham, mà là chương mở mà cho vở kịch “anh hùng đả hổ” kế  tiếp. Trong quá trình phỏng vấn, ông Tân Tử Lăng còn nhắc đến làn sóng khởi kiện Giang Trạch Dân vào tháng 5 do các học viên Pháp Luân Công khởi xướng. Ông Tân còn bày tỏ, từ trước đến nay, Trung Quốc đang đứng trước một sự biến động lớn về chính trị; rất có khả năng cuối năm nay sẽ giải quyết Tăng Khánh Hồng, năm sau là sẽ đến Giang Trạch Dân.

Nếu bạn thấy bài viết hay, hãy chia sẻ nó với bạn bè
Categories: Uncategorized | Leave a comment

Tin buồn: Cụ Lê Quang Liêm tạ thế

Tin buồn: Cụ Lê Quang Liêm tạ thế

Danlambao – Do tuổi cao sức yếu, cụ Lê Quang Liêm – Hội trưởng Trung ương Giáo hội Phật Giáo Hoà Hảo Thuần Tuý đã qua đời lúc 7:30’ sáng nay, 17/7/2015 tại nhà riêng ở Sài Gòn, hưởng thọ 95 tuổi.

Là một trong những đệ tử đầu tiên của đức thầy Huỳnh Phú Sổ, cụ Lê Quang Liêm đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với Phật Giáo Hoà Hảo qua những biến cố lớn của đất nước.
Dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, cụ từng giữ nhiều chức vụ như tỉnh trưởng tỉnh Khánh Hoà, Nha Trang, Dân biểu Quốc hội, Chủ tịch Uỷ ban Canh nông…
Sau khi cộng sản chiếm đóng miền Nam năm 1975, cụ Lê Quang Liêm bất chấp hoàn cảnh tù đày vẫn tiếp tục đấu tranh cho dân tộc và đạo pháp, bảo tồn những truyền thống tốt đẹp và chân truyền của Giáo lý Phật giáo Hoà Hảo.

Là người lãnh đạo cấp cao của Phật giáo Hoà Hảo Thuần Tuý, cụ Lê Quang Liêm đã dành trọn cuộc đời để đấu tranh cho tự do tôn giáo tại Việt Nam.

Trong phần lớn những năm cuối đời, cụ bị chế độ CSVN canh gác nghiêm ngặt và quản chế tại gia.
Sự ra đi của cụ là mất mát lớn đối với Phật giáo Hoà Hảo Thuần Tuý và phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ tại Việt Nam.
Theo thông báo của Giáo hội Phật Giáo Hoà Hảo Thuần Tuý, do công đức của cụ Lê Quang Liêm là rất lớn đối với dân tộc và đạo pháp, các tín đồ và gia đình sẽ tổ chức đại lễ tang cho cụ theo nghi thức của Phật giáo Hoà Hảo:
Linh cữu quàn tại tư gia. Địa chỉ: Số 182/6, đường Hồ Văn Huê, phường 9, quận Phú Nhuận, Sài Gòn.
Chương Trình Lễ Tang:
– Lễ Nhập Quan và Phát Tang vào lúc 18:30’, ngày 17/7/2015 (Nhằm ngày mùng 2/6, Ất Mùi)
– Lễ viếng bắt đầu vào lúc 20h ngày 17/7/2015
– Lễ Truy Điệu và Động Quan vào lúc 13g ngày 20/7/2015 (Nhằm ngày mùng 5/6, Ất Mùi)
– An Táng tại Công Viên Nghĩa Trang Phúc An Viên, quận 9, Sài Gòn.

Tóm Tắt Tiểu Sử Cụ Lê Quang Liêm
Cụ Lê Quang Liêm là Hội Trưởng Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy Việt Nam.
Cụ sinh ngày 1 tháng 11 năm 1920 tại xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Cụ tạ thế lúc 7 giờ 30 sáng ngày 17/07/2015 tại tư gia hưởng thọ 96 tuổi.
Cụ sinh ra và lớn lên trong gia đình đại điền chủ và là tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương. Đến tháng giêng năm Canh Thìn (1940) Cụ đã quy y với Đức Huỳnh Giáo Chủ.
Cụ từng là chiến sĩ chống Pháp, sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và là Dân Biểu Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa:
1945-1946: Đoàn Trưởng Bảo An Phật Giáo Hòa Hảo quận Chợ Mới, tỉnh An Giang.
1946-1947: Chính Trị Viên Đại Đội I, Chi Đội 30, Bộ Đội Nguyễn Trung Trực.
1948-1952: Tham Mưu Trưởng Nghĩa Quân Cách Mạng Dân Xã Đảng do cụ Lê Quang Vinh lãnh đạo.
1953-1955: Sáp nhập vào Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, cấp bậc Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 525.
1956-1957: Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 12.
1958-1959: Tham Mưu Phó Quân Đoàn II.
1960-1962: Trưởng Phòng 4 Bộ Tư Lệnh Hành Quân.
1963-1964: Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang.
1964-1965: Tỉnh Trưởng tỉnh Khánh Hòa, Nha Trang.
1966-1967: Chỉ Huy Trưởng Hậu Bị Quân Vùng 4 Chiến Thuật, kiêm Thanh Tra Tòa Đại Biểu Vùng 4.
1968-1969: Dân Biểu Quốc Hội Lập Hiến, Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Quốc Hội Lập Hiến.
1972-1975: Dân Biểu Quốc Hội, Chủ Tịch Ủy Ban Định Chế, Chủ Tịch Ủy Ban Canh Nông.
Sau 1975 cụ bị nhà cầm quyền Cộng sản cầm tù trong nhiều nhà giam khác nhau.
2006 Cụ là thành viên sáng lập và là Cố vấn của Khối 8406.
Về hoạt động giáo sự:
 
1967-1975: Cố vấn kiêm Đại Diện Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Gíao Hội Phật Gíao Hòa Hảo, Hội Trưởng Giáo Hội Trung Ương Phật Gíao Hòa Hảo.
Từ tháng 02-2000 đến hiện nay: Hội Trưởng Giáo Hội Trung Ương Phật Gíao Hòa Hảo Thuần Túy.
Tháng 12-2000, cụ cùng Linh mục Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh và Linh mục Chân Tín, viết một bản lên tiếng phản đối chính sách đàn áp của nhà cầm quyền Cộng sản, đòi hỏi nhà cầm quyền phải “tôn trọng quyền tự do tôn giáo thực sự của các tôn giáo, nhất là các quyền căn bản của các Giáo Hội. Các Giáo Hội phải được hoàn toàn độc lập và tự do trong việc lựa chọn, huấn luyện, chỉ định các chức vụ tôn giáo tùy theo nhu cầu của từng Giáo Hội”.
Tháng 2/2001, tại Huế, cụ Liêm gặp gỡ Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh, Thượng Tọa Thích Chân Trí, và cùng ba vị lãnh đạo tôn giáo này thành lập Hội Đồng Liên Tôn.
2013-1015 cụ cùng nhiều tu sĩ 5 tôn giáo Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Tin Lành và Phật giáo Hòa Hảo đồng sáng lập Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam.
Đến tận cuối đời cụ Lê Quang Liêm vẫn một lòng cùng vì nước vì dân theo Thầy giữ trọn Tứ Ân.
Nguyễn Quang Duy soạn 
17-7-2015
Categories: Uncategorized | Leave a comment

Hoan hỷ tham dự ĐẠI LỄ KỶ NIỆM 76 NĂM

Hoan hỷ tham dự ĐẠI LỄ KỶ NIỆM 76 NĂM

HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ TRUNG ƯƠNG

Hội Trưởng Lê Phước Sang

12432 Euclid St., Garden Grove, CA 92840

Tel: 832-397-9813 * http://www.tandanhoa.com GIÁO HỘI PHẬT GIÁO HÒA HẢO

THƯ MỜI

Trân trọng kính mời Ô/Bà:

Hoan hỷ tham dự ĐẠI LỄ KỶ NIỆM 76 NĂM

ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ KHAI SÁNG

ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO

Thời gian và địa điểm như sau:

2:00 chiều ngày 19 tháng 7, năm 2015 tại

TRỤ SỞ HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ TRUNG ƯƠNG

Tel: 832-397-9813

12432 Euclid St., Garden Grove, CA 92840

Xin quý khách đậu xe ở các điạ điểm sau đây:

1.- Brentwood Dental, 12400 Euclid St.

3.- Russo Chirpractic Clinic, 12362 Euclid St.

4.- JP Escrow House & Home Realty, 12312 Euclid St.

2.- Art of Dentistry, 12372 Euclid St.

Đức-Thầy khai sáng nền Đạo PGHH:

Đạo là gì? Đạo là con đường dẫn tới giác ngộ mà người có duyên sẽ gặp.” Đạo là

vốn thiệt cái đàng: “Ta ra sức dọn cho toàn chúng sanh”.

Đức-Thầy đã quyết:

Tay Tăng Sĩ gậy thiền quyết nắm

Lần bụi bờ xuống thẵm lên đèo

Dù cho gặp lắm hùm beo

Từ bi vẫn niệm quyết leo khỏi rừng

Đầu ngưỡng vọng ĐấtTrời minh chứng

Tấm lòng thành quyết dựng đạo đời

Đôi đều hòa nhả nơi nơi

Thân nầy mới chịu ngồi ngơi thạch bàn

Quyết đưa chúng về nơi non Thứu

Tạo Lư-Bồng ngõ hội quần tiên

Dù cho xoay chuyễn đất trời

Lòng Ta chí dốc độ đời mà thôi.

Trong bài Sứ-Mạng Đức-Thầy nói:Vì thể lòng từ bi bác ái cùng thù đáp những linh

hồn đã trợ duyên trong nhiều kiếp giúp Ta nương cậy tu hành nên ngày 18 tháng 5

năm Kỹ-Mão, Ta hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh.

Duyên lành rõ được khùng điên

Chẵng qua kiếp trước thiện duyên hữu phần

Một đấng Giáo Chủ người Việt Nam còn rất trẻ mới 19 tuổi đã khai sáng nền đạo

Phật Việt Nam đậm đà tình tự dân tộc thâm sâu và vô cùng mầu nhiệm.

Chẳng những vậy,ngoài tài trị bịnh như thần còn thuyết giảng và sáng tác thi-văn

giáo-lý để hoằng truyền đại đạo. Ngài còn đặc biệt cho thấy sự siêu phàm của Ngài

khi tiên tri chính xác những sự kiện lịch sử sau đây:

Sự kiện thứ nhứt:

Năm Kỹ-Mão (con mèo) khi đệ nhị thế chiến chưa bùng nổ thì Đức Thầy đã sớm

báo động: “Mèo kêu bá tánh lao xao…Đến chừng Rồng Rắn máu đào chỉnh

ghê…Con Ngựa lại đá con Dê…Khắp trong trần hạ nhiều bề gian lao…Khỉ kia cũng

bị xáo xào…Canh khuya Gà gáy máu đào mới ngưng”

Quả đúng như vậy “Canh khuya Gà gáy “tức là 12 giờ đêm giờ Đông Dương năm

Ất-Dậu(con Gà). Hiệp Định đầu hàng của Nhựt-Hoàng đã được ký kết. Qua hai

quả bom nguyên tử của Mỹ,số phận của nước Nhựt đã được định đoạt.

Ở Sài Gòn Chợ Lớn Miền Đông tại trụ sở làm việc khi các cao-đồ của ngài bàn tán

tình hình thời-cuộc không biết người Nhựt rồi đây thua hay thắng thì Đức-Thầy đã

có lần mĩm cười có vẽ hơi hài hước “Các ông biết không người Nhựt-Bổn ăn

không hết nửa con Gà”.

Đệ nhị thế chiến giữa hai phe trục tam cường Nhựt Đức Ý đã thua phe đồng

minh Nga Tàu Anh Mỹ.Cuộc thế chiến diễn ra tàn khốc kể từ năm Mèo Kỹ-Mão

1939 qua năm 1940 Rồng, 41 Rắn, 42 Ngựa, 43 Dê, 44 Khỉ,  45 Dậu(con gà)thì

kết thúc đúng như câu “Canh khuya Gà gáy máu đào mới ngưng”

Sự kiện thực tế thứ hai là chữ ký của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Trên các văn kiện

Đức Thầy đã ký tên trong những năm 1945, 1946, cho đến 1947 Đức Thầy vắng

mặt. Tín-đồ thường thấy và lấy làm lạ là khi chữ Sổ (húy danh của ngài) viết tắt là

chữ S Đức Thầy luôn luôn gạch ngang giữa chữ.

Nhiều người lấy làm thắc mắc hỏi thì Ngài trả lời rằng sau nầy sẽ biết. quả thật

năm 1954 hiệp định Geneve ký kết đã chia đôi đất nước Việt-Nam hình cong chữ

Còn nhiều sự kiện phụ không thể kể hết ra đây. Nhưng sự kiện Biển Đông nổi sóng

mà Đức Thầy đã tiên tri từ lâu rồi chắc chắn phải được đề cập.

Mặt nước biển lô nhô lặn hụp

Chim đua bay cá lại tranh mồi

Ngọn thủy triều nô nức sục sôi

Bầu trái đất một phen luân chuyễn

Chẳng những chiến tranh dưới biển, máy bay như chim, tàu chiến như cá, mà hỏa

lực của các phe lâm chiến khủng khiếp đến nổi nước biển sục sôi và bầu trái đất

Nơi phía trước cheo leo tiếng khóc

Đứng sau lưng hình vóc vẫy chưng

Nước kia lửa nọ tưng bừng

Thảm cho thế sự lẫy lừng nạn tai

Tóm tắt, nếu đúc kết một cái nhìn từ tấm gương đạo hạnh, những bước hành trình

gian khổ của Đức-Thầy: Hòa-Hảo, Giác-Ngộ, Nhẫn-Nhục và vô cùng thiêng liêng

cao cả. Nếu không nói là bất phàm siêu phàm thì là gì?

Thường nhơn phàm tục thì làm sao có được khả năng nầy.

Có đấng đại giác nào lâm phàm độ chúng mà không phải chịu thọ nạn đâu?

Nhưng trường hợp của Đức Thầy thọ nạn theo như Ngài đã nói trước thì tín-đồ vẫn

kỳ vọng một ngày trở lại của Đức Thầy như câu:

Rán nghe lời dạy của Thầy

Để chừng đến việc kiếm Thầy không ra

Ít lâu Ta cũng trở về

Khuyên cùng bổn đạo chớ hề lảng xao

Trì lòng chớ có núng nao

Từ đây nhơn vật mòn hao lần lần

Từ nay cách biệt xa ngàn

Ai người tâm đạo đừng toan phụ Thầy

Giữa chừng đờn nở đứt dây

Chưa vui buổi hiệp bổng Thầy lại xa

Tỉnh say trong giấc mộng hoa

Mơ màng cũng tưởng như Ta bên mình

Tuy là hữu ảnh vô hình

Chớ dân lòng tưởng sân trình đáo lai

Vậy, để là tấm gương soi cho nhân loại hầu tuyên dương những tấm gương vì

đạo vì đời,bác ái từ bi hòa hảo,trung nghĩa hiếu hạnh thì đây là những tấm gương

cần nhắc nhở và ca tụng.

Nếu nhân loại không nhắc nhở tuyên dương các bực đại giác đại ngộ, các đấng

thiêng liêng lâm phàm độ thế thì thử hỏi nhân loại nên kỷ niệm tưởng nhớ nhắc

nhở và tuyên dương ai???

Hội Đồng Cố Vấn và Ân Nhân Bảo Trợ

– Cụ Phan Như Toản – Cụ Trần Sinh Cát Bình

– Luật Sư Đinh Thạch Bích – Doanh Gia Kim Anh

– Ông Trương Quang Sĩ và Bà Mộng Lan

– Ông Bùi Văn Truyền – Giáo Sư Lê Quí An

– Giáo Sư Trần Văn Chi – Giáo Sư Lê Hữu Quế

– Ông Bà Hoàng Đình Từ

Hội Đồng Trị Sự Trung Ương và

Ban Tổ Chức Đại Lễ Kỷ Niệm

 Tu Sĩ Thái Hòa, Hội Trưởng Danh Dự

 TS Lê Phước Sang, Hội Trưởng

 DB Dương Minh Quang, Đệ nhất Phó Hội Trưởng

 DB Dương Thanh Tồn, Cố Vấn Chính Sách

 Trần Văn Vui, Phó Ban Tổ Chức

 Lê Văn Tâm, Phó Ban Tổ Chức

 Nguyễn Cửu Long, Phó Ban Tổ Chức

 GS Nguyễn Tấn Lạc, Phó Ban Tổ Chức

 Bà Phạm Diệu Chi, Phó Ban Tổ Chức

 Ô. Nguyễn Thanh Tân, Phó Ban Tổ Chức

 Huỳnh Long Giang, Tổng Thư Ký

 Hoa Hậu Khuyến Nguyễn, Chủ Nhân Nước Mía Viễn Đông

 Hoa Hậu Hoàn Vũ Lam Châu

 Hoa Hậu Huỳnh Nga – Hoa Hậu Kristine Thảo

 Hoa Hậu Tường Vi

 Đốc Sự Châu Văn Để – Bà Minh Nguyệt

 Nghệ Sĩ Tuyết Nga – Nghệ Sĩ Hồng Quyên

 Võ Công và Nguyễn Dung

 Soạn Giả Bùi Minh Đức

 Nhạc Sĩ Ngọc Nôi

 Nghệ Sĩ Phi Loan

 Nghệ Sĩ Hoàng Lợi

 Nhạc Sĩ Trần Khánh Trung

 Thiền Sư Nguyên Linh

 Giáo Sư Hồ Phi

 Ô.Bà Ba Định

 Bà Đào Bích Ty – Bà Phạm Mai

 Ô. Mai Bá Điển – Ô. Nguyễn Văn Hiền

 Bác Sĩ Lê Phước Hoàng Hà

CHƯƠNG TRÌNH

I.- Tiếp Đón Quan Khách: 2:00 PM

Quan Khách và đồng đạo đến

II.- Nghi Thức Khai Mạc: 3:00 PM

 Chào Quốc Kỳ, Đạo Kỳ và Mặc Niệm

 Giới thiệu thành phần tham dự

 Diễn văn của TS Hội Trưởng Lê Phước Sang

III.- Đại Lễ Kỷ Niệm: 3:30 PM

 Nghi Thức Hành Lễ

 Tuyên đọc Sứ Mạng Cứu Đời của

Đức Huỳnh Giáo Chủ

IV.- Phát Biểu của Quan Khách và

Xướng Ngâm Thi Văn Giáo Lý

V.- Văn Nghệ Giúp Vui

VI.- Cảm Tạ của Ban Tổ Chức

VII.- Bế Mạc 6:30 PM

___________________________________

LIÊN LẠC:

TS Lê Phước Sang, 832-397-9813;

Trần Văn Vui, 619-278-9758;

Nguyễn Tấn Lạc, 714-332-9244;

Phạm Diệu Chi, 714-467-5955

Huỳnh Long Giang, 714-720-5271;

Đào Bích Ty, 714-726-4002;

Nguyễn Thanh Tân, 714-631-3343;

Ô. Ba Định, 714-837-4857.

About these ads

Occasionally, some of your visitors may see an advertisement here.

Tell me more | Dismiss this message

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Biển Đông sẽ trở thành chiến trường ác liệt?

Biển Đông sẽ trở thành chiến trường ác liệt?

Cập nhật lúc: 11h08″  | 25/02/2015

(VnMedia) – Biển Đông được dự đoán sẽ trở thành chiến trường trong tương lai bởi khu vực này đang trở thành “miếng mồi ngon” mà nhiều nước thèm muốn, khát khao.

Ảnh minh hoạ

Biển Đông có chức năng như yết hầu của Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, là nơi tập trung của những hoạt động kết nối, liên kết kinh tế và của các tuyến đường biển toàn cầu.

Biển Đông là trung tâm của vành đai biển Âu-Á với xung quanh là các eo biển Malacca, Sunda, Lombok và Makassar. Hơn một nửa hàng hoá được chở bằng tàu thuyền của thế giới đi qua những tuyến đường biển hẹp nói trên và 1/3 các hoạt động giao thông đường biển đi lại của thế giới diễn ra ở nơi đây.

Dầu mỏ được vận chuyển qua Eo biển Malacca từ Ấn Độ Dương, trên đường tới Đông Á thông qua Biển Đông, gấp 3 lần số lượng dầu mỏ đi qua Eo biển Suez và gấp 15 lần số lượng dầu mỏ được chuyên chở qua Eo biển Panama.

80% nguồn nhập khẩu dầu mỏ của Nhật Bản và 39% nguồn nhập khẩu dầu mỏ của Trung Quốc đi qua Ấn Độ Dương trên đường từ Trung Đông. Các công ty Trung Quốc cũng có hàng tỉ USD đầu tư vào Đông Phi, tập trung chủ yếu vào dầu mỏ, khí đốt, đường sắt, đường bộ và các ngành khai thác mỏ.

Gần 2/3 nguồn cung cấp năng lượng cho Hàn Quốc, gần 60% nguồn cung cấp năng lượng cho Nhật Bản, Vùng lãnh thổ Đài Loan và 80% nguồn nhập khẩu dầu thô của Trung Quốc đi qua Biển Đông. Trong khi ở vùng vịnh Persian, chỉ có năng lượng được vận chuyển qua nơi này thì ở Biển Đông hàng hoá chuyển qua khu vực biển chiến lược này có cả năng lượng và nhiều loại hàng hoá khác.

Ngoài vị trí trung tâm mang tính chiến lược, Biển Đông còn được chứng minh là chứa đứng nguồn dự trữ dầu mỏ lên tới 7 tỉ thùng và ước tính có đến 900 nghìn tỉ mét khối khí đốt.

Nếu những tính toàn của Trung Quốc là chính xác thì Biển Đông có thể đem lại con số lên tới 130 tỉ thùng dầu (tuy nhiên có những hoài nghi lớn về ước tính này. Biển Đông được cho là chứa đựng nhiều dầu mỏ hơn bất kỳ khu vực nào trên thế giới ngoại trừ Ả-rập Xê-út. Một số nhà quan sát Trung Quốc còn gọi Biển Đông là “vùng Vịnh Persian thứ hai”.

Nếu có nhiều dầu mỏ như vậy ở Biển Đông thì Trung Quốc sẽ phần nào giảm được “tình trạng tiến thoái lưỡng nan Malacca” — sự phụ thuộc của nước này vào Eo biển hẹp và dễ tổn thương Malacca do phần lớn nhu cầu năng lượng của Trung Quốc đến từ Trung Đông.

Và Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc đã đầu tư 20 tỉ USD vì tin rằng Biển Đông chứa đứng số lượng dầu mỏ thực sự lớn như vậy. Trung Quốc đang vô cùng khát khao năng lượng mới. Nguồn dự trữ dầu mỏ của Trung Quốc hiện chỉ chiếm có 1,1% tổng dự trữ thế giới trong khi nước đông dân nhất thế giới tiêu thụ tới hơn 10% tổng sản xuất dầu mỏ trên thế giới và hơn 20% tất cả nguồn năng lượng được tiêu thụ trên hành tinh.

Không chỉ vị trí địa lý và nguồn dữ trự năng lượng giúp Biển Đông có tầm quan trọng về mặt địa chiến lược mà cả các cuộc tranh chấp lãnh thổ xung quanh những vùng nước – nơi có hơn 200 đảo lớn nhỏ, bãi đá và bãi san hô. Chỉ khoảng hơn 30 đảo và bãi đá này thường xuyên nổi trên mặt nước.

Biển Đông đang là nơi chứng kiến những cuộc tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải gay gắt giữa Trung Quốc với 4 quốc gia Đông Nam Á gồm Philippines, Việt Nam, Brunei, Malaysia, và Vùng lãnh thổ Đài Loan. Biển Đông là một trong những vùng biển quan trọng nhất thế giới bởi nó chứa các tuyến đường vận chuyển sống còn. Đồng thời Biển Đông còn được cho là chứa đựng một trữ lượng tài nguyên thiên nhiên hấp dẫn. Chính vì thế, Trung Quốc có tham vọng độc chiếm Biển Đông. Đây là điều mà không chỉ các nước trong khu vực mà rất nhiều cường quốc và cộng đồng thế giới kịch liệt phản đối.

Vào giữa năm 2010 một “trận sóng gió khuấy đảo Biển Đông” đã diễn ra khi Trung Quốc tuyên bố Biển Đông thuộc “lợi ích cốt lõi” của họ.

Tham vọng của Trung Quốc khiến các nước trong khu vực bất bình, lo ngại. Một số đã dựa vào Mỹ và tìm thêm đồng minh để có được sự trợ giúp về ngoại giao, quân sự nhằm đối phó với Trung Quốc.

Việc Trung Quốc quyết liệt đòi hỏi chủ quyền một cách thái quá ở Biển Đông và quyết liệt hành động để đạt được mục đích đã đẩy căng thẳng trong khu vực lên cao.

Các nước có tranh chấp ở Biển Đông cũng nhất quyết không chịu khoan nhượng, nhất quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích của họ ở Biển Đông.

Kết quả là những hoạt động quân sự đã được tăng cường mạnh mẽ ở Biển Đông trong vài năm trở lại đây. Và người ta đã chứng kiến không ít những vụ va chạm, đụng độ giữa tàu thuyền các nước. Các vụ phô trương sức mạnh quân sự, tập trận răn đe, thị uy lẫn nhau cũng gia tăng.

Sự can thiệp của một loạt nước lớn cũng khiến tình hình Biển Đông thêm nóng bỏng và làm gia tăng nguy cơ bùng phát xung đột. Mỹ, Anh, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga… đều cho thấy họ có lợi ích ở khu vực biển này và vì thế sẵn sàng can thiệp vào để bảo vệ lợi ích của họ.

Nếu các bên không kiểm soát được tình hình, không kiềm chế tham vọng và hành động, Biển Đông rất dễ trở thành một chiến trường và một khi nó đã trở thành chiến trường thực sự thì đó chắc chắn sẽ là một chiến trường ác liệt và bùng nổ.(tổng hợp)Kiệt Linh  

Tags: Biển Đông, tranh chấp, lãnh thổ, lãnh hải, Trung Quốc, láng giềng, các cường quốc,chiến trường, tranh giành, mồi ngon, lợi ích, dầu mỏ, vị trí địa lý, chiến lược,

  • print
  • email
Categories: Uncategorized | Leave a comment

Trục Hà Nội-Manila đối phó TQ?

Trang Đầu » Biển Đông

Trục Hà Nội-Manila đối phó TQ?

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hội kiến Tổng thống Benigno Aquino ở Manila

Việt Nam và Philippines đang tiến gần đến việc thành lập một liên minh để đối phó với tham vọng của Trung Quốc trên Biển Đông, một nhà nghiên cứu về chính sách đối ngoại tại Viện Doanh nghiệp Mỹ nhận định.

Trước đó, Việt Nam và Philippines, hai nước lên tiếng phê phán mạnh mẽ nhất tham vọng của Trung Quốc trên Biển Đông, đã đàm phán thiết lập mối quan hệ đối tác chiến lược, hãng tin AFP dẫn lời ông Charles Jose, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Philippines, nói hôm thứ Ba ngày 3/2.

Mặc dù không trực tiếp nêu tên Trung Quốc, ông Jose cho biết các cuộc đàm phán giữa Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario và người đồng cấp Việt Nam Phạm Bình Minh đã tập trung vào các mối quan tâm chung giữa hai nước, nhất là vấn đề tranh chấp trên Biển Đông.

Ông cũng cho rằng vấn đề tranh chấp Biển Đông là ‘động lực thúc đẩy’ hai nước đi đến quan hệ đối tác chiến lược và cho biết ‘an ninh và quốc phòng’ cũng nằm trong mối quan hệ đối tác chiến lược này bên cạnh các vấn đề kinh tế và thương mại.

‘Made in China’

Trên trang mạng của tạp chí The National Interest, tác giả Michael Mazza, một nhà nghiên cứu về chính sách đối ngoại và ngoại giao tại Viện Nghiên cứu Doanh nghiệp của Mỹ, gọi mối quan hệ đối tác chiến lược này là ‘trục do Trung Quốc tạo ra (made-in-China axis)’.

“Trung Quốc đã đẩy các nước láng giềng của họ lại gần nhau và đẩy các nước này vào vòng tay của Hoa Kỳ,” bài báo viết.

Theo ông Mazza, hai nước đối thủ (Hà Nội và Manila vốn cũng có tranh chấp với quần đảo Trường Sa trên Biển Đông) đã vượt hơn mức tình đoàn kết biểu tượng – thi đấu thể thao giao hữu trên đảo tranh chấp – để tiến tới hợp tác thực chất, trong đó có tập trận hải quân và tuần tra chung.

Việc Trung Quốc xây dựng trên Biển Đông làm cho cả Manila và Hà Nội lo ngại

“Cả Việt Nam và Philippines đã nhận ra rằng Trung Quốc là mối đe dọa nguy hiểm đối với họ hơn là giữa họ đối với nhau,” bài báo viết.

Tác giả Mazza nhận định rằng Bắc Kinh đã ‘gieo nhân nào gặt quả đó’ sau khi họ ‘chiếm lãnh thổ của Philippines, đưa giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và có nhiều hành động khiêu khích trong những năm qua’.

Theo ông thì nếu Việt Nam và Philippines theo đuổi mối quan hệ đối tác chiến lược này và hợp tác an ninh chặt chẽ bất chấp tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, điều đó có nghĩa là hai nước đã đưa vấn đề tranh chấp lãnh thổ của mình xuống hàng thứ yếu và điều này sẽ là vấn đề khó chịu đối với Trung Quốc.

“Tại sao điều này khiến Trung Quốc lo nghĩ? Thứ nhất, nó cho các nước có tranh chấp khác trên Biển Đông thấy rằng họ có thể đạt được thỏa thuận. Nó cũng cho mọi người thấy rõ rằng Bắc Kinh đã chọn con đường cưỡng ép thay vì hợp tác và do đó sẽ càng làm cho mối quan hệ ngoại giao giữa Bắc Kinh và Asean thêm căng thẳng,” ông Mazza viết.

“Thứ hai, một liên minh Việt Nam – Philippines có thể sẽ ngăn trở sự tự do hành động của Bắc Kinh trên Biển Đông. Bước kế tiếp có thể sẽ là Manila và Hà Nội bắt đầu chia sẻ thông tin do thám và theo dõi trên biển để họ có thể chuẩn bị tốt hơn trong trường hợp Bắc Kinh khiêu khích. Do đó, họ sẽ khiến Bắc Kinh mất đi yếu tố bất ngờ trong các hành động khiêu khích.”

Liên minh nhiều nước?

Việt Nam và Philippines sẽ gạt bỏ tranh chấp trên quần đảo Trường Sa?

“Mối quan hệ đối tác chiến lược này sẽ mở cánh cửa cho các nỗ lực đa phương nhằm cân bằng Trung Quốc. Sẽ không lâu nữa Mỹ, vốn là đồng minh của Manila và đang phát triển quan hệ an ninh với Hà Nội, sẽ tham gia cùng Philippines và Việt Nam trong các cuộc tập trận hải quân ba bên. Nhật Bản cũng sẽ tăng cường quan hệ an ninh với hai quốc gia đông nam Á này. Nhật và Mỹ cũng đang xây dựng quan hệ quốc phòng với Ấn Độ – quốc gia đang huấn luyện thủy thủ tàu ngầm cho Việt Nam và có thỏa thuận khai thác dầu khí với Việt Nam trên vùng biển tranh chấp với Trung Quốc,” ông nhận định.

Philippines đã có quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ và Nhật trong khi Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược với Nhật và đang tiến tới khuôn khổ quan hệ này với Mỹ.

Hồi tháng trước, Ngoại trưởng Alberto del Rosario nói ông sẽ cảnh báo các nước Asean khác, trong đó có Việt Nam, Brunei và Malaysia, rằng các động thái của Trung Quốc trong khu vực sẽ là ‘mối đe dọa đối với tất cả họ’.

Sau đó, Tân Hoa Xã đã lên tiếng so sánh Manila như một đứa trẻ ‘khóc toáng lên’ để kêu gọi sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế chống lại hành động của Trung Quốc.

Hải quân hai nước đã giao lưu trên một hòn đảo tranh chấp

Bài báo của Michael Mazza đã thu hút được nhiều bình luận trên The National Interest.

“Trước năm 1975, Nam Việt Nam giàu có hơn Thái Lan và Nam Hàn cho đến khi Cộng sản tiến vào. Với những thay đổi đang diễn ra ở Việt Nam và cuối cùng là nền dân chủ thì Việt Nam sẽ vươn lên. Trung Quốc rất ngại về một nước Việt Nam hùng mạnh vốn sẽ thách thức Trung Quốc về mặt quân sự,” một người có tên là Mike JeffAshe viết.

“Không ghét bỏ gì người Trung Quốc ở đây cả nhưng có vẻ như nước này đang có những việc làm phản tác dụng trên biển. Cướp đoạt đảo và đưa ra những đòi hỏi chủ quyền không có cơ sở làm cho người ta nổi giận. Trung Quốc nghĩa rằng Mỹ sẽ không giúp Đài Loan, Philippines hay Việt Nam nhưng đã gần ba năm kể từ khi Mỹ phát động một cuộc chiến và Lầu Năm Góc đang sôi lên đấy,” Crom! viết.

“Philippines còn lâu mới là một cường quốc quân sự thật sự. Thật là khôi hài khi gọi đây là một trục. Nên gọi Philippines là một đứa trẻ con mà Việt Nam dắt theo. Người Việt Nam đã lấy đảo Pugad từ tay họ. Có lẽ họ đã quên rồi,” Fre Okin viết.

Còn Michael Kinney bình luận: “Đừng tin tưởng người Mỹ sẽ nhảy vào một cuộc xung đột quân sự toàn diện với Trung Quốc. Mọi thứ trong các cửa hàng của chúng ta đều do Trung Quốc sản xuất. Hiện tại không có nước nào trên thế giới có đủ tiền để giúp chúng ta.

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Công nương Diana bị ám sát vì mang thai?

Công nương Diana bị ám sát vì mang thai? Xác của bà được bí mật ướp để che đậy sự thật?
Công nương Diana bị ám sát vì mang thai? Đó là câu hỏi được nhiều người đặt ra sau khi một vở kịch về bà được công chiếu ở thủ đô London, Anh, mang tên West End với chủ đề Truth, Lies, Diana tạm dịch là Diana – sự thật và dối trá, đang gây bão tại Anh.
Ngoài việc nêu ra những chứng cứ gây sốc về cái chết của Công nương Diana, vở kịch này còn khẳng định rằng, chính James Hewitt, một trong nhiều người tình của Công nương xứ Wales, mới thực chất là cha ruột của Hoàng tử Harry, chứ không phải Thái tử Charles như nhiều người lầm tưởng.
Thong tin moi gay soc ve cai chet cua Cong nuong Diana
James Hewitt thật ngoài đời (trái) và Fred Perry (phải), người đóng vai ông trong vở kịch Truth, Lies, Diana

Theo đó, vở kịch này có nội dụng và ý tưởng lấy trực tiếp từ “How They Murdered Princess Diana – Họ ám sát Công nương Diana bằng cách nào”, cuốn sách mới được xuất bản của nhà văn John Morgan, người đã mài công xem xét hơn 7000 trang tài liệu, báo cáo của cảnh sát, và những hồ sơ y tế về cái chết của bà năm 1997, cùng với bạn trai khi đó là Dodi Fayed.

Thực hư ra sao?
“Để kiểm tra độ chính xác và thực tế của vở kịch cũng như những cáo buộc trong cuốn sách của John Morgan, chính tôi đã đích thân điều tra sự kiện này bằng việc phỏng vấn những nhân chứng sống, từ phía cảnh sát Anh đến Pháp, bạn bè của cả Công nương và Dodi, thậm chí là những bác sĩ tại Pháp, những người đã cố gắng cứu bà sáng hôm đó”, Sue Ried, phóng viên của tờ Dailymail viết.
Mặc dù cái chết của Công nương Diana và bạn trai Dodi Fayed, một người theo Hồi giáo, được các quan chức và tòa án tuyên bố chỉ là một vụ tai nạn thương tâm do Henri Paul, là người tài xế đã mất kiểm soát khi lái xe ở tốc độ cao trong tình trạng say rượu.
Nhưng giống Michael Jackson, cái chết của Công nương Diana được cho là bị ám sát và hiện vẫn còn quá nhiều bí ẩn với việc hàng loạt những cáo buộc Hoàng gia Anh cố tình che đậy sự thật và rằng chính họ là những kẻ đã âm mưu việc này và rằng Công nương Diana khi ấy thực sự đang mang thai.
Công nương Diana bị ám sát vì mang thai?
Trong vở kịch, Mohamed Al-Fayed, tỷ phú người Ai Cập và cha của Dodi Fayed nói rằng: “Bọn chúng đang chuẩn bị đính hôn để làm đám cưới vì Diana lúc đó đang mang thai. Nhưng vì họ không muốn một người Ả Rập làm vua nước Anh nên đã ám sát cả hai”.
Được biết, tại các cuộc điều tra về cái chết của bà, gia đình của Dodi đã tuyên bố rằng, ông thực tế đã mua một căn biệt thự ven biển từng thuộc sở hữu của nữ tài tử Julie Andrews, ở Malibu, California – để cả ông và Công nương Diana có thể sống sau khi kết hôn.
Thong tin moi gay soc ve cai chet cua Cong nuong Diana-Hinh-2
 Công nương Diana bị ám sát vì mang thai?

Bên cạnh đó, là bức hình chụp ở St. Tropez, Pháp vào tháng 7.1997 chỉ 1 tháng trước khi bà chết tại đường hầm Pont d’Alma ở thủ đô Paris khi đi từ khách sạn Ritz đến nhà riêng của Dodi gần đại lộ Champs-Elysees.

Trong hình, chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng bụng của Công nương đã thực sự lớn lên rất nhiều và từ đó, tin đồn việc Diana chết khi đang mang thai dấy lên cho đến nay. Sự việc này một lần nữa được khơi lại vào năm 2003, khi một nhà điều tra Pháp khẳng định công nương Diana đang mang thai khi chết, theo công bố của báo Independent.
Trong khi đó, cha của Dodi là Mohammed Fayed, lúc đó đang là chủ nhân cửa hàng Harrods lớn nhất London, đã nhiều lần khẳng định Công nương Diana mang thai đứa cháu nội của ông khi bị nạn và đây cũng là một trong những nguyên nhân mà ông nhiều lần kêu gọi tiến hành những cuộc điều tra công khai về tai nạn ô tô này. Theo ông, cả hai đã bị sát hại có chủ tâm.
Xác của Công nương được bí mật ướp để che đậy sự thật?
Có một thực tế không phải ai cũng biết, nhưng đã được nhắc đến trong vở kịch, đó là việc xác của Công nương Diana sau khi được tuyên bố tử tại bệnh viện ở Pháp đã được bí mật ướp bằng công nghệ hóa học formaldehyde (Điều này không được thực hiện với Dodi).
Theo đó, vì Diana là một công dân Anh nên không có bất kỳ một cuộc khám nghiệm tử thi được phép thực hiện tại Pháp, cho đến khi nào xác bà được mang về Anh.
Nhưng một nữ bác sĩ tại bệnh viện đã cố tình tiêm vào xác bà một loại chất hóa học có tên formaldehyde vào lúc 2 giờ trưa, 3 tiếng trước khi Thái tử Charles và các thành viên Hoàng gia tới nhận xác.
Thong tin moi gay soc ve cai chet cua Cong nuong Diana-Hinh-3
  Một cảnh trong vở kịch Truth, Lies, Diana.

Theo luật ở Pháp, sẽ là bất hợp pháp khi cố tình ướp xác trước khi khám nghiệm tử thi được thực hiện, nhất là với chất formaldehyde, vì nó sẽ phi tang tất cả mọi chứng cứ mà cái xác có thể có.

Một tác dụng phụ mà chất này gây ra đó là việc luôn cho kết quả dương tính với thai nhi. Theo đó, các bác sĩ sẽ tự động bác bỏ mọi cáo buộc rằng Công nương Diana đang thực sự mang thai.
Ngoài ra, để việc ướp xác là hợp lệ và được thực hiện, phải có sự đồng ý của người thân gia đình, do đó, nhiều người đã suy ra việc Công nương Diana bị ám sát bởi Hoàng gia Anh, vì cho đến nay, vẫn chưa có báo cáo chính thức nào về việc ai là người đã ra lệnh cho bệnh viện Pháp ướp xác.
Không chỉ một lần, xác của Công nương Diana được ướp đến 2 lần vào tối hôm đó sau khi xác bà đã được khám nghiệm tử thi tại nhà xác Fulham ở Anh. Theo đó, bạn có thể khẳng định rằng đây là động thái của Hoàng gia Anh nhằm đảm bảo việc phi tang hoàn toàn những chứng cứ việc bà đang mang thai với bạn trai Dodi.
Một tuyên bố còn quái lạ hơn tại tòa năm 1999, đó kết quả khám nghiệm tử thi không cho thấy bất kỳ chất hóa học nào trong cơ thể của Công nương, và thậm chí là cũng không có nồng độ cồn trong máu, mặc dù theo lời khẳng định của Robert Thompson, giám đốc của nhà xác Fulham rằng dạ dày của bà nồng nặc mùi rượu.
Nhiều nhân chứng bên Pháp cũng chia sẻ rằng họ thấy Công nương và Dodi uống rượu champagne với nhau tại khách sạn Ritz, trước khi leo lên chiếc Mercedes đến cái chết.
Trên thực tế, những cáo buộc này đã được khui đi khui lại rất nhiều lần từ năm 1997 đến nay, nhưng bộ máy quyền lực của Hoàng gia Anh vẫn đang chiến thắng trong cuộc chiến che đậy sự thật đằng sau cái chết này bằng cách liên tục phủ nhận, công bố những tài liệu giả mạo, và mua chuộc nhân chứng, bác sĩ…
Theo Một Thế Giới

 

Categories: Uncategorized | Leave a comment

ảnh phong cảnh vào chung kết

ảnh phong cảnh vào chung  kết

 “Quê ngoại” – Thành Vương

Tác giả chia sẻ: “Quê tôi là một vùng chiêm trũng. Khi mùa gặt xong, bà con thu gom rơm rạ xây thành từng ụ. Đấy là một cách dự trữ thức ăn cho trâu bò khi lũ lụt về và mùa đông đến mà không phải đốt gây ô nhiễm môi trường”.
 

 “Đình Gò Táo” – Nguyễn Dũng

Bức ảnh chụp một ngôi đình cổ ở xã Tân Đông, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
 
 

“Mùa thu thác Bản Giốc” – Võ Hoàng Vũ
Tác phẩm được chụp nhân chuyến đi đầu tiên của tác giả, người Đà Nẵng, tới Cao Bằng. “Bức ảnh được chụp tại tầng trên cùng của thác, khi những vạt nắng chiều vàng óng nhuộm lên những mảng cây trên thác. Đó là thời khắc tuyệt vời nhất của mùa thu, khoảnh khắc tuyệt vời và may mắn đối với tôi. Tôi muốn thể hiện sự mềm mại của dòng thác, dịu êm của sắc thu nhưng vẫn lấy hết ngọn núi để thể hiện sự vững chãi và chắc chắn, âm dương hòa hợp”.
Ghi chú : Thác chỉ còn lại phần nhỏ thuộc VN (Hình 1)- Phần lớn và đẹp nhất đã thuộc về TQ (Hình 2 )( quản lý chung ?!,hổng dám đâu!!!)

Hình 1 : Phần VN

Hình 2 : Phần TQ
 
 

 “Nhà thờ Đức Bà nhìn từ trên cao” – Huỳnh Thu

Bức ảnh chụp mặt trước Nhà thờ Đức Bà,Saigon.
 
 
 

 “Sài Gòn bừng sáng” – Y Ho Nhu

“Bức ảnh được chụp từ tầng 40 của một tòa nhà đang xây dựng, sử dụng len fisheye kết hợp với độ cao tạo ra hiệu ứng hình cầu. Chủ thể bức ảnh này là ánh đèn bừng sáng từ Đại lộ Đông Tây – một con đường đẹp uốn lượn dọc theo bến Chương Dương – đây cũng là một trong những điểm nhấn của Sài Gòn“.
 
 
 

 “Vòng vo Sài Gòn” – Dương Hoàng Đăng

Bức ảnh được tác giả chụp vào một buổi chiều nhá nhem tối tại sân thượng của chung cư Cao Đạt (Q5, Sài Gòn). “Ở góc chụp từ trên cao xuống, tôi đã cố gắng zoom ống kính để đặc tả hình ảnh đại lộ Võ Văn Kiệt lên đèn đang ôm lấy kênh Tàu Hủ uốn lượn hình chữ S”.
 
 

“Suối Yến mùa thu” – Hoàng Thị Thu Đông
“Suối Yến nằm trong khu di tích thắng cảnh Chùa Hương, thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Trong một chuyến tham quan Suối Yến cùng những người bạn vào trung tuần tháng 9, tôi cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên ẩn trong không gian thanh bình tĩnh lặng. Cảnh sắc Hương Sơn bốn mùa đều đẹp, nhưng đẹp nhất có lẽ vẫn là vào mùa thu, mùa không lễ hội. Cả chiều dài dòng suối được phủ một sắc hồng tím của những bông hoa súng, còn hai bên bờ là những rặng cây tràm lơ thơ lá”, tác giả chia sẻ.
 

 “Cái cây ở hồ thủy điện Sông Hinh” – 

Huỳnh Lê Viễn Duy
“Hồ thủy điện Sông Hinh nằm ở huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên, cách TP Tuy Hòa khoảng 50 km về hướng Tây. Nơi đây có nhiều bãi cỏ xanh mướt, nhiều cảnh đẹp lãng mạn, một nơi lý tưởng để picnic, cắm trại qua đêm. Ngoài ra nơi đây có rất nhiều góc hình đẹp dành cho các nhiếp ảnh gia phong cảnh.
Trong hình là một cái cây đã chết khô, vào mùa mưa nước hồ lên cao, cây nằm giữa biển nước, tạo dáng rất đẹp. Tôi cùng một người bạn lên vị trí này với mục đích chụp dải ngân hà vào ban đêm nhưng không thể bỏ qua khoảnh khắc hoàng hôn đẹp mê hồn nơi đây”.
 

“Mùa no ấm” – Đinh Công Thủy
Bức ảnh được chụp tại thôn Khuổi My, xã Phương Độ, thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang, trong chuyến đi thực tế của tác giả ngày 25/9/2014.
 

“Thác Bản Giốc” – Nguyễn Văn Sơn
Bức ảnh được chụp trong một chuyến đi Cao Bằng của tác giả. “Trước khi đến thác Bản Giốc, tôi đã được xem ảnh và nghe một số người bạn kể về thắng cảnh này. Khi đến nơi, tôi thật sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp và sự hùng vĩ của thiên nhiên nơi đây”, tác giả chia sẻ.
 

 “Yên bình” – Nguyễn Anh Phương

Bức ảnh được thực hiện ngày 22/2/2014, trong một chuyến rong ruổi săn tìm nghệ thuật của tác giả trên cánh đồng quê. “Thời tiết đẹp, trời đứng gió, không thể bỏ lỡ cơ hội, tôi liên tục ghi lại khoảnh khắc cho riêng mình với nhiều góc độ khác nhau. Tôi cảm nhận từng khoảnh khắc đang dần chuyển mình thay đổi. Thật tĩnh lặng, thật bình yên, thật thoải mái”. 
 

“Sắc màu” – Cao Quang Trung
Bức ảnh được chụp trong chuyến đi dã ngoại kết hợp khảo sát du lịch của tác giả cùng mốt số đồng nghiệp ở tuyến Ba Bể – Thác Bà – Suối Giàng – Mù Cang Chải. Bức ảnh chụp ở Chế Cu Nha – một trong ba nơi ruộng bậc thang đẹp nhất Mù Cang Chải.
 

 “Hương lúa mới ngày mùa” – Trần Trung Hậu

“Đây là một khu ruộng bậc thang nằm gần một bản nhỏ trên vùng cao Bát Xát – Lào Cai. Các thửa ruộng tầng tầng lớp lớp như quấn vào nhau, ôm lấy bản làng. Khi mùa lúa chín, cả khu ruộng vàng rực bừng sáng dưới nắng chiều, giữa mầu xanh bát ngát của núi rừng tạo nên sự tương phản mạnh về màu sắc, ánh sáng”, tác giả chia sẻ.
 

“Phố núi lên đèn” – Vũ Ngọc Hoàng
Bức ảnh được chụp mùng 8 Tết Nhâm Thìn, trong chuyến đi một mình lên Sa Pa của tác giả. “Khi trời vừa nhá nhem, nền trời vẫn còn sáng, thị trấn đã bật đèn, đúng lúc đó mây về và tôi bấm máy được kiểu ảnh này”.
 

 “Vươn tới tầm cao” – Nguyễn Thanh Vân

“Gần hết thời gian nộp ảnh dự thi, tôi nhận thấy chưa có cảnh biểu trưng TP HCM – đô thị hiện đại, ngày một tiến nhanh trên đường hội nhập. Tôi nghĩ ra còn góc nơi trung tâm tài chính của thành phố tôi chưa chụp, thế là rủ người bạn cùng lên cao ốc MC để chụp”, tác giả chia sẻ.
 
 

 “Bình minh Mỹ Khê” – Hoàng Nam Dương

Bức ảnh được tác giả chụp trong một chuyến đi du lịch với gia đình tại Đà Nẵng. “Tôi đã cố gắng dậy thật sớm để đón được những khoảnh khắc đầu tiên của một ngày mới trên bãi biển Mỹ Khê. Tôi cảm nhận được một vẻ đẹp rất lộng lẫy nhưng cũng rất đỗi bình yên”.
 

 “Xuôi dòng” – Nguyễn Hoàng Thanh

Tác giả cho biết, ảnh được chụp tại Bích Động ngày 11/3/2013 với Canon 5d2 24-105. ISO 100 – 105mm – F6.3 – 1/160.
 
 

“Xuân về cao nguyên đá” – Trần Anh Tuấn
Tác giả chia sẻ: “Bức ảnh được ghi lại trong chuyến đi sáng tác đầu năm tại Cao nguyên đá Đồng Văn, Hà Giang. Ảnh này được chụp khi tôi đến gần Đồng Văn, các cháu bé khi thấy có người lạ đến chạy ùa lên để đón chào, hòa vào với những người phụ nữ, người đàn ông đi về bản. Khung cảnh đó lưu luyến mãi trong tôi”.
 

“Lập An soi bóng” – Nguyễn Xuân Duy
“Bức ảnh Lập An soi bóng được chụp trong một buổi sáng mùa thu đầy nắng. Tôi cùng nhóm bạn đam mê chụp phong cảnh phải đón chuyến xe sớm để di chuyển từ Đà Nẵng ra Huế. Sau khi chụp bình minh sáng đầm Lập An, cảnh sinh hoạt chợ giữa đầm, cảnh các em bé theo cha mẹ ra đầm lượm lặt cá vụn… nhóm chuẩn bị ra về. Bất chợt, tôi nhìn lại, những đám mây trên cao như ùa xuống ôm trọn dãy núi phía sau đầm, mặt nước trong xanh và tĩnh lặng hơn khi không còn khuấy động bởi các loại tàu cá của ngư dân, một chiếc thuyền nan nằm trơ trọi giữa đầm lọt vô khung hình làm tiền cảnh cho một không gian mênh mông của núi, của đầm phía sau. Tự nhiên thấy con người cũng nhỏ bé, lẻ loi trước vẻ hùng tráng kỳ vĩ của thiên nhiên…”.
 

 “Làng gốm Vĩnh Long” – Phạm Trí Nhân

Tác phẩm chụp tại làng gốm Nhơn Phú thuộc huyện Mang Thít, Vĩnh Long.
 
 

 “Thắng cảnh Gành Đá Đĩa” – Huỳnh Lê Viễn Duy

“Tôi về Phú Yên trúng vào đợt mưa bão, suốt một tuần lễ mưa gió, nhưng sáng nào tôi cũng chạy xe máy quãng đường 40km ra Gành Đá Đĩa để chụp ảnh. Suốt sáu ngày đi rồi về mà không chụp được gì vì thời tiết quá xấu, đến ngày thứ bảy, ngày cuối cùng ở Phú Yên, tôi vẫn quyết tâm đi lại nơi này. Hôm đó là ngày bão tan, khung cảnh nơi đây đã cho tôi một bình minh không thể tuyệt vời hơn. Thật tình cờ những đám mây trên trời cũng xếp hình vảy cá giống hình dạng của đá nơi đây, trong tích tắc tôi phát hiện mảng mây màu đỏ rất đẹp, tôi xếp những chiếu thúng đối xứng với đám mây và tạo thành một bức ảnh với nhiều thứ đối xứng nhau: Mây hình vảy cá đối xứng với Gành đá, thuyền thúng đối xứng với mảng mây màu đỏ”, tác giả chia sẻ.
 

 “Nghỉ ngơi” – Phạm Văn Tỵ

“Trong chuyến đi sáng tác ở biển Tân Thành, Gò Công, sau khi chụp no nê với một bình minh tuyệt đẹp, tôi quay lại thấy con thuyền của ngư dân nằm nghỉ ngơi trên bãi biển khi nước rút. Ánh sáng xiên chiếu vào thân tàu được buộc chặt vào sợi dây neo cùng những vân cát nhờ ánh sáng chiếu vào nổi bật cả tiền cảnh. Một cảm xúc thanh bình về cảnh vật quê hương mang lại cú bấm máy nhanh chóng và bức ảnh ra đời”.
 

 “Hà Nội mùa thu” – Đào Việt Hùng

Bức ảnh được thực hiện sáng 9/10/2014. “Nhân ngày được nghỉ làm, tôi dậy sớm lang thang các phố phường Hà Nội (…) Tôi dừng chân ở Hồ Gươm, nơi cảm nhận rõ ràng nhất những gì của mùa thu Hà Nội. Trong  không gian ấy, tôi bất chợt bắt gặp một khuôn hình quen thuộc nhưng hôm nay thật lạ, một tháp rùa thấp thoáng trong vòng ôm của cành phượng xanh, một cái gì đó mướt mát khác với những gì thường thấy như tháp rùa với những tán cây khô trụi lá hay sương giăng với hai màu đen trắng thường hay mang đến cảm xúc trầm lắng. Chút nắng sớm làm ánh lên chút vàng của nước, khiến tôi cảm nhận được một mùa thu đầy sức sống, mướt mát và mềm mại”, tác giả chia sẻ.
 

 “Phố cổ bên sông Lạch Tray” – Vu Dung Pham

Ảnh chụp phong cảnh một dãy nhà cổ bên sông Lạch Tray, Hải Phòng.
 
 

“Chiều muộn” – Nguyễn Ngọc Quỳnh
“Tấm hình chụp tại Ba Sao, Hà Nam, gần thành phố Phủ Lý trong một buổi chiều muộn đầy cảm xúc. Nơi đây thắng cảnh hữu tình, buổi chiều đầy sương giăng làm khung cảnh trở nên mờ mờ ảo ảo. Trên mặt nước có một thân cây lâu năm đang bị ngập, nó đã bị chết khô vì nước lũ về, nhưng vẫn đứng sừng sững và người đánh cá với ngọn đèn leo lét lặng lẽ giăng lưới trên mặt nước. Tất cả đã tạo cho tôi một cảm xúc thật khó tả. Tôi đã bấm máy hoàn thành tác phẩm này”, tác giả kể.
 

“Một góc biển Cổ Thạch” – Lê Xuân Thoại
Ảnh được chụp tại biển Cổ Thạch, Bình Thuận.
 

 “Thiên đình Hoàng Su Phì” – Nguyễn Minh Tân

“Tác phẩm được thực hiện khi cơn bão số 3 (Kalmaegi) vừa đi qua miền Bắc để lại bầu không khí lạnh, mây sương kéo dài bao trùm toàn khu vực miền núi. Một chuyến săn ảnh mùa vàng kéo dài hơn 10 ngày đã đưa tôi đến những vùng đất thiêng liêng của Tổ Quốc. Cả buổi chiều rong ruổi trên những con đường đèo và tôi quyết định dừng chân nơi đây chờ cơ hội, hy vọng một tia nắng mong manh… Và rồi ông trời đã ban thưởng cho tôi một tia nắng hoàng hôn tuyệt đẹp. Mọi thứ đã làm nên cảnh thần tiên hùng vĩ y như thiên đình hạ giới khiến tôi đặt tên cho tác phẩm là Thiên đình Hoàng Su Phì“.
 

  “Ngày bình yên” – Trần Thành Quyết

“Ảnh được chụp tại hồ Đại Ninh, thuộc huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Lúc này cảnh vật đã vào cuối thu, mặt trời lên muộn, sương giăng mờ ảo khắp mặt hồ. Những cành khô đã chết nổi lên, soi bóng trên mặt nước phẳng lặng. Đây đó vài ngư dân qua lại với chiếc xuồng giăng lưới nho nhỏ. Tất cả gợi lên một khung cảnh thật chậm rãi, yên bình”, tác giả cho biết.
 

 “Sương sớm trên hồ Đa Mi” – Nguyễn Văn Thương

Bức ảnh ghi lại cảnh thanh bình như bức tranh thuỷ mặc, vừa nhẹ nhàng, nên thơ, vừa hoang sơ của hồ Đa Mi, Bình Thuận trong sương sớm.
 

 “Non nước hữu tình” – Đỗ Tuyết Trinh

Bức ảnh được thực hiện cuối tháng 5 năm nay, trong chuyến thăm Tam Cốc – Bích Động với quyết tâm chinh phục góc chụp đẹp nhất và khó chụp nhất. Tác giả đã phải đi thuyền, lội qua nhiều thửa ruộng, con mương để tới cửa hang, sau đó bám vách đá vừa trơn, vừa nhọn để leo lên điểm cao nhất của quả núi. Tại đây, tác giả bắt gặp “vẻ đẹp vừa nên thơ vừa hùng vĩ của con sông Ngô Đồng, uốn lượn như dải lụa mềm giữa những thửa ruộng đang bắt đầu vào vụ gặt. Những dãy núi đá vôi nhấp nhô hai bên như bức thành đồng che chắn cho những thửa ruộng và dòng sông hiền hòa đón đưa những chiếc thuyền của du khách ghé thăm”.
 
Cuộc thi Ảnh Nghệ thuật VnExpress 2014, do báo VnExpress phối hợp với Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch tổ chức, nhận tác phẩm dự thi từ 28/8 đến 27/10. Sau tám tuần, cuộc thi thu hút gần 39.000 tác phẩm từ hơn 10.000 tác giả tham dự. Trong đó, hơn 1.100 bức ảnh vượt qua vòng sơ loại, được đăng tải trên website http://photo.vnexpress.net/. Sau khi công bố danh sách tác phẩm vòng chung kết. Ban tổ chức sẽ tiếp tục làm việc để chọn ra 2 giải nhất, 2 giải nhì, 2 giải ba và 8 giải khuyến khích (chia đều cho hai thể loại) với tổng giá trị giải thưởng lên đến 500 triệu đồng. Lễ trao giải sẽ diễn ra vào 26/11 tại TP HCM.
Cuộc thi có sự tài trợ của Công ty du lịch TransViet Travel, Công ty Schmidt Marketing, Hệ thống đặt phòng trực tuyến iVIVU.com.
 SongNgu
Categories: Uncategorized | Leave a comment

Mỹ phản đối án tù ở Đồng Tháp

Mỹ phản đối án tù ở Đồng Tháp

Bà Bùi Minh Hằng trong một lần biểu tình chống Trung Quốc

Hoa Kỳ nói “đáng báo động” khi tòa án Việt Nam “sử dụng các điều luật về trật tự công cộng để bỏ tù những người chỉ trích chính phủ”.

Phiên tòa sơ thẩm của tòa án ở tỉnh Đồng Tháp kết án ba năm tù giam với bà Bùi Thị Minh Hằng.

Ông Nguyễn Văn Minh bị kết án 2,5 năm tù giam và bà Nguyễn Thị Thúy Quỳnh 2 năm tù giam.

Báo Đồng Tháp nói họ “gây rối trật tự công cộng”, bị truy tố theo Điều 245, Bộ Luật hình sự.

Tuyên bố của Sứ quán Mỹ ở Hà Nội nói họ “quan ngại sâu sắc”.

“Việc các cơ quan chức năng Việt Nam sử dụng các điều luật về trật tự công cộng để bỏ tù những người chỉ trích chính phủ vì họ bày tỏ quan điểm chính trị một các ôn hoà là điều đáng báo động.”

Sứ quán Mỹ nói: “Việc kết án này dường như không phù hợp với quyền tự do ngôn luận và những nghĩa vụ của Việt Nam theo Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị cũng như các cam kết thể hiện trong Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế.”

Tuyên bố viết tiếp: “Chúng tôi kêu gọi chính phủ hãy thả vô điều kiện ba cá nhân này, cũng như các tù nhân lương tâm khác, và cho phép mọi người Việt Nam bày tỏ quan điểm chính trị của họ.”

Trong khi đó, tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW), trụ sở ở Mỹ, cho rằng đây là các cáo buộc “hình sự nhưng có nguyên do chính trị”.

“Chính quyền Việt Nam giờ đây đã dùng tới cả lỗi giao thông ngụy tạo để truy tố hình sự các nhà hoạt động,”ông Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách Châu Á của HRW tuyên bố.

‘Bắt giữ, đánh đập’

Cùng ngày 26/8 khi diễn ra phiên xử, các trang mạng xã hội đưa thông tin rằng nhiều người ủng hộ các bị cáo đã bị tạm giữ, hay đánh đập.

Trang mạng Dân Làm Báo nói một người, Nguyễn Ngọc Lụa, bị công an “đánh đổ máu, hiện đã ngất xỉu và phải đưa đi cấp cứu”.

Trong khi đó, trang Dòng Chúa Cứu thế nói “từ ngày 23/8, nhiều nhà hoạt động xã hội từ Bắc chí Nam đã bị công an, an ninh mật vụ theo dõi, cấm cửa, cấm đường đi đến Đồng Tháp”.

Bà Bùi Thị Minh Hằng cùng ông Nguyễn Văn Minh và bà Nguyễn Thị Thuý Quỳnh bị bắt vào ngày 11/2/2014 khi đang trên đường thăm gia đình vợ chồng cựu tù nhân chính trị Nguyễn Bắc Truyển.

Hồi tháng Hai, anh Trần Bùi Trung, con trai bà Hằng, nói với BBC bà bị bắt sáng ngày 11/2 khi đang đường đi tới nhà ông Nguyễn Bắc Truyển, một tù nhân lương tâm vừa được trả tự do hồi đầu năm, tại huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

“Lúc đi cùng với mẹ tôi còn có 20 người khác … trên đường đi thì bị một lực lượng lớn công an huyện Lấp Vò chặn lại và dùng dùi cui đánh đập cả đoàn, cướp giật tài sản, máy móc rồi dẫn cả đoàn về giam tại công an huyện Lấp Vò,” anh Trung nói.

Anh Trung hiện đang có mặt ở Hoa Kỳ để vận động trả tự do cho bà Hằng.

‘Ngăn cản dự phiên tòa’

Trả lời BBC ngày 26/8, blogger Nguyễn Tường Thụy, một trong những người đến tham dự phiên tòa, nói lực lượng an ninh đã “phong tỏa hai đầu đường dẫn vào tòa”.

“Chúng tôi chỉ có thể đứng bên ngoài”, ông nói.

“Sau đó họ đuổi chúng tôi nhưng không được nên mang xe đến bắt chúng tôi đưa đi”.

Ông Thụy cho biết ông cùng với hơn 20 người khác đã bị bắt đưa đến đồn công an Mỹ Phú, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp và nói một số người đã bị đưa đi nơi khác.

Nhiều blogger khác cũng phản ánh trên trang cá nhân rằng bị ngăn cản đến tham dự phiên tòa.

Theo thông tin từ blogger JB Nguyễn Hữu Vinh, tổng số người đến dự phiên tòa bị bắt đưa đi là hơn 50 người.

‘Cáo buộc ngụy tạo’

Trong thông cáo ngày 25/6, một ngày trước phiên xử, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) đã kêu gọi trả tự do ngay vô điều kiện cho bà Hằng và các nhà hoạt động khác.

“Chính phủ Việt Nam đang dùng những cáo buộc ngụy tạo về việc gây cản trở giao thông để truy tố các nhà hoạt động,” thông cáo dẫn lời ông Phil Robertson, Phó giám đốc châu Á của HRW, nói.

“Nhà cầm quyền Việt Nam nên nhận ra rằng vụ việc lần này không đáng nhận sự chỉ trích từ quốc tế và cần hủy những cáo buộc này ngay lập tức.”

“Chính quyền càng cố gắng buộc Bùi Thị Minh Hằng phải im lặng bao nhiêu, tiếng nói của bà trong cuộc đấu tranh cho các quyền cơ bản và các quyền tự do ngày càng trở nên lớn hơn.”

“Chính quyền nên bắt đầu lắng nghe ý kiến từ bà và các nhà hoạt động khác thay vì giam giữ họ sau song sắt.”

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Các quan chức tỉnh Đồng Tháp nói gì trước phiên xử chị Bùi Thị Minh Hằng?

Các quan chức tỉnh Đồng Tháp nói gì trước

phiên xử chị Bùi Thị Minh Hằng?

Huỳnh Bá Hải (Danlambao) – Thật là khó khăn chúng tôi mới tìm được cách liên hệ với các quan chức của tỉnh Đồng Tháp để tìm hiểu về phiên tòa “gây rối trật tự công cộng” vào ngày 26.8.2014 sắp đến tại Tòa án tỉnh Đồng Tháp.
Ông Lê Thành Công hiện đang là Phó chủ tịch HĐND tỉnh Đồng Tháp có số máy di động là 0913 96 79 40 cho hay là ông không biết gì về phiên xử bà Bùi Thị Minh Hằng vào ngày 26.8.2014. Ông chỉ chúng tôi liên lạc với Tòa án tỉnh hay phòng pháp chế thuộc HĐND tỉnh tìm hiểu.
Chúng tôi liên lạc với ông Lê Minh Hoan hiện đang là bí thư tỉnh Đồng Tháp theo số 0673851444 thì sau nhiều lần người bắt máy cho hay đây là trực ban của Văn phòng tỉnh ủy “còn đồng chí bí thư tỉnh thì đang đi công tác xa”. Chúng tôi xin số máy di động của ông bí thư thì người này từ chối cung cấp. Người này chỉ chúng tôi liên lạc qua ông Đoàn Quốc Cường là chủ tịch tỉnh Đồng Tháp.
Chúng tôi gọi cho ông Đoàn Quốc Cường thì theo số máy 067 3851 520 thì ông ta nói là đang bận họp và cho hay là nếu là cơ quan báo chí thì nên liên hệ bên Báo Đồng Tháp để biết thêm thông tin về phiên xử.
Lòng vòng qua nhiều người trong ủy ban tỉnh Đồng Tháp thì chúng tôi cũng tìm được số phone của ông Mai Ngọc Dinh hiện là chánh văn phòng HĐND và cũng là chánh văn phòng của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp. Ông Mai Ngọc Dinh cũng là phát ngôn viên của tỉnh ủy.
Số máy di động của ông Mai NGọc Dinh là 0913 967 906. Ông Dinh cho hay là“phiên tòa phản động gây rối là do bên Tòa án xét xử độc lập chứ tỉnh ủy hay UBND không có chỉ đạo điều hành gì cả.” Theo ông Tòa án sẽ xét xử đúng người đúng tội không có gì mà dư luận bên ngoài phải quan tâm lo ngại.
Chúng tôi cố gắng liên lạc với ông Nguyễn Minh Thuấn đang là đại tá, giám đốc công an tỉnh Đồng Tháp thì đều vô hiệu, máy bàn ở cơ quan hay nhà riêng không ai bắt máy.
Chúng tôi liên lạc với thẩm phán L. đang là thẩm phán tòa hình sự tình Đồng Tháp. Thẩm Phán L. là bạn học cùng khóa với chúng tôi tại Trường Đào tạo các chức danh Tư pháp của Học Viện Tư Pháp. Thẩm phán này cho hay là phiên xử này rất nhạy cảm nên không dám đưa ra các ý kiến bình luận. Nhưng Thẩm phán L. cho biết thêm là “Ông Lộc(thẩm phán Bùi Phước Lộc là chủ tọa phiên tòa xét xử chị Minh Hằng) bị ông Thơ (Nguyễn Thành Thơ – Chánh án Toàn án tỉnh Đồng Tháp) đì dữ lắm nên mới xử vụ này. Bản thân ông Lộc không muốn ngồi ghế chủ tọa phiên tòa này. Đây là án chỉ đạo nên không ai muốn xử cả”.
Chúng tôi thắc mắc là án chỉ đạo nhưng cơ quan nào chỉ đạo Tỉnh ủy hay Tòa án Tối cao. Thẩm phán L. cho hay là theo yêu cầu từ Bộ công an. Thẩm phán L. yêu cầu không được nêu danh tánh ra trong bài báo. Theo thẩm phán L. nếu có cấu thành tội phạm thì cũng chỉ nên phạt hành chính chứ hình sự hóa vụ án này thấy cũng khó coi.
Luật sư T. là thành viên của Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp cho hay rất khó dự đoán kết quả của phiên xử ngày 26.8.2014 tại Tòa án tỉnh Đồng Tháp. Vì đây là vụ án có tính sắp đặt và răn đe nên chắc không có án treo mà sẽ là án tù giam không dưới 1 năm tù giam. Nhiều vụ khác thì có thể cho hưởng án treo nhưng chắc vụ này sẽ có chỉ đạo là án tù giam.
Chúng tôi đang theo dõi mọi diễn biến xung quanh vụ án có tính sắp đặt chính trị này để bỏ tù những người yêu nước.
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai

Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai

Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Fb Trần Huỳnh Duy Thức – Nhà hoạt động từ thiện và tôn giáo Mai Thị Dung, một nông dân cắt lúa, sinh năm 1969, đang tiếp tục bị hành hạ trong tù khi thụ án 11 năm sau 2 lần bị kết án.
Cùng chồng là ông Võ Văn Bửu, bà Mai Thị Dung – tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo – đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, tuyệt thực cho các tín hữu đồng đạo, phản đối nhà cầm quyền CSVN tịch thu các cơ sở giáo hội và đàn áp tự do tôn giáo.
Bất chấp gia đình có hai người con dưới tuổi thành niên, ngày 5 tháng 8 năm 2005, công an Việt Nam bắt giữ cả hai vợ chồng Mai Thi Dung và Võ Văn Bửu. Ngày 19 tháng 9 năm 2005, Tòa án tỉnh An Giang kết án bà Mai Thị Dung 6 năm tù và chồng bà 7 năm vì tội “gây rối trật tự công cộng”. Trước đó không lâu, ông Võ Văn Bửu vừa mãn hạn tù 3 năm cũng vì tội danh tương tự.
Trong tù, bà Mai Thị Dung kiên trì tổ chức các lễ Phật. Vì lẽ đó, ngày 22 tháng 7 năm 2008, nhà cầm quyền đã phạt thêm 5 năm tù về tội “chống đối nhân viên công lực”, nâng tổng án tù mà bà Dung phải chịu lên 11 năm.
Suốt thời gian ở tù, mặc dù bệnh nặng, bà Mai Thị Dung luôn bị hành hạ, bị cấm nói chuyện với các tù nhân – bởi thái độ bất hợp tác với cai tù trong việc “ký biên bản nhận tội”. Bà từng tuyệt thực trong tù để phản đối ngược đãi và yêu cầu được đưa đi điều trị. Chỉ một ngày sau khi bà tuyệt thực, hôm mùng 2 tháng 10 năm 2013, từ trại giam Xuân Lộc – Đồng Nai, bà bị chuyển ra Bắc cùng với một tù nhân lương tâm khác vừa được trả tự do là Đỗ thị Minh Hạnh trên quãng đường 1700 km với chân tay bị xích còng nên đã nhiều lần ngất xỉu trong xe thùng bịt kín.
Hiện bà đang bị giam tại Phân trại 3 Thanh Xuân, xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội với tình trạng sức khỏe nguy kịch trong điều kiện tù khắc nghiệt. Bà mắc nhiều chứng bệnh tim, gan, mật, dạ dày, chỉ có thể di chuyển bằng cách bò lê trên nền sàn vì không thể đứng vững – theo những gì chồng bà chứng kiến trong lần thăm cuối năm 2013. Ông Võ Văn Bửu đã ra tù vào tháng 8 năm 2012, sau khi đã thi hành án 7 năm tù giam.
Nhà cầm quyền Việt Nam xem Phật Giáo Hòa Hảo là kẻ thù. Phần lớn các hoạt động của giáo hội phải thực hiện bí mật. Nếu không, luôn có đông đảo an ninh chìm nổi theo dõi, bao vây, phá rối để có cớ bắt bớ những người tham gia lễ lạc.
11 tháng 7 năm 2014
 
Vietnam Human Rights News
vietnamhumanrightsnews@gmail.com
Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Vì nƯỚc, vì ĐẠo quên mình.

Lịch Sử PG Hòa Hảo

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai

Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Fb Trần Huỳnh Duy Thức – Nhà hoạt động từ thiện và tôn giáo Mai Thị Dung, một nông dân cắt lúa, sinh năm 1969, đang tiếp tục bị hành hạ trong tù khi thụ án 11 năm sau 2 lần bị kết án.
Cùng chồng là ông Võ Văn Bửu, bà Mai Thị Dung – tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo – đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, tuyệt thực cho các tín hữu đồng đạo, phản đối nhà cầm quyền CSVN tịch thu các cơ sở giáo hội và đàn áp tự do tôn giáo.
Bất chấp gia đình có hai người con dưới tuổi thành niên, ngày 5 tháng 8 năm 2005, công an Việt Nam bắt giữ cả hai vợ chồng Mai Thi Dung và Võ Văn Bửu. Ngày 19 tháng 9 năm 2005, Tòa án tỉnh An Giang kết án bà Mai Thị Dung 6 năm tù và chồng bà 7 năm vì tội “gây rối trật tự công cộng”. Trước đó không lâu, ông Võ Văn Bửu vừa mãn hạn tù 3 năm cũng vì tội danh tương tự.
Trong tù, bà Mai Thị Dung kiên trì tổ chức các lễ Phật. Vì lẽ đó, ngày 22 tháng 7 năm 2008, nhà cầm quyền đã phạt thêm 5 năm tù về tội “chống đối nhân viên công lực”, nâng tổng án tù mà bà Dung phải chịu lên 11 năm.
Suốt thời gian ở tù, mặc dù bệnh nặng, bà Mai Thị Dung luôn bị hành hạ, bị cấm nói chuyện với các tù nhân – bởi thái độ bất hợp tác với cai tù trong việc “ký biên bản nhận tội”. Bà từng tuyệt thực trong tù để phản đối ngược đãi và yêu cầu được đưa đi điều trị. Chỉ một ngày sau khi bà tuyệt thực, hôm mùng 2 tháng 10 năm 2013, từ trại giam Xuân Lộc – Đồng Nai, bà bị chuyển ra Bắc cùng với một tù nhân lương tâm khác vừa được trả tự do là Đỗ thị Minh Hạnh trên quãng đường 1700 km với chân tay bị xích còng nên đã nhiều lần ngất xỉu trong xe thùng bịt kín.
Hiện bà đang bị giam tại Phân trại 3 Thanh Xuân, xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội với tình trạng sức khỏe nguy kịch trong điều kiện tù khắc nghiệt. Bà mắc nhiều chứng bệnh tim, gan, mật, dạ dày, chỉ có thể di chuyển bằng cách bò lê trên nền sàn vì không thể đứng vững – theo những gì chồng bà chứng kiến trong lần thăm cuối năm 2013. Ông Võ Văn Bửu đã ra tù vào tháng 8 năm 2012, sau khi đã thi hành án 7 năm tù giam.
Nhà cầm quyền Việt Nam xem Phật Giáo Hòa Hảo là kẻ thù. Phần lớn các hoạt động của giáo hội phải thực hiện bí mật. Nếu không, luôn có đông đảo an ninh chìm nổi theo dõi, bao vây, phá rối để có cớ bắt bớ những người tham gia lễ lạc.
11 tháng 7 năm 2014
 
Vietnam Human Rights News
vietnamhumanrightsnews@gmail.com
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai

Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Fb Trần Huỳnh Duy Thức – Nhà hoạt động từ thiện và tôn giáo Mai Thị Dung, một nông dân cắt lúa, sinh năm 1969, đang tiếp tục bị hành hạ trong tù khi thụ án 11 năm sau 2 lần bị kết án.
Cùng chồng là ông Võ Văn Bửu, bà Mai Thị Dung – tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo – đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, tuyệt thực cho các tín hữu đồng đạo, phản đối nhà cầm quyền CSVN tịch thu các cơ sở giáo hội và đàn áp tự do tôn giáo.
Bất chấp gia đình có hai người con dưới tuổi thành niên, ngày 5 tháng 8 năm 2005, công an Việt Nam bắt giữ cả hai vợ chồng Mai Thi Dung và Võ Văn Bửu. Ngày 19 tháng 9 năm 2005, Tòa án tỉnh An Giang kết án bà Mai Thị Dung 6 năm tù và chồng bà 7 năm vì tội “gây rối trật tự công cộng”. Trước đó không lâu, ông Võ Văn Bửu vừa mãn hạn tù 3 năm cũng vì tội danh tương tự.
Trong tù, bà Mai Thị Dung kiên trì tổ chức các lễ Phật. Vì lẽ đó, ngày 22 tháng 7 năm 2008, nhà cầm quyền đã phạt thêm 5 năm tù về tội “chống đối nhân viên công lực”, nâng tổng án tù mà bà Dung phải chịu lên 11 năm.
Suốt thời gian ở tù, mặc dù bệnh nặng, bà Mai Thị Dung luôn bị hành hạ, bị cấm nói chuyện với các tù nhân – bởi thái độ bất hợp tác với cai tù trong việc “ký biên bản nhận tội”. Bà từng tuyệt thực trong tù để phản đối ngược đãi và yêu cầu được đưa đi điều trị. Chỉ một ngày sau khi bà tuyệt thực, hôm mùng 2 tháng 10 năm 2013, từ trại giam Xuân Lộc – Đồng Nai, bà bị chuyển ra Bắc cùng với một tù nhân lương tâm khác vừa được trả tự do là Đỗ thị Minh Hạnh trên quãng đường 1700 km với chân tay bị xích còng nên đã nhiều lần ngất xỉu trong xe thùng bịt kín.
Hiện bà đang bị giam tại Phân trại 3 Thanh Xuân, xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội với tình trạng sức khỏe nguy kịch trong điều kiện tù khắc nghiệt. Bà mắc nhiều chứng bệnh tim, gan, mật, dạ dày, chỉ có thể di chuyển bằng cách bò lê trên nền sàn vì không thể đứng vững – theo những gì chồng bà chứng kiến trong lần thăm cuối năm 2013. Ông Võ Văn Bửu đã ra tù vào tháng 8 năm 2012, sau khi đã thi hành án 7 năm tù giam.
Nhà cầm quyền Việt Nam xem Phật Giáo Hòa Hảo là kẻ thù. Phần lớn các hoạt động của giáo hội phải thực hiện bí mật. Nếu không, luôn có đông đảo an ninh chìm nổi theo dõi, bao vây, phá rối để có cớ bắt bớ những người tham gia lễ lạc.
11 tháng 7 năm 2014
 
Vietnam Human Rights News
vietnamhumanrightsnews@gmail.com
Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Cần Thơ: CA khủng bố buổi lễ cầu an cho mẹ cô Đỗ Thị Minh Hạnh

Cần Thơ: CA khủng bố buổi lễ cầu an cho mẹ cô Đỗ Thị Minh Hạnh

CA sắc phục sách nhiễu những người đến tham dự lễ cầu an cho bà Trần Thị Ngọc Minh

Một buổi lễ cầu an cho bà Trần Thị Ngọc Minh, mẹ ruột cô Đỗ Thị Minh Hạnh đã nhanh chóng bị hàng trăm công an khủng bố và quấy phá vào sáng ngày 5/8/2014 tại Cần Thơ.

Thông tin do Nhóm Phóng viên Phật giáo Hòa Hảo Thuần Túy gửi đi cho biết, đây là buổi lễ nhằm mục đích cầu an cho bà Trần Thị Ngọc Minh, người mẹ hiện đang hết sức nguy kịch sau một thời gian dài đi khắp thế giới đòi trả tự do cho con gái mình là Đỗ Thị Minh Hạnh.

Dưới sự chỉ đạo của cụ Lê Quang Liêm, Hội Trưởng Trung Ương Giáo Hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần Túy, buổi lễ dự định sẽ được tổ chức tại tư gia ông Phan Tấn Hòa và bà Nguyễn Thị Ngọc Lan tại Phường Thới An, Quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ.
Ngay từ sáng sớm, hàng trăm công an đã lập tức được huy động nhằm quấy phá và đàn áp những người đến tham dự buổi lễ cầu an.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, Hội Trưởng Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần Túy tại TP. Cần Thơ kể lại:
“Sáng sớm ngày 5-8-2014, công an đủ sắc phục và cả thường phục hằng trăm tên, đứng rải rác 2 bên đường khoảng 1 cây số ở hai đầu đường dẫn vào nhà. Họ ngăn chận không cho các tín đồ PGHH địa phương đến tham dự buổi lễ cầu an. Đồng thời tại khắp các ngõ đường, bến đò ở khu vực Phường Thới An đều có công an ngăn chận phái đoàn các tỉnh đến”.
Bản tin do Nhóm Phóng viên Phật giáo Hòa Hảo Thuần Túy trích lời các nhân chứng bị CA sách nhiễu nói:
Ông Hà Văn Duy Hồ, Tổng Đoàn Trưởng Đoàn Thanh Niên PGHH Yêu Nước nói: “Tôi cùng với ông Tống Văn Chín, Hội Trưởng PGHH Thuần Túy tỉnh An Giang  và một số người khác vừa mới đến cầu Tầm Vu thuộc phường Thới An, TP Cần Thơ liền bị lực lượng cảnh sát giao thông chận xe xét hỏi giấy tờ. Sau đó lực lượng an ninh Quận Ô Môn không cho phái đoàn vào nơi tổ chức lễ cầu an với lý do nơi đó mất an ninh”.
“Ông Nguyễn Ngọc Tân, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Truyền Thông PGHH Thuần Túy từ phía bờ Vĩnh Long sang bến đó Thới An thì bị cảnh sát giao thông xét giấy tờ, ông Tân đã lấy máy điện thoại chụp hình thì liền bị bọn an ninh mật vụ cướp lấy điện thoại có hình ảnh trong máy”, ông Quách Hồng Phúc đi cùng ông Tân cho biết.
Ngoài ra nhiều phái đoàn ở các nơi khác đều bị chận tại nhà. Điển hình là ông Nguyễn Văn Điền, Phó Hội Trưởng Trung Ương PGHH Thuần Túy vừa ra khỏi nhà khoảng 100 mét thì bị công an xã Tân Phước, công an Huyện Lai Vung và công an tỉnh Đồng Tháp chận lại, dùng lời lẽ đe dọa và cấm không cho ông đi.
Hôm 25/7/2014, sau một thời gian dài đi khắp nới kêu cứu cho con, bà Trần Thị Ngọc Minh đã lâm bệnh nặng và được đưa đi cấp cứu tại bệnh tại bệnh viện AHK nước Áo.
Gia đình Đỗ Thị Minh Hạnh sau đó đã ngỏ lời thỉnh cầu các chức sắc và tín đồ PGHH Thuần Túy cầu an cho mẹ mình nhưng buổi lễ đã không thể diễn ra, các Trị Sự Viên PGHH Thuần Túy bị ngăn cản và cấm đoán không cho dự lễ.
“Trong thời gian chưa đầy một tháng, Giáo Hội PGHH Thuần Túy đã nhiều lần bị sách nhiễu, ngăn chận không cho đi lại, hội họp, không cho thực hiện quyền tín ngưỡng. Việt Nam không xứng đáng là thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền LHQ”, Ông Nguyễn Ngọc Tân Tổng Vụ Trưởng Truyền Thông PGHH Thuần Túy khẳng định.

Theo Nhóm Phóng viên Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Cô bé Việt Nam nhớ rõ chuyện từ…ba kiếp trước

Cô bé Việt Nam nhớ rõ chuyện từ…ba kiếp trước

Kính mừng ngày báo hiếu, Thùy Trang xin đặt hết toàn tâm toàn ý về Mẹ, gửi đến anh chị còn Mẹ hay mất mẹ, lời chân tâm của đứa con. Bé Như Ý là tựu trung cho tình cảm thiêng liêng của chúng ta đang nghĩ về Mẹ mà Thùy Trang muốn gửi gấm đến anh chị.<br />
—————–</p>
<p>Cô bé Việt Nam nhớ rõ chuyện từ…ba kiếp trước</p>
<p>Nguyễn Thị Như Ý (11 tuổi, An Giang) từ nhỏ đã nổi tiếng là một hiện tượng “vô tiền khoáng hậu” bởi khả năng thuyết giảng trước đám đông và am hiểu Phật giáo thượng thừa.</p>
<p>Ngay từ lúc sinh ra, Như Ý đã có những biểu hiện khác thường. Hơn 3 tuổi, dù nói chưa tròn tiếng, bé tiếp tục thể hiện khả năng am hiểu sâu sắc Phật đạo nói chung và tư tưởng Phật giáo Hòa Hảo nói riêng, khiến giới đồng đạo phải sửng sốt. Đặc biệt, Như Ý có thể tự tin đứng trước đám đông, thuyết giảng thông suốt hàng giờ đồng hồ về một chủ đề nào đó mà không bối rối, lặp từ. Người ta bảo, bé có nhân duyên tiền kiếp đối với đạo Phật.</p>
<p>Chị Nguyễn Thị Cam (33 tuổi, mẹ ruột bé Như Ý) kể: “Khi được hơn 3 tuổi, Như Ý đã nói chuyện như một người trưởng thành, giống hệt một tu sĩ tinh thông đạo pháp”.</p>
<p>Trong một lần nói chuyện với mẹ mình, Như Ý có nói rằng: “Con chỉ “mượn mẹ” để đầu thai xuống kiếp này tu thêm mà thôi. Kiếp trước của con là một người sinh ra có cha mẹ giàu sang, song con chỉ muốn đi tu mà không được song thân chấp thuận, con buồn tủi lắm, không dễ như cha mẹ bây giờ. Kiếp thứ hai, con được làm một nữ tu sĩ, sống được 50 tuổi nhưng vì tu chưa đắc đạo nên kiếp này con về lại nhân gian để tu tiếp, mong rằng sẽ truyền bá sâu rộng chốn nhân gian hơn nữa, con người hòa hợp, không tranh giành đặc lợi mà giúp đỡ lẫn nhau”.</p>
<p>Cũng theo chị Cam, một lần khác Như Ý không nghe lời khuyên răn của cha mẹ nên chị mắng, không ngờ bé cười rồi cất lời: “Con là một người khác chứ không phải là con mẹ đâu ạ, kiếp này con chỉ mượn cha mẹ để lên đây tu thành thêm kiếp đạo dang dở của con thôi”.</p>
<p>Với độ am hiểu đạo giáo tinh thông, thuyết giảng thu phục lòng người, Như Ý nhanh chóng được đông đảo phật tử biết đến, nhiều ngôi chùa trong giáo hội đã mời Như Ý về thuyết giảng, nói chuyện.</p>
<p>Cho đến nay, bé đã đăng đàn hằng trăm buổi nói chuyện, có thể thuyết giảng nhiều chủ đề khác nhau về đạo Phật, khiến cả những nhà nghiên cứu đạo pháp phải thán phục.</p>
<p><span class='embed-youtube' style='text-align:center; display: block;'><span class="embed-youtube" style="text-align:center; display: block;"><iframe class='youtube-player' type='text/html' width='470' height='295' src='https://www.youtube.com/embed/BEd4b6xXVZ8?version=3&rel=1&fs=1&autohide=2&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&wmode=transparent' allowfullscreen='true' style='border:0;'></iframe></span></span></p>
<p><span class='embed-youtube' style='text-align:center; display: block;'><span class="embed-youtube" style="text-align:center; display: block;"><iframe class='youtube-player' type='text/html' width='470' height='295' src='https://www.youtube.com/embed/uVhLXaI0iOQ?version=3&rel=1&fs=1&autohide=2&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&wmode=transparent' allowfullscreen='true' style='border:0;'></iframe></span></span></p>
<p>st” width=”199″ height=”200″ /></p></div>
<p><b><i><a href=QLB
Thùy Trang –  Kính mừng ngày báo hiếu, Thùy Trang xin đặt hết toàn tâm toàn ý về Mẹ, gửi đến anh chị còn Mẹ hay mất mẹ, lời chân tâm của đứa con. Bé Như Ý là tựu trung cho tình cảm thiêng liêng của chúng ta đang nghĩ về Mẹ mà Thùy Trang muốn gửi gấm đến anh chị.

—————–
Cô bé Việt Nam nhớ rõ chuyện từ…ba kiếp trước
Nguyễn Thị Như Ý (11 tuổi, An Giang) từ nhỏ đã nổi tiếng là một hiện tượng “vô tiền khoáng hậu” bởi khả năng thuyết giảng trước đám đông và am hiểu Phật giáo thượng thừa.
Ngay từ lúc sinh ra, Như Ý đã có những biểu hiện khác thường. Hơn 3 tuổi, dù nói chưa tròn tiếng, bé tiếp tục thể hiện khả năng am hiểu sâu sắc Phật đạo nói chung và tư tưởng Phật giáo Hòa Hảo nói riêng, khiến giới đồng đạo phải sửng sốt. Đặc biệt, Như Ý có thể tự tin đứng trước đám đông, thuyết giảng thông suốt hàng giờ đồng hồ về một chủ đề nào đó mà không bối rối, lặp từ. Người ta bảo, bé có nhân duyên tiền kiếp đối với đạo Phật.

Chị Nguyễn Thị Cam (33 tuổi, mẹ ruột bé Như Ý) kể: “Khi được hơn 3 tuổi, Như Ý đã nói chuyện như một người trưởng thành, giống hệt một tu sĩ tinh thông đạo pháp”.

Trong một lần nói chuyện với mẹ mình, Như Ý có nói rằng: “Con chỉ “mượn mẹ” để đầu thai xuống kiếp này tu thêm mà thôi. Kiếp trước của con là một người sinh ra có cha mẹ giàu sang, song con chỉ muốn đi tu mà không được song thân chấp thuận, con buồn tủi lắm, không dễ như cha mẹ bây giờ. Kiếp thứ hai, con được làm một nữ tu sĩ, sống được 50 tuổi nhưng vì tu chưa đắc đạo nên kiếp này con về lại nhân gian để tu tiếp, mong rằng sẽ truyền bá sâu rộng chốn nhân gian hơn nữa, con người hòa hợp, không tranh giành đặc lợi mà giúp đỡ lẫn nhau”.

Cũng theo chị Cam, một lần khác Như Ý không nghe lời khuyên răn của cha mẹ nên chị mắng, không ngờ bé cười rồi cất lời: “Con là một người khác chứ không phải là con mẹ đâu ạ, kiếp này con chỉ mượn cha mẹ để lên đây tu thành thêm kiếp đạo dang dở của con thôi”.

Với độ am hiểu đạo giáo tinh thông, thuyết giảng thu phục lòng người, Như Ý nhanh chóng được đông đảo phật tử biết đến, nhiều ngôi chùa trong giáo hội đã mời Như Ý về thuyết giảng, nói chuyện.

Cho đến nay, bé đã đăng đàn hằng trăm buổi nói chuyện, có thể thuyết giảng nhiều chủ đề khác nhau về đạo Phật, khiến cả những nhà nghiên cứu đạo pháp phải thán phục.

http://youtu.be/BEd4b6xXVZ8

http://youtu.be/uVhLXaI0iOQ

Lịch Sử PG Hòa Hảo

Lịch Sử PG Hòa Hảo

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Yêu cầu trả tự do cho bà Mai Thị Dung!

Fb Trần Huỳnh Duy Thức – Nhà hoạt động từ thiện và tôn giáo Mai Thị Dung, một nông dân cắt lúa, sinh năm 1969, đang tiếp tục bị hành hạ trong tù khi thụ án 11 năm sau 2 lần bị kết án.
Cùng chồng là ông Võ Văn Bửu, bà Mai Thị Dung – tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo – đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, tuyệt thực cho các tín hữu đồng đạo, phản đối nhà cầm quyền CSVN tịch thu các cơ sở giáo hội và đàn áp tự do tôn giáo.
Bất chấp gia đình có hai người con dưới tuổi thành niên, ngày 5 tháng 8 năm 2005, công an Việt Nam bắt giữ cả hai vợ chồng Mai Thi Dung và Võ Văn Bửu. Ngày 19 tháng 9 năm 2005, Tòa án tỉnh An Giang kết án bà Mai Thị Dung 6 năm tù và chồng bà 7 năm vì tội “gây rối trật tự công cộng”. Trước đó không lâu, ông Võ Văn Bửu vừa mãn hạn tù 3 năm cũng vì tội danh tương tự.
Trong tù, bà Mai Thị Dung kiên trì tổ chức các lễ Phật. Vì lẽ đó, ngày 22 tháng 7 năm 2008, nhà cầm quyền đã phạt thêm 5 năm tù về tội “chống đối nhân viên công lực”, nâng tổng án tù mà bà Dung phải chịu lên 11 năm.
Suốt thời gian ở tù, mặc dù bệnh nặng, bà Mai Thị Dung luôn bị hành hạ, bị cấm nói chuyện với các tù nhân – bởi thái độ bất hợp tác với cai tù trong việc “ký biên bản nhận tội”. Bà từng tuyệt thực trong tù để phản đối ngược đãi và yêu cầu được đưa đi điều trị. Chỉ một ngày sau khi bà tuyệt thực, hôm mùng 2 tháng 10 năm 2013, từ trại giam Xuân Lộc – Đồng Nai, bà bị chuyển ra Bắc cùng với một tù nhân lương tâm khác vừa được trả tự do là Đỗ thị Minh Hạnh trên quãng đường 1700 km với chân tay bị xích còng nên đã nhiều lần ngất xỉu trong xe thùng bịt kín.
Hiện bà đang bị giam tại Phân trại 3 Thanh Xuân, xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội với tình trạng sức khỏe nguy kịch trong điều kiện tù khắc nghiệt. Bà mắc nhiều chứng bệnh tim, gan, mật, dạ dày, chỉ có thể di chuyển bằng cách bò lê trên nền sàn vì không thể đứng vững – theo những gì chồng bà chứng kiến trong lần thăm cuối năm 2013. Ông Võ Văn Bửu đã ra tù vào tháng 8 năm 2012, sau khi đã thi hành án 7 năm tù giam.
Nhà cầm quyền Việt Nam xem Phật Giáo Hòa Hảo là kẻ thù. Phần lớn các hoạt động của giáo hội phải thực hiện bí mật. Nếu không, luôn có đông đảo an ninh chìm nổi theo dõi, bao vây, phá rối để có cớ bắt bớ những người tham gia lễ lạc.
11 tháng 7 năm 2014
 
Vietnam Human Rights News
vietnamhumanrightsnews@gmail.com

Leave a Reply

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

ĐỨC THẦY LÂM NẠN TẠI ĐỐC-VÀNG

ĐỨC THẦY LÂM NẠN TẠI ĐỐC-VÀNG

LONG XUYÊN ngày 21 tháng 3 năm 1865

(20/03/2011) (Xem: 14308)

 

Kính gởi Ông NGÔ-XUÂN và Quí vị Đồng Bào Thủ Đô

 

SAIGON

 

Kính thưa Ông cùng Quý-vị,

 

Tiếp nhận được thơ ông cùng quý vị gởi đến tôi đề ngày 29 tháng 3 năm 1965 vào lúc 14 giờ

 

Vội biên thư hồi đáp cho ông cùng quý vị để tường:

 

Muốn đáp lại những thạnh tình chiếu cố ấy, mặc dù tôi rất kém khả năng hiểu biết nhưng, đứng về cương vị một môn-nhơn đệ tử của Đức Huỳnh Giáo Chủ thì nhiều hay ít cũng am tường về giáo lý của Ngài.

 

Trân trọng xin hồi đáp cùng quý vị, với phạm vi hiểu biết của tôi, còn những điều cao siêu thì xin nhường lời cho các bậc cao minh giảng giải. Riêng tôi có vài lời thiện cảm sau đây, dù không được thỏa mãn, kính mong quý vị niệm tình tha thứ.

 

–        Hỏi: Tại sao có danh từ Phật-Giáo Hòa-Hảo?

 

–        Đáp: Thưa quý vị, trải qua những năm tìm tòi học đạo, chính tôi đã thường nghe Đức Thầy tôi có giải đáp trong những khi thuyết pháp vào lúc mà Đức Thầy tôi thực hiện trong lời sấm tiên tri: “Chừng ơn trên ban bố lục thông Thầy sẽ được Tây Đông du thuyết”.

 

Quả thật như lời đúng vào năm 1945 Đức Thầy tôi có dịp đi du thuyết (khuyến nông) khắp 21 tỉnh, thì cũng có nhiều đồng bào chất vấn giống như những câu hỏi của quý vị đấy?

 

Vậy xin mạng phép dựa vào những câu giải đáp của Đức Thầy tôi và luôn tiện ghi lại nơi đây để ông cùng quý vị rõ:

 

“Phật Giáo là giáo pháp của nhà Phật, mà tôi là đệ tử trung thành của Đức Phật Thích Ca mâu ni, còn Hòa Hảo là danh từ quê hương của tôi. (Lời Đức Thầy)

 

Sau đây tôi xin phụ họa với ý nghĩa mà không ngoài giáo pháp của Đức Thầy tôi đã truyền dạy, trong 14 giòng khoáng thủ theo lối văn bát ngôn trường thiêng.

 

PHẬT vốn tánh từ bi vô lượng chí

GIÁO pháp khai nhiệm lý khắp nhơn gian

HÓA đồng trong sanh chúng hiệp nhứt tràng

HẢO ý nguyện vạn ban giai hướng thiện

LÀ sứ mệnh thừa vâng nơi Kim-điện

DANH một đời bốn biển lẫn sơn thanh

TỪ khởi nguyên căn thiện sẵn trời danh

QUÊ quán cổ kim sanh miền Linh-Địa

HƯƠNG xuất hiện thơm mùi Trung-Tín-Nghĩa

CỦA Tiên Rồng trau trỉa được nên công

ĐỨC cao siêu ban rãi thuận muôn lòng

HUỲNH đạt đạo lục thông tri tiền hậu

GIÁO thọ sắc Thế-Tôn, lời nguyền tấu

CHỦ tâm thành roi dấu Vình Trường Miên.

 

Kính thưa Ông cùng Quý vị,

 

Còn những điểm như: Mục-đích, Tôn-chỉ, thân thế và cách hành đạo của Đức Thầy tôi thì xin hẹn lại cùng quý vị, tôi sẽ hồi đáp trong tập sắp xuất bản của tực đề là “TÌM HIỂU GIÁO LÝ PHẬT GIÁO HÒA HẢO” chắc chắn quý vị sẽ được hài lòng.

 

Trước khi gác bút, và không còn lời lẽ cho hơn để được đáp tạ với nhân tình cao quí của quí vị cho vừa.

 

Nơi đây tôi chỉ đặt cả tâm thành khẩn nguyện Đức Phật Từ Bi gia hộ cho toàn thể quý vị cùng bửu quyến cũng như tất cả nhơn gian đều được hưởng mọi phước lành, để gọi lòng thiện cảm giữa tôi cùng quý vị.

 

Trân trọng kính chào

 

LÊ-THÀNH-LẠC

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Chương 2: Pháp Xâm Lược Và Cuộc Kháng Chiến Của Dân Tộc Vn

Chương 2: Pháp Xâm Lược Và Cuộc Kháng Chiến Của Dân Tộc Vn

(Xem: 93347)
  • Vài Nét Về Tác Giả – Nguyễn Long Thành Nam
  • PHẦN I: BỐI CẢNH LỊCH SỬ
  • PHẦN II BỬU SƠN KỲ HƯƠNG
  • PHẦN III : PHẬT GIÁO HÒA HẢO
  • PHẦN IV : PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀ CÁCH MẠNG
  • PHẦN V: SAU KHI ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ RA ĐI
  • PHẦN VI: CÁC CHẾ ĐỘ VIỆT NAM ĐỐI VỚI PGHH
  • PHỤ LỤC I
  • PHỤ LỤC II
Tiến trình Tây phương xâm nhập Ðông phương có thể xem là khởi đầu từ chuyến đi phương Ðông của Marco Polo (1275-1292). Tây phương sang Ðông phương trước hết là các giáo sĩ với mục đích truyền đạo. Sau đó là các tổ hợp tư bản đến với mục đích trục lợi thương mại. Vào cuối thế kỷ 18, các đế quốc Tây phương tranh giành lẫn nhau để chiếm thuộc địa. Ngọn gió thổi từ Tây phương đến Ðông phương đã đem vào Á Châu luồng văn minh duy lý và cơ khí, tạo những thay đổi lớn lao về văn hóa, kinh tế và xã hội tại khu vực này.Tiếng đại bác đầu tiên của hai chiến hạm Pháp là La Gloire và La Victorieuse bắn vào lãnh thổ Việt Nam (Ðà Nẵng) năm 1847, báo hiệu ý đồ thực dân xâm lược của đế quốc Pháp, dùng quân lực đánh chiếm Ðông Dương, song hành với hành động tương tự của các đế quốc Tây phương khác: Anh, Hòa Lan, Bồ Ðào Nha, Y Pha Nho, tại Á Châu. Lúc đó là năm thứ 7 triều vua Thiệu Trị, cũng là năm đầu tiên triều vua Tự Ðức, 800 quả đạn đại bác đã làm thiệt hại mấy ngàn sinh mạng Việt Nam, mở đầu cho một giai đoạn rất nhiều bi thương của dân tộc này.Vì những khó khăn nội bộ của nước Pháp, cho nên mãi đến năm 1856, Hoàng đế Nã Phá Luân III mới lấy quyết định thực sự cử binh đánh chiếm Việt Nam. Ngày 26-9-1856, chiến hạm Catinat nã đại bác vào Ðà Nẵng. Chiến thuật xâm lược của Pháp nhằm chiếm lấy miền Nam trước hết, để làm đầu cầu quân sự chính trị tiến dần ra Bắc, Trung Việt, Cao Miên và Ai Lao, bằng ngoại giao, quân sự nhưng chính yếu là sức mạnh của quân đội. Năm 1862, quân Pháp chiếm xong ba tỉnh miền Ðông, và đến 1867 chiếm thêm ba tỉnh miền Tây Nam Việt, rồi sau đó tiến ra miền Bắc. Cuộc xâm lăng này hoàn thành năm 1887, sau khi Pháp đã dàn xếp với Trung Hoa, ký kết hiệp ước Thiên Tân giữa Patenôtre và Lý Hồng Chương 27-4-1885, theo đó Trung Hoa công nhận cuộc bảo hộ của nước Pháp tại Việt Nam (*) .

Tuy rằng quân Pháp đã chiếm được toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, nhưng đó không phải là một cuộc xâm lược dễ dàng. Quân đội Pháp tuy hùng hậu và có ưu thế võ khí, nhưng đã phải chịu rất nhiều thiệt hại để đối phó với sức đề kháng mãnh liệt và dẻo dai của quân và dân Việt Nam, ròng rã suốt ba mươi năm, từ 1860 đến 1887. Ấy là chưa kể nỗ lực ngoại giao của Pháp thỏa hiệp quyền lợi với triều đình Mãn Thanh qua hiệp ước Thiên Tân, nhằm tạo tình trạng hòa hoãn với Trung Quốc, để khỏi phải bận tâm đến sự can thiệp của Trung Quốc, mà dồn nỗ lực vào hành động quân sự đánh chiếm Việt Nam.

Năm 1887 là thời điểm mà quân Pháp cho là đã hoàn thành cuộc xâm lược quân sự tại Việt Nam, và cũng năm đó Pháp thực hiện công cuộc thống nhứt bộ máy cai trị thuộc địa, đặt viên toàn quyền đầu tiên điều khiển bộ máy thống trị Ðông Dương. Tuy nhiên, sự đề kháng của dân tộc Việt Nam không chấm dứt ở thời điểm 1887, mà còn tiếp tục suốt từ đó cho đến khi Pháp phải chính thức ra đi, rời khỏi vị trí quyền lực tại Việt Nam, năm 1956.

Ðây là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, người Việt Nam không chấp nhận uy quyền thống trị của thực dân Pháp, đã kết thành những phong trào liên tục tranh đấu đòi lại chủ quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.

Trong lịch sử nhơn loại, những cuộc xâm chiếm thuộc địa thường dễ dàng thành công ở giai đoạn đầu, giai đoạn đánh chiếm bằng quân sự, nhưng lại gặp nhiều khó khăn chật vật ở giai đoạn sau. Ðó là giai đoạn đề kháng văn hóa của dân tộc bị trị đối phó với ngoại bang thống trị. Tiến trình xâm chiếm và thống trị của Pháp tại Việt Nam, cũng không thoát khỏi quy luật lịch sử đó.

Giai đoạn đầu, với khoa học chiến tranh tiến bộ và võ khí tân tiến của thế kỷ 19, quân đội Pháp đã có ưu thế để chiến thắng tại Việt Nam. Quân lực của triều đình và của các tổ chức nhân dân võ trang kháng chiến, tuy chiến đấu dũng cảm, hy sinh cao độ, với lòng yêu nước nhiệt thành, nhưng vì yếu thế về võ khí, và chưa có kiến thức mới để ứng phó hữu hiệu với khoa học chiến tranh cơ giới của Tây phương, cho nên rốt cuộc đã phải thất bại về quân sự.

Sau cuộc trường kỳ kháng chiến gần 40 năm (1856-1895), tuy rằng các phong trào kháng chiến võ trang còn hoạt động lẻ tẻ ở các địa phương, quân đội Pháp đã làm chủ được tình hình quân sự trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. (Ghi chú: 1856 chiến hạm Pháp bắn vào Ðà Nẵng, và 1895, phong trào văn thân kháng chiến Phan Ðình Phùng tan rã).

Sau giai đoạn chiến thắng quân sự, bộ máy thống trị Pháp tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn phức tạp hơn trong việc đối phó với cuộc đề kháng muôn hình vạn trạng, không công khai, không chiến lũy, mà âm thầm, kín đáo, bí mật, bền bỉ dẻo dai, diễn ra thường trực trong tâm lý và thái độ của người dân Việt. Tinh thần ái quốc, khát vọng tự do, ý thức độc lập thấm nhuần sâu xa trong tâm hồn người dân Việt từ mấy ngàn năm lịch sử, không thể nào bị dập tắt hay bóp chết một cách dễ dàng giống như sự chiến thắng của một quân đội mạnh đối với một quân lực yếu thế. Sức mạnh vật chất không thể tiêu diệt được những tình cảm phi vật chất. Cố nhiên, khi Pháp dùng võ lực, nhà tù, luật lệ khắc nghiệt, khủng bố đàn áp để đối phó, thì người Việt phải lui bước trước sức mạnh. Nhưng đó chỉ là bước lui tạm thời, để khi có cơ hội nào đó, một biến cố xảy ra, là lập tức tiềm lực đề kháng lại bộc phát nổ bùng mãnh liệt, không lường trước được.

1- PHONG TRÀO VĂN THÂN CẦN VƯƠNG KHÁNG PHÁP

Các tổ chức kháng Pháp phát sanh trước hết tại Nam Việt, ngay từ lúc quân đội xâm lược Pháp đặt chân lên lãnh thổ Việt Nam năm 1860. Phong trào phát khởi tại miền Ðông, sau đó lan rộng khắp Nam Việt rồi khắp nước Việt Nam. Ðó là phản ứng chung của dân tộc chống ngoại xâm, hễ quân Pháp chiếm cứ nơi nào, là tổ chức kháng Pháp lập tức phát sanh tại nơi đó.

Ðặc tính căn bản chung của các phong trào này là Văn thân Cần Vương. Nghĩa là các tổ chức kháng Pháp được lãnh đạo bởi giới Văn thân, tức giới Sĩ phu Nho học đã từng đóng vai trò lãnh đạo hướng dẫn quần chúng. Giới sĩ phu quy tụ dân chúng nổi dậy đánh Pháp để phục hồi uy quyền triều đình, tức là nhà vua Việt Nam (cần vương). Về mặt tư tưởng, giới sĩ phu thấm nhuần Nho giáo, đặt mối tương quan quân thần lên trên hết (Tam cương: Quân thần, Phụ tử, Phu thê) xem nhà Vua là biểu tượng quốc gia, và trung quân đồng nghĩa với ái quốc. Về mặt xã hội, giới sĩ phu được dân chúng kính trọng, nghe theo, phần đông truyền bá giáo dục trong vùng, cho nên khi dựng cờ khởi nghĩa chống Pháp, họ có khả năng huy động quần chúng tham gia. Ðương nhiên các phong trào kháng Pháp thời kỳ đầu tiên cho tới cuối thế kỷ 19, đều do giới sĩ phu lãnh đạo và mang tư tưởng phục vụ triều đình, có mục đích đánh đuổi Pháp, để tái lập chế độ quân chủ truyền thống.

Từ 1860 đến 1885, nhiều tổ chức khởi nghĩa chống Pháp đã xuất hiện, trong đó lịch sử Việt Nam ghi nhận các tổ chức sau đây có tầm quan trọng cao hơn hết:

Nguyễn Trung Trực 1860-1868, Trương Công Ðịnh 1861-1864, Nguyễn Hữu Huân 1863-1868, Võ Duy Dương 1865-1866, Trần Văn Thành 1865-1873, Ðinh Công Tráng 1866-1867, Nguyễn Thiện Thuật 1885-1889, Phan Ðình Phùng 1885-1895, Hoàng Hoa Thám 1887-1913.

Tất cả những lãnh tụ kháng Pháp này đã thất bại, mặc dù họ đã chiến đấu rất dũng cảm. Lý do thất bại là: lần đầu tiên binh sĩ Việt Nam phải đương đầu với một lực lượng quân sự địch khác hẳn với tất cả quân đội địch mà họ đã phải đương đầu trong lịch sử, như quân Trung Hoa, Chiêm Thành, Chân Lạp. Ðiều kiện chiến trường, võ khí, chiến thuật, và trình độ tiến hóa trước kia không có sự cách biệt quá đáng giữa các địch thủ Á Châu, trên các chiến trường Á Châu. Còn Pháp là một địch thủ hoàn toàn xa lạ, với khoa học chiến tranh khác, phương pháp chiến đấu khác, và các loại võ khí cơ giới tiến bộ rất xa so với võ khí cổ điển thô sơ của Việt Nam…

Do đó, tương quan lực lượng trong cuộc chiến đấu này trên phương diện khí giới tiến bộ, rất chênh lệch và có hại cho kháng chiến Việt Nam. Mặc dù đã đạt những thắng lợi ngoại hạng với võ khí yếu kém, như những trận đánh chìm tầu Pháp tại Nhựt Tảo hay hạ đồn Pháp tại Kiên Giang do lãnh tụ Nguyễn Trung Trực chỉ huy, nhưng rốt cuộc các lãnh tụ kháng chiến đã bị Pháp bắt giết hay tử trận, vẹn danh kẻ yêu nước, sau khi đã xả thân đem nhiệt tình và dõng cảm để cố bù đắp sự thua thiệt về võ khí, sự thất thế về lực lượng quân sự so với quân Pháp.

Phong trào Văn thân Cần vương kháng Pháp được xem như đã chấm dứt sau khi nhà lãnh tụ Cần vương nổi tiếng trong lịch sử là Phan Ðình Phùng tạ thế năm 1895. Cũng từ đây, theo sự phân định của các nhà biên khảo Việt sử, tư tưởng Cần vương bắt đầu phai lạt trong bối cảnh xã hội mới, nhường chỗ cho tư tưởng canh tân hướng về quốc gia dân tộc, hơn là sống chết vì Vua.

2- GIAI ÐOẠN QUÁ ÐỘ: CÁCH MẠNG CHUYỂN HƯỚNG CANH TÂN

Mặc dầu sau 1895, vẫn còn những nỗ lực lẻ tẻ của các tổ chức võ trang kháng Pháp, và phong trào Cần vương Hoàng Hoa Thám khởi đầu năm 1887 tại Bắc Việt cũng còn tồn tại cho đến 1910, nhưng người Việt Nam đã bắt đầu có những nhận thức mới, trước một hoàn cảnh mới, để chuyển cách mạng giải phóng dân tộc sang khuynh hướng mới, hình thức tổ chức mới, phương pháp hành động mới. Tạm gọi là khuynh hướng canh tân.

Thực tế trước mắt đã cho thấy rằng các phong trào Cần vương thất bại bởi thua kém võ khí, và nếu tiếp tục kháng chiến trong những điều kiện cũ, sẽ phải khó khăn hơn. Bấy giờ quân đội Pháp đã củng cố vị thế và kiểm soát được tình hình, có hy sinh thêm nữa dưới hình thức chiến đấu thuần túy quân sự, mà không có cải tiến về võ trang và phương pháp cũng sẽ đành thất bại thêm mà thôi.

Xã hội Việt Nam trong hai thập niên đầu của thế kỷ 20 tất nhiên du nhập ảnh hưởng của tư tưởng và văn minh tây phương, qua sự hiện diện của người Pháp tại Ðông Dương, và sự mở rộng chân trời kiến thức của người Việt trước hoàn cảnh mới của thế giới. Giới sĩ phu yêu nước cũng ý thức trào lưu tiến hóa về vật chất và thay đổi về tư tưởng. Trong bối cảnh một xã hội đang chuyển hướng đó, tư tưởng trung quân tuyệt đối và quân quyền truyền thống mờ nhạt đi, các quan niệm về dân chủ, tự do manh nha và phát triển. Cho nên chính giới sĩ phu Nho học, trong vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam, cũng tự họ thay đổi khuynh hướng cách mạng, từ chủ trương quân chủ tuyệt đối, sang quân chủ lập hiến như gương nước Nhựt.

Do đó, một số sĩ phu Việt Nam tìm cách xuất dương, sang Nhựt Bổn và Trung Hoa (Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu, Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể,…) với ba mục đích: tìm mua võ khí mới, tìm sự yểm trợ bên ngoài, và tổ chức đưa thanh niên Việt ra ngoại quốc để học hỏi văn minh tiến bộ mới (đào luyện nhân tài). Hai tổ chức quan trọng nhứt trong giai đoạn này là Ðông Du (xuất dương) và Ðông kinh Nghĩa thục (tại Hà Nội).

Nhìn ra bên ngoài thế giới, người Việt có ý thức cách mạng và chính trị, nhận thấy các biến cố mới xảy ra giữa Nhật Bổn và Trung Hoa (năm 1885 Trung Hoa phải nhượng đảo Ðài Loan cho Nhựt cai trị trong những điều kiện thua thiệt) giữa Nhựt Bổn và nước Nga trong trận hải chiến 1904-1905 (Nga thất bại). Hai biến cố này như những tia sáng mới khích lệ người Việt Nam đi theo tấm gương canh tân của nước Nhựt trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Thêm vào đó, cuộc cách mạng dân quyền Tân Hợi 1911 tại Trung Hoa, rồi cuộc cách mạng tháng 10-1917 tại Nga, chấm dứt các chế độ quân chủ, là những động lực thúc đẩy khuynh hướng cách mạng của người Việt phải tiến tới bằng những bước canh tân mạnh dạn hơn nữa. Ðệ nhứt thế chiến 1914-1918 đã đưa một số khá nhiều thanh niên Việt sang tham chiến tại Âu Châu trong hàng ngũ quân đội Pháp, lớp người này đã đem về Việt Nam một số nhận xét về nếp sinh hoạt, về tư tưởng mà họ đã hấp thụ trong không khí tự do dân chủ tại nước Pháp và Âu châu. Các tư tưởng gia Ðông phương Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu đề xướng cuộc canh tân mạnh mẽ cho xã hội Á Châu, cũng tạo ảnh hưởng khá sâu rộng đối với các sĩ phu Việt Nam.

Các biến chuyển kể trên, đồng thời với các sinh hoạt giáo dục và kinh tế xã hội trong chế độ cai trị của người Pháp, đã tạo nên trong xã hội Việt Nam một lớp người mới, về tư tưởng cũng như về vị trí xã hội. Lớp người này được xem như lớp tiểu tư sản kiểu Tây Âu, hấp thụ tư tưởng văn minh Tây phương, với kiến thức và suy luận duy lý, đã bước những bước dài hơn và mạnh hơn là chủ trương canh tân giới hạn của giới sĩ phu nho học. Ðây là lớp thanh niên Việt Nam mới, đã dứt khoát từ bỏ chủ trương cách mạng cần vương, đi thẳng vào con đường dân chủ hóa. Cũng từ thời kỳ này, vai trò của giới sĩ phu nho học chỉ còn giới hạn ở vị trí lãnh đạo tinh thần, như những bó đuốc lịch sử và những tấm gương hy sinh vì nước. Chính giới trí thức tân học sau này sẽ trở thành lớp lãnh đạo công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trong một bối cảnh xã hội mới.

3- GIAI ÐOẠN CANH TÂN: CÁCH MẠNG VỚI Ý THỨC DÂN TỘC DÂN CHỦ

Bắt đầu vào thập niên 30, người Việt Nam yêu nước ý thức rằng họ tham gia cách mạng không phải để phục hồi chế độ quân quyền, cũng không phải vì lòng trung thành với Thiên tử (vua chúa), mà chính là để phục vụ quốc gia và dân tộc, và để thiết lập một chế độ tự do dân chủ trong một nước Việt Nam độc lập. Tuy ý niệm quân chủ lập hiến vẫn còn phần nào giá trị trong nếp suy nghĩ của quần chúng trong một nước có truyền thống quân chủ lâu đời, nhưng phần đông giới thanh niên đều biểu lộ khuynh hướng dân chủ tự do rất rõ rệt và mạnh mẽ.

Một khuynh hướng cực đoan cũng phát sinh trong giới trí thức tân học. Ðó là lớp người hướng về chủ thuyết Mác xít, vì họ cho rằng Nga Sô sẽ giúp họ chống lại đế quốc tư bản. Số người này đã lựa chọn con đường đi vào hệ thống cộng sản quốc tế, dựa vào Nga Sô Viết để chống Pháp, đuổi Pháp, rồi sau đó thực hiện một cuộc cách mạng vô sản tại Việt Nam, trong tiến trình vô sản hóa thế giới.

Trong giai đoạn này, khởi đầu từ thập niên 30, nhiều tổ chức cách mạng Việt Nam đã xuất hiện, và một số còn tồn tại đến bây giờ.

Nam Ðồng Thư Xã (1927) sau trở thành Việt Nam Quốc Dân Ðảng, với cuộc nổi dậy lịch sử tại Yên Báy, do lãnh tụ Nguyễn Thái Học cầm đầu (10-2-1930), 13 chiến sĩ VNQDÐ bị Pháp hành quyết.

Ðại Việt Quốc Dân Ðảng thành lập năm 1941 bởi lãnh tụ Trương Tử Anh, ông bị Cộng sản hạ sát năm 1946.

Ðại Việt Duy Dân Ðảng thành lập năm 1942, bởi lãnh tụ Lý Ðông A. Ông mất tích trong đợt khủng bố tại Hòa Bình năm 1946, Cộng sản hạ sát nhiều cán bộ của đảng này.

Việt Nam Phục Quốc Hội, thành lập bởi Kỳ ngoại hầu Cường Ðể, đã tấn công vị trí quân sự Pháp tại Lạng Sơn năm 1940, lãnh tụ Trần Trung Lập bị giết. Kỳ ngoại hầu Cường Ðể tạ thế năm 1951 tại Ðông Kinh (Nhựt).

Ðông Dương Cộng Sản Ðảng thành lập năm 1930 do Hồ Chí Minh, dựa vào hệ thống Cộng sản đệ tam quốc tế Nga Sô, để đoạt thắng lợi đấu tranh tại Việt Nam. Ðảng này đã cai trị miền Bắc Việt Nam từ 1954 đến 1975, và cai trị toàn bộ Việt Nam sau 30-4-1975.

Phật Giáo Hòa Hảo, một tôn giáo cách mạng thành lập năm 1939 tại miền Nam Việt Nam, do Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ, và sau này thành lập thêm chánh đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội (1946). Năm 1947, Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ bị Cộng sản ám hại và vắng mặt từ thời điểm đó.

Cao Ðài Giáo, một tôn giáo cách mạng khác thành lập tại miền Nam, sau 1928, bởi ông Ngô Văn Chiêu, và sau đó được chỉ đạo bởi Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Ông bị Pháp bắt và đày biệt xứ tại Madagascar, rồi sau này từ trần tại Cao Miên trong giai đoạn đi lưu vong thời chế độ Ngô Ðình Diệm.

Ngoài các tổ chức cách mạng trên đây được xem là vẫn tiếp tục hoạt động và tồn tại từ khi thành lập đến ngày nay, còn có nhiều nhóm tranh đấu khác có tầm vóc giới hạn và đời sống ngắn ngủi hơn, như: Việt Nam Nghĩa Ðoàn, Việt Nam Hưng Quốc (1925), Việt Nam Thanh niên Cách mạng, Tân Việt Cách Mạng Ðảng (1925), Phạm Hồng Thái, Trịnh Văn Căn… Trong Nam Việt có các phong trào Thiên Ðịa Hội, đảng Việt Nam Quốc Gia Ðộc Lập, đảng Lập Hiến, nhóm Ðệ Tứ, tổ chức Bình Xuyên… đều đã có đóng góp vào công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp để giải phóng dân tộc. Các tổ chức này ngày nay đã không còn hoạt động và hiện diện như một chánh đảng hay tổ chức nữa, tuy rằng vẫn còn những cá nhân bảo tồn danh nghĩa. Nhưng tất cả đều như các mảnh vụn trong kiến trúc Cách mạng Việt Nam, bị nghiền nát bởi khủng bố đàn áp của thực dân, cộng sản và các chế độ cộng hòa sau 1954.

Trong giai đoạn canh tân này, các tổ chức cách mạng áp dụng hình thức tổ chức, phương pháp và chiến thuật đấu tranh khác với giai đoạn Cần vương. Hình thức tổ chức có tính cách dân chủ, và tập thể chỉ huy, thay vì lãnh tụ chế như trước kia. Phương pháp đấu tranh bây giờ đa dạng, chớ không chỉ có võ trang kháng chiến. Các tổ chức này vận dụng lực lượng quần chúng vào đấu tranh, tham gia biểu tình chống đối, sử dụng hiệu lực văn hóa vào công tác tuyên truyền cách mạng, hoặc nêu lên các yêu sách công khai, hoặc tổ chức bí mật ám sát phá hoại địch… Về chiến thuật, các tổ chức đấu tranh này đưa dần phong trào cách mạng từ các hình thức chính trị sang cách mạng, từ ôn hòa sang bạo lực, từ phản đối bất hợp tác sang võ trang kháng chiến… Ðây cũng là những phương pháp và chiến thuật đấu tranh thích hợp với từng hoàn cảnh mới, và một phần được du nhập vào Việt Nam qua các sách vở và kinh nghiệm Tây phương.

4- HAI KHUYNH HƯỚNG QUỐC GIA VÀ QUỐC TẾ

Ðiều quan trọng nảy sanh trong giai đoạn này và sẽ chi phối lâu dài tương lai nước Việt Nam, là sự manh nha của hai khuynh hướng dị biệt và đối nghịch trong hàng ngũ cách mạng chống lại thực dân Pháp. Tuy rằng mỗi tổ chức cách mạng đều theo chủ thuyết riêng, nhưng nói chung, tất cả đều nêu lên mục tiêu là đòi chủ quyền độc lập quốc gia, cho nên tất cả các tổ chức cách mạng này được xếp hạng chung vào một khối quen gọi là Khối Quốc Gia. Duy có một tổ chức tự tách mình ra khỏi Khối Quốc Gia, để đi theo hệ thống quốc tế của cộng sản chủ nghĩa, với mục tiêu tối hậu không phải là độc lập quốc gia, mà là vô sản hóa toàn thế giới. Ðó là Ðông Dương Cộng Sản Ðảng do Hồ Chí Minh thành lập năm 1930, dựa vào Mạc Tư Khoa, và được Nga Sô yểm trợ.

Với chiêu bài chống đế quốc tư bản thực dân để giải phóng các dân tộc nhược tiểu bị trị , Nga Sô đã làm cho một số người Việt Nam tin theo và dựa vào Mạc Tư Khoa để thực hiện cách mạng. Ngược lại, những chiến sĩ cách mạng Việt Nam trong Khối Quốc Gia lại cho rằng đảng Cộng sản Ðông Dương nằm trong hệ thống quốc tế của Nga Sô, chỉ nêu mục tiêu giải phóng dân tộc làm bình phong để trá hình mà vận dụng quần chúng, gây tạo uy thế, trong một giai đoạn chiến lược.

Sự khác biệt chủ trương đường lối này tiềm tàng trong lúc đầu sau đó từ tháng 9-1945, nổ bùng thành cuộc xung đột mãnh liệt giữa hai khuynh hướng Quốc gia và Quốc tế vào đầu thập niên 50, và trở thành đối nghịch sắt máu dưới hình thức chiến tranh thực sự khi chánh phủ Hồ Chí Minh thi hành chánh sách đàn áp đối lập từ tháng 8-1945.

Sự bùng nổ Ðệ nhị thế chiến vào tháng 9-1939 là cơ hội thuận tiện cho dân tộc Việt Nam phát động va tăng gia nỗ lực cách mạng giải phóng dân tộc. Quân đội Nhựt Bổn đến Ðông Dương, và nước Việt Nam bị đặt vào tình thế một cổ hai tròng dưới sự cai trị của hai đế quốc: Pháp và Nhựt. Tình trạng này kéo dài đến 9-3-1945, quân đội Nhựt lật đổ bộ máy quyền lực Pháp tại Ðông Dương, tạo cơ hội duy nhất cho Hoàng đế Bảo Ðại tuyên bố Việt Nam Ðộc Lập, sau trên 80 năm Pháp thuộc. Tuy nhiên, Nhựt Bổn cũng không có thiện chí thực sự trả độc lập cho dân tộc Việt Nam cho nên bộ máy quân phiệt Nhựt vẫn nắm quyền thống trị, trong khi chánh phủ độc lập đầu tiên do thủ tướng Trần Trọng Kim cầm đầu không có thực quyền, mặc dầu đó là một nội các gồm những nhà trí thức khoa bảng nổi tiếng thời đó, tuy giàu lòng yêu nước, nhưng yếu kém ý thức chánh trị, không nhận thức được hiểm họa cộng sản, do đó đã để cho Việt Minh, không nhận thức được hiểm họa cộng sản, do đó đã để cho Việt Minh cướp mất cả chánh quyền lẫn cái thế chủ động.

Chỉ năm tháng sau, Nhựt hoàng đầu hàng Ðồng minh, Ðệ nhị thế chiến chấm dứt, toàn dân Việt Nam đồng loạt đứng dậy đòi độc lập thật sự. Ðây là cao điểm của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, được mệnh danh là Cách mạng Tháng Tám (1945). Nhưng cũng từ đó, khởi đầu những khó khăn khủng khiếp và đau khổ trường kỳ cho dân tộc Việt Nam.

Từ bên ngoài, đạo quân viễn chinh Pháp đã lên đường sang tái chiếm Ðông Dương. Từ bên trong, đảng Cộng sản Ðông Dương áp dụng kỹ thuật và thủ đoạn đã được huấn luyện nghiên cứu từ Mạc Tư Khoa, để chiếm đoạt quyền bính lãnh đạo, thể hiện vào chiến thuật hai mặt: Một mặt Hồ Chí Minh thỏa hiệp với Pháp chấp nhận quân đội viễn chinh Pháp của tướng Leclerc đổ bộ lên Bắc Việt hầu đánh đổi lấy sự công nhận của chánh phủ Pháp để Hồ Chí Minh có tư cách đại diện chánh thức quốc gia Việt Nam; và mặt khác, dựa vào vị thế chánh quyền, đảng Cộng sản Ðông Dương thi hành kế hoạch tiêu diệt các tổ chức và lãnh tụ cách mạng nào không đồng ý với đường lối của họ. Những nạn nhân đầu tiên của chánh sách tiêu diệt đối lập này là các tổ chức Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Ðài, Ðệ Tứ, Quốc gia Ðộc lập Ðảng trong miền Nam, và các chánh đảng Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt và Duy Dân Ðảng ở miền Bắc, tất cả đều đã bị Cộng sản khủng bố và sát hại rất khắc nghiệt.

Từ đó về sau mối mâu thuẫn giữa hai khuynh hướng Quốc gia và Quốc tế trong hàng ngũ cách mạng chống Pháp tại Việt Nam trở thành một cuộc chiến tranh ý thức hệ, không còn chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, mà càng ngày càng mở rộng ra để trở thành cuộc tranh chấp quốc tế giữa Hoa Kỳ tiêu biểu cho khối Tư bản và Thế giới Tự do, và bên kia là Nga Sô cầm đầu khối Cộng sản quốc tế.

Với sự can thiệp quốc tế, cuộc chiến tại Việt Nam khởi đầu là chiến tranh chống thực dân xâm lược Pháp, với mục tiêu độc lập quốc gia, sau này biến thái thành một cuộc thế giới chiến tranh tuy giới hạn về địa dư, nhưng liên hệ mật thiết đến quyền lợi chiến lược của các siêu cường và các khối quyền lực quốc tế.

Trong khi hầu hết những cuộc tranh đấu giải phóng dân tộc của các nước nhược tiểu bị trị từ trước đệ nhị thế chiến, đã đưa các dân tộc này đến độc lập và hòa bình khi chủ quyền đất nước đã được lấy lại, thì cuộc chiến tại Việt Nam vẫn còn tiếp tục, cho mãi đến ngày nay, mà vẫn chưa thấy có viễn tượng của sự chấm dứt. Nếu kể từ 22-9-1940 là ngày quân đội Nhựt tràn từ Quảng Tây sang Lạng Sơn, khởi đầu không khí chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam, cho đến thời điểm 1987 này, thì cuộc chiến Việt Nam đã kéo dài gần nửa thế kỷ rồi. Một điều rất rõ ràng được rút ra trong sự so sánh Việt Nam với các quốc gia bị trị trước đệ nhị thế chiến, là: tại Việt Nam đã xảy ra hai cuộc chiến tranh cách mạng: Khởi đầu là cách mạng giải phóng dân tộc, nhưng sau đó là chiến tranh do Mốt Cu và Hà Nội kéo dài thêm để thực hiện cách mạng vô sản quốc tế.

Và đó chính là thảm trạng của dân tộc Việt Nam.

5- NHẬN XÉT VỀ ƯU THẾ CỦA CỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM

Hầu hết các thuộc địa cũ của Pháp ngày nay đã độc lập và hòa bình, ngoại trừ Việt Nam vẫn triền miên trong chiến tranh và đang là một trong những quốc gia nghèo khổ nhứt thế giới. Dù có biện bạch cách nào cũng không thể phủ nhận nguyên nhân chính yếu là do đảng Cộng Sản của ông Hồ Chí Minh đã nhìn mục tiêu độc lập quốc gia chỉ là một chặng đường trên lộ trình vô sản hóa thế giới, do đó mà ông phải tiếp tục chiến tranh để đạt mục tiêu chiến lược tối hậu của Cộng sản quốc tế.

Dân tộc Việt Nam tham gia cách mạng với mục tiêu chủ quyền độc lập, nhưng ông Hồ Chí Minh đã lợi dụng lòng yêu nước đó để phục vụ cho mục tiêu riêng của đảng Cộng Sản.

Cựu Tổng thống Huê Kỳ Richard Nixon trình bày về chiến lược quốc tế liên hệ đến Việt Nam, trong cuốn sách No More Vietnams đã viết như sau:

Quốc gia Việt Nam phải được độc lập. Trong hai thập niên 1920 và 1930, sự thù ghét chế độ thuộc địa đi đôi với ý thức sâu xa về quốc gia dân tộc, kết hợp thành gốc rễ của phong trào chống Pháp. Quan điểm thời trang cho rằng riêng đảng Cộng sản của Hồ Chí Minh tranh đấu cho độc lập, thực ra chỉ là quan điểm mơ hồ.

Ðệ nhị Thế chiến là một khúc quanh lịch sử. Sự việc Nhật Bổn chiếm lãnh vùng Ðông Nam Á đã làm tan vỡ hào quang của quyền lực thực dân Tây phương. Ngay khi nền độc lập quốc gia đến trong tầm tay, thì Hồ chí Minh tàn nhẫn tiêu diệt các tổ chức chánh trị đối lập. Trong thời kỳ đệ nhị thế chiến, họ Hồ đã cẩn thận tính toán trước những bước đi để sau này nắm lấy chính quyền. Khi Ðệ nhị Thế chiến vừa chấm dứt, cơ hội đến, họ Hồ áp dụng thủ đoạn nham hiểm và tàn độc để tiêu diệt những phần tử đối lập nào có tổ chức võ trang. Khi Nhựt Bổn đầu hàng, Hồ Chí Minh nhanh chân nhảy thẳng vào chiếm khoảng trống quyền lực… (*)

Học giả D.G.E. Hall đã khẳng định quy trách cho chánh sách thiển cận và ngoan cố của Pháp như là nguyên nhân chính yếu tạo nên ưu thế và sức mạnh của Cộng sản tại Ðông Dương:

Ðiều bất hạnh là chính sự ngoan cố của Pháp đã tạo ra tình huống đó. Trong khi cộng sản ở các quốc gia khác đã thất bại, và không còn hấp dẫn đối với đa số quần chúng, thì riêng tại Ðông Pháp, Cộng sản lại ưu thắng, chiếm được quyền lãnh đạo trên các đảng phái yêu nước. Nguyên nhân duy nhất là thái độ ngoan cố của Pháp… (**)

Một tác giả khác đã biểu lộ quan điểm tổng kết tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam như sau:

Thật vậy, Việt Nam là một trường hợp đặc biệt, nhưng dân tộc Việt Nam là một dân tộc bất hạnh nhứt thế giới. Trong khi các dân tộc khác ở Ðông Nam Á đã thoát khỏi ách thống trị của thực dân và đã trở thành các quốc gia độc lập thịnh vượng, thì Việt Nam vẫn tiếp tục đau khổ trong chiến tranh trường kỳ. Ðó là sự bất hạnh toàn diện và lớn lao. Về địa lý chánh trị, Việt Nam là một quốc gia bị khổng lồ Trung Quốc liên tục uy hiếp, suốt từ năm 111 trước Tây lịch, cho đến thế kỷ 17, Việt Nam đã trải qua biết bao hy sinh lớn lao để tự vệ và bảo tồn đơn vị quốc gia.

Ðiều bất hạnh thứ hai là do định mệnh lịch sử, Việt Nam bị thống trị bởi thực dân Pháp, một đế quốc thiển cận và tham tàn nhứt. Ðệ nhị Thế chiến chấm dứt là cơ hội chung, các đế quốc đều chấp nhận trả chủ quyền độc lập cho các thuộc địa, chỉ riêng có Pháp là ngoan cố, đem chiến hạm và quân đội viễn chinh đến tái lập quyền lực thuộc địa tại Việt Nam, như đã làm ở thế kỷ 19. Vì tham vọng quyền lợi, Pháp đã bắt tay với quỷ Satan, tức hợp tác với tay sai của Mạc Tư Khoa, thay vì phải hợp tác với dân tộc Việt Nam. Qua thương thuyết và hiệp ước, Pháp tạo cho Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam vị thế chánh thống nắm quyền cai trị Việt Nam; nhờ ưu thế chánh quyền mà Hồ Chí Minh đã tiêu diệt các lãnh tụ cách mạng quốc gia, để rồi sau đó lại quay mặt đánh Pháp.

Cố bám lấy thế chủ động, Pháp xoay qua điều đình với những giới đối lập Hồ Chí Minh, trong một giải pháp quốc gia, nhưng vẫn nuôi dưỡng âm mưu đen tối đầu cơ cả hai phe quốc gia và cộng sản, để thủ lợi riêng cho đế quốc Pháp. Thực dân Pháp không bao giờ thực tâm muốn trả chủ quyền độc lập cho dân tộc Việt Nam. Thái độ đó của Pháp đã làm suy yếu uy tín của những người Việt ái quốc theo khuynh hướng quốc gia, đưa dần đến thất bại quân sự tại chiến trường Ðiện Biên Phủ và sau hết đưa đến việc ký kết hiệp định Giơ neo 1954, Pháp trao cho Hồ Chí Minh toàn quyền thống trị miền Bắc Việt Nam, làm bàn đạp để tiến chiếm toàn bộ lãnh thổ năm 1975.

Ðiều bất hạnh sau cùng của Việt Nam là đồng minh Hoa Kỳ. Nhơn danh đại cường quốc lãnh đạo bảo vệ thế giới tự do, Huê Kỳ lại đã hành động thiếu tư tưởng và thiếu quyết tâm của cấp lãnh đạo. Cho nên sau bao nhiêu xương máu hy sinh để bảo vệ tiền đồn cho thế giới tự do, bỗng nhiên Việt Nam bị đồng minh Huê Kỳ bỏ rơi, vì lúc đó Huê Kỳ đã thay đổi mục tiêu chiến lược, hy sinh Việt Nam cho quyền lợi riêng của Hoa kỳ. Lịch sử lại một lần nữa tái diễn: Việt Nam lại trở thành nạn nhân của quyền lợi chiến lược siêu cường, trong lịch sử hiện đại cũng giống như trong thời trung cổ xưa kia.

Rốt cuộc ngày 30-4-1975, thiết giáp xa Nga Sô cán sập cửa dinh Ðộc Lập tại Sàigòn. Ðối với Huê Kỳ, một trang sử Việt Nam đã lật qua, một giai đoạn cuộc chiến Việt Nam chấm dứt. Và giai đoạn mới bắt đầu, đây là lúc hàn gắn những vết thương chiến tranh, hòa giải dân tộc, tái thiết quốc gia, thực hiện các nguyện vọng của người dân. Nhưng đó lại không phải là mục tiêu của đảng Cộng sản Việt Nam. Ðảng này không nghĩ đến nền độc lập quốc gia mà còn phải tiến lên mục tiêu vô sản hóa thế giới, cho nên chưa cho dân tộc Việt Nam được sống hòa bình và tái thiết.

Trên 10 năm đã đi qua, vẫn chưa có độc lập hòa bình, và câu nói không có gì quý hơn độc lập tự do của Hồ Chí Minh rõ ràng chỉ là chiêu bài giai đoạn lừa phỉnh dân tộc Việt.

Với chánh quyền trong tay đảng Cộng sản, dân tộc Việt Nam tiếp tục sống trong chiến tranh và nghèo đói thêm. Biết đến bao giờ cuộc cách mạng của dân tộc Việt Nam đạt đến mục tiêu Tự do và Ðộc lập?

Hãy nghe thêm một người Pháp nhận xét về chánh sách sai lầm của chánh phủ Pháp tại Việt Nam, với sự khẳng định rằng chính Pháp đã làm cho Việt Nam mất vào tay Cộng sản. Linh mục Seitz, đến truyền đạo tại Việt Nam từ 1937, đã nêu ra các nhận xét sau đây để trả lời câu hỏi ÀÀTại sao chiến tranh Việt Nam kéo dài lâu như vậy, và tại sao Cộng sản thắng thế?

Không thể hiểu được thảm kịch ngày nay của dân tộc Việt Nam, nếu không tìm hiểu các nguyên nhân xa xưa của cuộc chiến tại đó.

Trước khi lãnh nhiệm vụ sang Việt Nam, tôi có tham dự tuần lễ hội thảo đề tài Àchánh sách thuộc địá, và nhớ rằng lập trường của giáo hội Pháp là ÀMọi chánh sách thuộc địa đều thống trị được một thời gian mà thôi và đều phải kết thúc với sự trưởng thành của dân tộc bị trị. Cũng giống như Lyautey đã nói: ÀMột thuộc địa được cai trị tốt đương nhiên phải đạt sự trưởng thành, nếu không được thế là do chánh sách cai trị sai lầm vậý. (Une colonie bien administrée évolue nécessairement vers son émancipation, sinon cest qúelle est mal administrée.)

Năm 1937, tôi đến Việt Nam, thuộc địa Pháp đang tiến mạnh, nhưng điều đầu tiên tôi cảm nhận là Àchúng ta, một cường quốc thực dân, đã không làm đúng bổn phận hướng dẫn thuộc địa đến trưởng thành.

Chúng ta đã không khám phá và lượng giá được lòng ái quốc nồng nhiệt, sâu xa và khả kính đang sôi sục trong trái tim người Việt, để mà có một chánh sách thích nghi và cấp thiết. Giai tầng trí thức Việt Nam đã có những người xuất thân ở các đại học danh tiếng (Polytechnique, Centrale) của Pháp, nhưng khi hồi hương họ bị bạc đãi như thuộc cấp chớ không được xem như những trí thức lãnh đạo xứ sở họ. Ðó là chính chúng ta đã đào luyện họ thành những địch thủ tương lai. Những người Việt ái quốc trí thức đó, nuôi nấng nguyện vọng xứ sở mình được độc lập, nhưng trong tình huống bị chúng ta đối xử bạc đãi như thế, thử hỏi họ phải hướng về đâu? Hướng về chánh quốc, vô ích thôi! Sau Ðệ nhứt Thế chiến 1914-1918, những trí thức trẻ của Việt Nam đã tìm hướng về Cộng sản quốc tế sau cách mạng tháng 10-1917 tại Nga.

Từ thời điểm (thập niên 1920) Hồ Chí Minh bỏ Paris sang Moscow, đến khi ông ta nắm chánh quyền tại Hànội 1945, dẫn đến sự toàn chiếm Việt Nam 1975, tôi đã sống gần 40 năm tại xứ này, và có thể tóm luận rằng nguyên nhân sâu xa chính là do lỗi của Pháp đã bất chấp tinh thần ái quốc tiềm tàng trong trái tim người Việt, cho nên hậu quả là nền độc lập quốc gia Việt Nam mà Pháp không chịu trao trả đúng cách đúng lúc, đương nhiên phải bị cưỡng chiếm lại bằng chiến tranh. Chúng ta không biết ủng hộ chánh nghĩa của người Việt, thì tất có kẻ khác đóng vai trò đó. Chính là Cộng sản.

Ðó là tình huống đã xảy ra: lòng ái quốc, và lý tưởng dân tộc của người Việt đã bị Cộng sản chụp lấy. Nga Sô đào luyện cán bộ cách mạng bằng tư tưởng Mác-xít, rồi yểm trợ các nhu cầu vật chất (tiền bạc, võ khí) cho đám cán bộ đó nắm quyền hành tại Việt Nam, củng cố từng giai đoạn để tiến chiếm toàn bộ Việt Nam năm 1975. Ðó là kết quả của một giai đoạn bành trướng chủ nghĩa Cộng sản trên nửa thế kỷ vừa qua.

Bây giờ nước Pháp ngoái nhìn lại lịch sử vừa qua để thấy rằng sau thảm kịch Việt Nam, đến Algérie, chúng ta mới tỉnh ngộ để trả độc lập cho 11 thuộc địa tại Châu Phi. Ðúng là Àcon người vẫn là kẻ tập sự, và sự đau thương chính là ông thầy dạý (LHomme est un apprenti, la douleur est son maitre.)

Những điều trình bày sơ lược trên đây về giai đoạn lịch sử từ khi Pháp đến xâm chiếm Việt Nam đến khi Cộng sản toàn chiếm lãnh thổ Việt Nam (1856-1975: 110 năm) đưa ra ánh sáng một số điểm căn bản sau đây:

1. Giai đoạn 90 năm (1856-1945) dân tộc Việt Nam âm thầm chịu đựng chánh sách thống trị tham lam và tàn bạo của thực dân Pháp, nhưng vẫn đề kháng liên tiếp.

2. Giai đoạn kế tiếp 30 năm (1945-1975) dân tộc Việt Nam toàn bộ nổi dậy, chiến đấu chống lại chủ trương tái chiếm thuộc địa của Pháp, nhưng rốt cuộc vẫn chỉ là dịch chủ tái nô: thực dân Pháp ra đi (1955) đế quốc Nga thay thế đặt toàn bộ lãnh thổ Việt Nam trong hệ thống Cộng sản Quốc tế (1975).

3. Tuy thực dân Pháp chấm dứt thế lực thống trị Việt Nam từ 1955, nhưng Pháp vẫn là một nguyên nhân của sự toàn chiếm Việt Nam 1975 bởi cộng sản, do chánh sách sai lầm đối với dân tộc Việt Nam và do chủ trương cấu kết với Cộng Sản Việt Nam từ 1946 để mưu đồ tái lập chế độ tân thuộc địa tại Việt Nam.

4. Tuy công cuộc tranh đấu giải phóng đất nước Việt Nam đến nay chưa thành công, và chánh nghĩa của dân tộc Việt Nam đã bị thực dân và cộng sản tiếm đoạt, nhưng dân tộc Việt đã chứng tỏ trước thế giới ý chí quật cường bất khuất của một dân tộc anh hùng, qua cuộc chiến đấu bảo vệ quyền tự tồn tự chủ chống lại 1,050 năm đô hộ của Trung Hoa, trên 100 năm đô hộ của Pháp, và tiếp tục chống chủ trương đô hộ của đế quốc Nga Sô.

5. Tuy nhiên, ý chí quật cường bất khuất của dân tộc Việt Nam, mặc dầu đã được xem như yếu tố tinh thần căn bản của dân tộc Việt để tự tồn tự chủ từ giai đoạn lập quốc qua bao lần xâm lược của khổng lồ Trung Hoa, đã không đủ để quyết định thắng lợi từ khi các đế quốc Tây phương sang chiếm thuộc địa Á Châu.

Bởi vì từ đây Việt Nam phải đối phó một loại xâm lược quốc tế mới lạ, khác hẳn tương quan song phương trước kia giữa Trung Hoa và Việt Nam trong hoàn cảnh một thế giới khép kín, không có sự liên kết và can thiệp quốc tế.

Từ khi các đế quốc Tây phương chia nhau làm chủ các thuộc địa Á Châu, vận mệnh các dân tộc bị trị không những bị chi phối bởi chính đế quốc thống trị, mà còn bởi các áp lực quốc tế khác, chia chác quyền lợi, ảnh hưởng. Tương quan quốc tế càng ngày càng càng trở nên đa dạng, đa phương, phức tạp, chằng chịt thành những sợi dây trói buộc các nước nhỏ trong các tình trạng yếu kém thất thế, mất chủ động. Thế giới chia ra từng khối, các siêu cường quốc và cường quốc trao đổi quyền lợi, qua phân ảnh hưởng, thỏa hiệp hay đối nghịch nhau, tạo ra sức ép thường xuyên với các áp lực chính trị, quân sự, tài chánh, kinh tế, đè nặng và chi phối vận mệnh các quốc gia nhỏ yếu.

Thực tại thế giới từ thế kỷ 19 tới nay là như vậy, tuy rõ ràng là bất công, nhưng đã trở nên một quy luật của mối tương quan thế giới. Các cường quốc có uy thế chi phối, thế giới ngày nay sức mạnh võ khí và kinh tế ưu thắng hơn sức mạnh tinh thần, cho nên Việt Nam đã lâm vào hoàn cảnh bi thảm nhứt, bất hạnh nhứt so với mọi quốc gia Á Châu, với một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài đã trên nửa thế kỷ, mà vẫn chưa thấy có hy vọng chấm dứt, chủ quyền quốc gia vẫn bị ngoại bang chi phối và xã hội suy thoái trong cảnh nghèo đói thê thảm.

Ðể kết luận phần này: dân tộc Việt Nam chẳng may bị lọt vào ách thống trị của thực dân Pháp, cho nên đã phải chịu đựng giai đoạn thống khổ đau thương cho đến nay đã trên một thế kỷ.

Tổ chức Phật Giáo Hòa Hảo, đề tài nghiên cứu biên khảo của cuốn sách này, với số lượng quần chúng đông đảo khoảng hai triệu tín đồ, đương nhiên là một thành phần hoạt động trong suốt tiến trình đấu tranh chống Pháp, chống Cộng, như sẽ được trình bày trong các chương sau đây.

GỬI Ý KIẾN
Tên của bạn
Email của bạn
Đánh giá (tùy ý)
Nhập những ký tự ở hình bên vào ô bên dưới.
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Đi thăm cha và chuyện kể trong tù

Đi thăm cha và chuyện kể trong tù

Tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lía
Nguyễn Ngọc Lụa – Buổi sáng hôm 18/7, gia đình chúng tôi, là thân nhân của tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lía, có chuyến đi xuống trại giam Xuân Lộc, Đồng Nai cùng với gia đình tù nhân lương tâm Bùi Văn Trung, cha tôi bị bắt tù 2 lần, lần đầu vào năm 2003 với mức án là 3 năm chỉ vì cha tôi là một tín đồ Phật giáo Hòa Hảo và hoạt động để phát triển tôn giáo, lần thứ 2 ông bị bắt tiếp vào năm 2011 với án 4 năm 6 tháng theo điều 258.

Đợi đến 9h sáng, viên công an mới vào kiểm tra giấy chứng minh nhân dân, rồi sau đó lại chờ họ đưa tất cả chúng tôi vào xe đi về hướng trại giam. Đến nơi thì vừa lúc cơn mưa lớn trút xuống đột ngột.
Vừa thấy cha, cả gia đình mừng vui, mẹ tôi thì đã không kiềm được và đã bật khóc khi cha hỏi thăm về bà nội ngay khi gặp. Cha nói chuyện phải dùng máy trợ thính nên nghe câu được câu mất.
Cha tôi hỏi viên công an đứng kế bên về tờ giấy mà viên giám thị trại giam mới vừa lấy của cha, tờ giấy mà ông ghi những ý chính để nói với gia đình chúng tôi, vì giờ trí nhớ không được tốt nên ông phải ghi ra để nói hết tất cả những điều muốn nói trong thời gian ít ỏi quý báu này. Khi lấy tờ giấy của ông, giám thị trại giam bảo để họ xem xét các ý trong đó và sẽ đưa lại ngay, nhưng trong suốt giờ thăm gặp ngắn ngủi, cha đã nhiều lần nhắc nhở và lên tiếng bảo họ trả lại. Nhưng họ chỉ bảo rằng họ đang xem, và cứ thế cho đến hết giờ thăm gặp, họ vẫn chưa xem xong tờ giấy.
Cha tôi dặn dò từng người anh em tôi kỹ lưỡng, rằng không được tin những gì Cộng sản hứa hay nói gì, vì từ trước đến nay họ đã hứa rất nhiều nhưng toàn dối trá nói một đằng làm một nẻo, Cộng sản là loại ăn cháo đá bát bất nhân bất nghĩa.
Từ lần thăm nuôi trước đến nay, cha tôi có viết gửi về nhà 3 lá thư nhưng khi ông hỏi lại, thì ở nhà chỉ nhận được 1 lá. Và ở gia đình có viết cho cha 1 lá nhưng cha cũng không được nhận. Và một điều bất công nữa là các phạm nhân ở đây thì có thể điện về nhà nhưng riêng ông thì không được. Cha bảo chúng tôi rằng chỉ có ở Việt Nam mới có tình trạng giấu nhẹm thư tù nhân tôn giáo như thế này, cũng như gây khó khăn trong việc giao tiếp, thăm nuôi từ bên ngoài hòng làm sụt giảm ý chí họ cũng như cô lập họ trong 4 bức tường giam
Cha kể cho chúng tôi biết người tù giam phòng kề bên vừa mới ra đi vì căn bệnh AIDS, ông bảo thêm rằng riêng tháng vừa rồi có đến 3 người chết vì căn bệnh này trong cùng một trại giam. Làm tôi nhớ đến lời anh Huỳnh Minh Trí, người cũng đã vừa mới chết vì căn bệnh AIDS, theo anh Trí là chứng nhân, anh nói có cả thấy 14 người đã chết vì AIDS mà anh biết cho đến khi ra rù. Tôi không khỏi lo lắng cho cha mình có tránh được căn bệnh mà chính quyền đã chủ tâm luôn muốn hại những tù nhân lương tâm như thế này không?
Cha bảo họ đối xử với những phạm nhân đã nổi loạn tại trại giam K1, Xuân Lộc, Đồng Nai lần trước rất dã man, họ đánh đập tàn nhẫn những người đó, thậm trí họ quỳ lạy van xin nhưng những đòn trừng phạt vẫn lạnh lùng nện xuống. Sau đó là biệt giam họ, đồng thời tăng án lên gấp đôi bản án họ đã lãnh nhận trước đó
Vậy đó, khi họ ngược đãi tù nhân, những người tù đã vùng lên khỏi song sắt để phản đối lại, hầu mong tình trạng nhà tù được tốt hơn, thì sau đó số phận những tù nhân không được cải thiện hơn mà lại bì trù dập thê thảm như vậy.
Mỗi sáng và tối cha tôi đọc Sấm Giảng Thi Văn của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ cho nhiều người nghe và kể những lời vàng ngọc của Đức Thầy răn dạy người đời làm lành lánh dữ, ông khuyến khích những người phạm nhân ăn chay và Niệm Phật để nhận được sự giải thoát khỏi những gian khổ và thoát khỏi mọi tội lỗi vì do mình gây ra . Chúng bảo ông làm những việc bao đồng đó nữa thì ông sẽ bị biệt giam, cha vẫn kiên quyết giảng về Phật Giáo Hòa Hảo vì cha biết được rằng họ rất có nhu cầu và khao khát vấn đề tâm linh nơi ngục tù này.
Một lần ông bị chúng bắt biệt giam vì giúp đỡ một người bệnh nặng chung phòng, chú ấy ngoài 60 tuổi án chung thân, có thức ăn gì cha tôi điều chia phần chú vì hơn 7 năm gia đình không lại thăm nuôi, trong người mang nhiều chứng bệnh nặng lại bị mất 1 chân, nên đi lại rất khó khăn vì thế việc vệ sinh cá nhân diễn ra trong một túi nylon, nên cha tôi vì lòng thương người cùng chung cảnh tù thường giúp chú đi bỏ túi nylon, nhưng không ngờ cán bộ trại giam lại phản đối cha về hành động giúp đỡ này, nhưng cha vẫn tiếp tục làm điều đúng lương tâm khi họ bỏ mặc chú ấy, vậy là họ biệt giam cha tôi, nhưng ông đấu tranh và cầm trong tay cục đá tuyên bố sẽ đập đầu chết nếu họ không thôi biệt giam, vì lo sợ cha tôi chết nên họ đành phải nhượng bộ.
Đây đúng là những sự vi phạm nhân quyền rất trắng trợn của chính sách đối đãi tù nhân của chính quyền. mà chính họ đã ký kết với quốc tế về các công ước về đối xử với tù nhân
Tôi bỗng thấy cha trầm tư và u buồn vì ông biết nhà tù là nơi để răn dạy con người để họ có cơ hội trở lại thành người tốt, và dù họ là phạm nhân nhưng họ vẫn rất cần tình yêu thương để giúp họ dần tái nhập lại cuộc sống sau sai phạm nhưng thật tiếc, tù ở Việt Nam chỉ trù dập những tù nhân và nhất là loại trừ những tù nhân lương tâm và tôn giáo như ông bằng cách gián tiếp đẩy người tù vào những căn bệnh như AIDS, lao và nhiễm độc thực phẩm dẫn đến ung thư
Tôi để ý thấy 2 viên công an ngồi ghi chép cách rất tỉ mỉ và liếng thoáng lại lời của những người chúng tôi và cha tôi, cứ như thể ghi lại những lời nói hớ hên quá sự cho phép của họ để làm bằng chứng tội phạm vậy.
Nhưng ông vẫn nói bằng một tinh thần kiên quyết và thoải mái về những sai trái của trại giam, của những cai ngục, ông cho gia đình biết về tình trạng sức khỏe cũng như cách đối xử của cán bộ trại giam : ông đang bị giam chung phòng với những người bị lao phổi rất nặng và những người bị HIV, nguy cơ bị lây nhiễm của cha là rất cao. Cha tôi có bệnh Tim và Cao huyết áp nhiều năm nay và những thương tật như Điếc một tai , gãy xươn Vai cùng xươn Sườn do bàn tay ác độc của cộng sản gây ra khi còn ở ngoài. Lúc trái gió trở trời vết thương đó hoành hành đau nhức dữ dội, ông yêu cầu được khám chúng điều ngó lơ,ông luôn phản đối bằng cách kêu la đập cửa phòng giam, chúng nhượng bộ. Gia đình có gởi thuốc vào mỗi khi bệnh cha biến chứng, qua sự kiểm soát của trại giam, chúng đã không đưa đến tay cha tôi mặc cho cha nằm chờ căn bệnh dày vò nhưng họ bảo” chưa chết lo gì”.
Ước mong giới tranh đấu trong cũng như hải ngoại sẽ lưu tâm, vận động mạnh mẽ hơn cho tình trạng nhà tù tại Việt Nam, và hy vọng sẽ nhớ đến cha tôi trong những lần vận động cho nhân quyền và tự do tôn giáo để cha sẽ sớm trở về chữa bệnh và đoàn tụ cùng cùng gia đình.
Cuộc thăm nuôi ít ỏi của gia đình nhanh chóng qua đi, cán bộ trại giam nhanh chân đưa cha tôi vào, gia đình đành chia tay ông, anh em chúng tôi đã dặn cha cứ hãy viết thư về cho gia đình, họ có không gửi cũng chẳng sao, chỉ thể hiện sự bất lương của họ cho mọi người biết chế độ độc tài thối nát của Cộng sản. Chúng tôi từ biệt cha lần cuối vừa lúc cơn mưa vừa tạnh hạt.
 
Categories: Uncategorized | Leave a comment

Blog at WordPress.com.