Đánh lại cũng khó mà ngồi yên cũng khó

Trương Nhân Tuấn

24-8-2019

Chỉ có một lý do để giải thích vì sao TQ dồn VN đến chân tường qua việc cho tàu HD8 vào sâu trong hải phận EEZ của VN, ngoài khơi Phan Thiết. Đó là TQ muốn “chiến tranh”. Việt Nam chắc chắn không thể ngồi yên để cho tàu bè nghiên cứu, tàu hải giám (và quân sự?) của TQ ra vô vùng biển thuộc quyền tài phán của quốc gia mình như chỗ không người.

Vì sao?

Có lẽ vì TQ không muốn các xí nghiệp rút đi từ TQ, do chiến tranh thương mại với Mỹ, sang đặt căn cứ ở VN (hay các quốc gia ASEAN). Nếu các xí nghiệp này không “trụ” lại ở TQ thì sẽ không thể đi đâu hết. Nếu không làm việc này thì không bao lâu TQ gặp hiểm nguy. TQ trở thành phụ thuộc với Mỹ. Hàng hóa xuất xứ từ TQ sẽ bị hàng hóa xuất xứ từ VN (hay các quốc gia ASEAN) thay thế. Lúc đó Mỹ (và thế giới) sẽ không cần TQ nữa (mà TQ thì ngược lại, luôn lệ thuộc vào kinh tế Mỹ và thế giới).

TQ cũng có tính toán chiến lược. Theo một lý thuyết “địa chính trị” của tây phương mà các lãnh đạo TQ như Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông… bị ảnh hưởng sâu xa. Một đại cường muốn giữ được vị thế của mình thì sẽ không bao giờ cho phép một quốc gia kế cận có cơ hội vươn lên thành cường quốc.

Thực tế cho thấy, thời thời chiến tranh lạnh, đại cường Liên Xô không cho phép bất kỳ một “vệ tinh” nào của khối XHCN có cơ hội “ngang mặt” với Liên Xô. Ta cũng thấy toàn bộ lục địa Châu Mỹ, không một quốc gia nào có thể thách thức được vị trí của Hoa Kỳ.

Vì vậy TQ sẽ không bao giờ để cho VN một cơ hội phát triển để “thoát Trung”, chớ đừng nghĩ tới VN trở thành “đại cường” thách thức TQ.

Hiện nay TQ răn đe áp thuế trên 75 tỉ USD hàng hóa nhập khẩu từ Mỹ. Trump xem đó như một khiêu khích, tức thời ra lệnh đánh thuế từ 10 lên 15% trên các mặt hàng TQ dự kiến áp thuế từ ngày 1 tháng 9/2019. Còn các mặt hàng dự kiến đánh thuế 25% thì tăng lên 30% dự kiến có hiệu lực ngày 1 tháng 10/2019.

TQ có “phục tùng” ông Trump vì các hành vi áp thuế này hay không?

Theo tôi là không. Bởi vì, đến thời điểm hiện nay, Mỹ cần TQ hơn TQ cần Mỹ. Đơn giản vì Mỹ không (hay chưa) có hàng hóa thay thế hàng TQ. Ngay cả khi các xí nghiệp Mỹ “hồi hương”, thì vấn đề thiếu hụt công nhân sẽ khiến cho Mỹ chậm trễ trong việc “tự túc”.

Nhưng nếu Mỹ tức thời có lệnh cấm xuất khẩu hàng hóa sang TQ, như lời đồn đại?

TQ có thể thay thế hàng hóa nhập từ Mỹ bằng hàng hóa nhập từ Nhật và Châu Âu hay không, hoặc TQ có thể tự động sản xuất những mặt hàng thay thế, là các yếu tố quan trọng cho “chiến tranh thương mại”.

Và nếu Mỹ cấm vận TQ (như đồn đại trên mạng), không cho TQ sử dụng đồng đôla thì cũng có nguồn tin cho rằng TQ đang vận động để thay thế đồng đôla bằng vàng. Mọi thanh toán của TQ từ nay không tính bằng đôla mà bằng vàng.

Trở lại vấn đề, VN đang trong thế bị ép đến cùng đường. Đánh lại cũng khó mà ngồi yên cũng khó.

Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Triển khai nghị quyết 50-NQ/TW của Bộ Chính trị ở đâu và như thế nào?

Triển khai nghị quyết 50-NQ/TW của Bộ Chính trị ở đâu và như thế nào?

Nguyễn Ngọc Chu

23-8-2019

Ngày 20/8/2019 TBT Nguyễn Phú Trọng đã ký Nghị quyết số 50-NQ/TW trong đó yêu cầu “Xây dựng cơ chế đánh giá an ninh và tiến hành rà soát an ninh đối với các dự án, hoạt động đầu tư nước ngoài có hoặc có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia”(Tuổi trẻ 22/8/2019).

Đây là một quyết định tuy rất muộn nhưng đúng hướng. Dẫu muộn còn hơn không!

I. AN NINH QUỐC GIA LÀ TỐI THƯỢNG

An ninh Việt Nam từ năm 1987 đến nay đã bị lũng đoạn bởi người hàng xóm phương Bắc. Chính họ chứ không ai khác là thế lực thù địch duy nhất của Việt Nam hiện nay. Sự thức tỉnh của Nghị quyết 50-NQ/TW:

“Tiến hành rà soát an ninh đối với các dự án, hoạt động đầu tư nước ngoài có hoặc có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia”
là một tín hiệu rất đáng mừng.

II. THỰC THI MỚI LÀ QUAN TRỌNG

Dẫu vậy, từ Nghị quyết 50-NQ/TW trên giấy đến thực tiễn là một con đường rất dài. Hiệu quả thực tế cuối cùng mới là thước đo thành công của Nghị quyết 50-NQ/TW. Có 2 hướng chính phải hành động quyết liệt.

1. Rà soát lại an ninh của các dự án đang tồn tại. Những nơi nào ảnh hưởng và nguy hiểm đến an ninh thì phải có những biện pháp loại bỏ.

2. Không duyệt các dự án mới tiềm ẩn nguy cơ an ninh quốc gia.

III. NHỮNG ĐIỂM ĐÁNG LƯU Ý CỦA NGHỊ QUYẾT 50-NQ/TW

Theo Tuổi trẻ ngày 22/8/2019 thì Nghị quyết 50-NQ/TW có mấy điểm nổi bật đáng lưu ý sau đây.

1. Đề cao tiêu chí an ninh quốc gia

“Tiến hành rà soát an ninh đối với các dự án, hoạt động đầu tư nước ngoài có hoặc có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia”.

2. Đề cao tiêu chí công nghệ tiên tiến và chống ô nhiễm môi trường

“Chủ động thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu”.

“Ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ sạch, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu”.

3. Chống đầu tư “chui”, “núp bóng”

IV. NHỮNG HIỂM HỌA CỦA CÁC DỰ ÁN ĐẾN TỪ TRUNG QUỐC

Để giúp xác định đâu là các dự án nguy hiểm cho an ninh quốc gia phù hợp với Nghị quyết 50-NQ/TW, xin lưu ý 9 nhóm hiểm họa đến từ các dự án của Trung Quốc mà tham chiếu.

1. Bị cài cắm gián điệp.
2. Bị cấy người bằng đội quân thứ 5.
3. Không hiệu quả về kinh tế.
4. Không tiếp cận được công nghệ và thiết bị tiên tiến.
5. Không được sử dụng các thành phẩm chất lượng.
6. Bị ô nhiễm và độc hại.
7. Bị lây lan bệnh hối lộ tham nhũng, đút lót…
8. Bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu trong lao động và trong cuộc sống.
9. Bị sa vào con nợ kinh tế khó có lối thoát.

V. MỤC TIÊU CẤP THIẾT CỤ THỂ

Nghị quyết 50-NQ/TW đã chỉ ra hiện tượng NÚP BÓNG và CHUI trong các dự án đầu tư nước ngoài. Chiếu theo Nghị quyết 50-NQ/TW thì:

1. Không giao dự án đường cao tốc Bắc – Nam cho Trung Quốc. Vì nó nguy hiểm cho an ninh quốc gia.

2. Không cho hàng hóa Trung Quốc tràn qua Việt Nam, núp bóng hàng hóa Việt Nam xuất đi các nước. Để tránh các nước trừng phạt Việt Nam.

3. Không triển khai các dự án có công nghệ lạc hậu đến từ Trung Quốc.

VI. LO LẮNG

Nghị quyết 50-NQ/TW có ba dòng kẻ thù đang tìm cách cản trở. Đó là:

1. Lực lượng Trung Quốc, thân Trung Quốc, và chịu ảnh hưởng của Trung Quốc trong nội bộ Việt Nam.

2. Sự chống trả của Trung Quốc từ ngoài.

3. Cơ chế làm tha hóa và vô hiệu hóa lực lượng người Việt chịu trách nhiệm thực thi Nghị quyết 50-NQ/TW.

Cuối cùng thì bộ mặt lộ liễu ngang ngược của Trung Quốc ở Bãi Tư Chính đã làm cho thế lực bị ảnh hưởng bởi Trung Quốc phải tạm thời lùi bước.

Mạnh hơn, tiến tới phải loại bỏ chúng hoàn toàn khỏi đời sống chính trị Việt Nam. Làm được như vậy an ninh quốc gia mới bớt phần nguy hiểm.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Bãi Tư chính: ‘Rủi ro đụng độ quân sự cao’ khi đối đầu lần hai?

Bãi Tư chính: ‘Rủi ro đụng độ quân sự cao’ khi đối đầu lần hai?

Bãi Tư Chính: Diễn biến mới khi Hải dương 8 quay lại biển Việt Nam

Đối đầu lần hai ở bãi Tư Chính và khu vực lân cận trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc đang tăng cao và nếu không được quản lý đúng mức, sẽ có thể tạo ra rủi ro đụng độ quân sự cao, một nhà nghiên cứu an ninh và chính trị khu vực từ Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Iseas, Singapore) bình luận.

“Nếu tàu chiến hai bên vờn nhau, bên Trung Quốc hộ tống và bao bọc tàu thăm dò trái phép, bên Việt Nam đuổi tàu thăm dò trái phép, và bây giờ, là đuổi cả tàu chiến Trung Quốc, thì rủi ro đụng độ quân sự sẽ tăng cao”, TS. Hà Hoàng Hợp, nhà nghiên cứu cao cấp của Viện Iseas nói với BBC News Tiếng Việt hôm 18/8/2019 từ Hà Nội.

“Cuộc tập trận của Trung Quốc trước khi xảy ra vụ Tư Chính, trước khi có cuộc họp các ngoại trưởng Asean và các cuộc gặp Asean với Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Ấn Độ, EU…. thực chất là Trung Quốc dọa nạt Việt Nam và các nước Asean có tuyên bó chủ quyền ở biển Đông,” vẫn theo ông Hà Hoàng Hợp.

Bãi Tư Chính: ‘Việt Nam lại phản đối và yêu cầu TQ rút tàu đi’

‘Nếu gây chiến ở Biển Đông, Trung Quốc sẽ hở sườn’

Trở lại bãi Tư Chính, toan tính của Trung Quốc đã rõ?

VN ‘quá rụt rè trước TQ’ trong vấn đề Biển Đông

Dưới đây là toàn văn cuộc trao đổi được thực hiện qua bút đàm với nhà quan sát và nghiên cứu chính trị này.

BBC: Tình hình cập nhật hiện nay ở khu vực đối đầu giữa Trung Quốc và Việt Nam trên Biển Đông thế nào, theo quan sát của Tiến sỹ?

Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp: Một số nguồn tin cho biết có ít nhất một tàu chiến Việt Nam đang làm nhiệm vụ thực thi pháp luật biển ở vùng bãi Tư Chính. Nếu tin này đúng, thì đây không phải lần đầu Việt Nam dùng tàu hải quân thực thi pháp luật trên biển. Năm 1994, tàu hải quân Việt Nam đã xua đuổi tàu thăm dò Trung Quốc khỏi vùng bãi Tư Chính.

Việc sử dụng tàu hải quân để thực thi pháp luật trên biển là hợp pháp, và cũng là biện pháp hòa bình kiên quyết hơn.

Nhưng nó cũng tăng rủi rô đụng độ quân sự giữa Việt Nam và Trung Quốc ở vùng biển gần bãi Tư Chính.

Rủi ro đụng độ quân sự?

TS. Lê Hồng Hiệp từ Singapore bình luận thực chất việc TQ điều tàu trở lại Bãi Tư Chính.

BBC:Có tin tức cho hay nhiều tàu của Trung Quốc ‘đang kéo vào’ và Việt Nam ít nhất đã cử hai tàu chiến ra khu vực, nếu các thông tin này là có cơ sở, diễn biến này có ýnghĩa thế nào và có thể có hệ lụy ra sao, thưa ông?

TS. Hà Hoàng Hợp: Các nguồn tin cũng cung cấp đồ họa AIS của sự chuyển vận của ít nhất 2 tàu chiến Trung Quốc hướng về vùng biển gần bãi Tư Chính.

Biển Đông: ‘Rủi ro không nhỏ’ nếu TQ quay trở lại Bãi Tư Chính

Thương chiến Mỹ – Trung, đối đầu Biển Đông và thách thức với TQ

Biển Đông: “Nhiều khả năng TQ sẽ trở lại Bãi Tư Chính với dàn khoan”

TQ: Tập Cận Bình đang gặp thách thức lớn nào?

Nếu tàu chiến hai bên vờn nhau, bên Trung Quốc hộ tống và bao bọc tàu thăm dò trái phép, bên Việt Nam đuổi tàu thăm dò trái phép, và bây giờ, là đuổi cả tàu chiến Trung Quốc, thì rủi ro đụng độ quân sự sẽ tăng cao.

Với tình hình này, hải quân hai nước cần thực hiện đúng CUES (thỏa thuận không ràng buộc nhằm tránh các đụng độ không chủ định.)

Nếu không theo CUES, lại để xảy ra đụng độ, thì chắc hẳn sẽ có đụng độ quân sự lớn hơn và tình hình sẽ trở nên vô cùng khó quản trị.

Tập trận dọa nạt ai?

BBC: Mới đây Trung Quốc tiến hành tập trận ở Biển Đông, việc này diễn ra gần như trùng thời gian với sự kiện đối đầu từ đầu tháng Bảy ở bãi Tư Chính và vùng nước kề cận, mục đích của đợt tập trận này là gì?

TS. Hà Hoàng Hợp: Cuộc tập trận của Trung Quốc trước khi xảy ra vụ Tư Chính, trước khi có cuộc họp các ngoại trưởng Asean và các cuộc gặp Asean với Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Ấn Độ, EU…. thực chất là Trung Quốc dọa nạt Việt Nam và các nước Asean có tuyên bố chủ quyền ở biển Đông, việc bắn bắn tên lửa diệt hạm từ tàu chiến và từ đất liền, đảo… là đe dọa xung đột với hải quân đối với Mỹ và tất cả các nước có hoạt động hải quân trên vùng biển quốc tế.

Bà Lê Thị Thu HằngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTái diễn vi phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc là nghiêm trọng theo người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Lê Thị Thu Hằng

Đấy cũng là cảnh báo Mỹ khi Mỹ tiến hành tuần tra tự do hàng hải.

Trung Quốc đang làm mọi cách để chiếm biển Đông sau khi tuyên bố về đường 9 đoạn.

Ngày 16 tháng Tám, Việt Nam đã ra tuyên bố tiếp tục yêu cầu Trung Quốc rút nhóm tàu. Phát ngôn viên ngoại giao Việt Nam khẳng định Việt Nam sẽ kiên quyết và kiên trì bảo vệ quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam bằng mọi cách.

BBCHiệu ứng, hiệu quả của việc phát ngôn của Việt Nam hôm 16/8 phản đối Trung Quốc “tái xâm phạm nghiêm trọng” chủ quyền của Việt Nam ra sao? Phía Trung Quốc sẽ tiếp tục phớt lờ và sẽ còn có thêm các động thái khác gây quan ngại hơn với Việt Nam hay thế nào, theo ông?

TS. Hà Hoàng Hợp: Trung Quốc đã và đang phớt lờ yêu cầu rút nhóm tàu khỏi vùng biển quanh bãi Tư Chính là nơi Việt Nam có chủ quyền kinh tế, có quyền chủ quyền và quyền tài phán.

Trung Quốc từ thương chiến đến Biển Đông

VN: ‘Bãi Tư Chính’ và Cơ hội thoát Trung

Quan hệ Việt – Trung: Bãi Tư Chính là thời điểm thay đổi với VN?

Carl Thayer: ‘Tam giác ngoại giao VN, TQ và Mỹ sẽ còn căng’

Sau khi rút tàu thăm dò ra bãi Chữ Thập để lấy dầu… Trung Quốc lại đưa tàu thăm dò đó vào vừng bãi Tư Chính, tiến hành thăm dò ở một vùng mặt nước khác với đợt trước ngày 8 tháng Tám.

Bài báo trên Tạp chí Forbes
Image captionMột bài báo đăng trên tạp chí Forbes hôm 17/8/2019 nhắc đến tâm gương của Việt Nam và Malaysia trên Biển Đông cho Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte

Cùng lúc, Trung Quốc đã đưa thêm một số tàu chiến vào vùng biển thuộc Philippines, thách thức chủ quyền và các quyền khác của Philippines. Như vậy, Trung Quốc đang dọa nạt 3 trong 4 nước Asean có tuyên bố chủ quyền ở biển Đông.

Bản chất là Trung Quốc muốn chiếm trên 90% biển Đông. Và muốn ép các nước Asean công nhận thứ chủ quyền đó bằng một quy tắc ứng xử có lợi cho Trung Quốc và có hại cho Asean.

Việt Nam là tấm gương?

BBC: Trái lại với các ý kiến quan ngại rằng Việt Nam có chính sách khá ‘yếu mềm’ trước Trung Quốc, mới đây đã có nhà nghiên cứu quốc tế cho rằng Việt Nam (và cả Malaysia) thực ra đều có đối sách mạnh mẽ và khôn ngoan mà khu vực, cụ thể là Philippines, cần học tập, thậm chí ý kiến này còn gợi ý rằng Tổng thống Rodrigo Duterte nên đi thăm Việt Nam và Malaysia trước khi tới Trung Quốc, để học hỏi đối sách của hai nước nàytrước Trung Quốc về Biển Đông, ‎ông có nhận xét gì?

TS. Hà Hoàng Hợp: Thực tế người ta chưa hiểu hết bản chất của chính sách của tổng thống Philippines Duterte.

Philippines có lợi thế lớn và căn bản, là tòa PCA đã có phán quyết phủ nhận mọi yêu sách của Trung Quốc liên quan đến Philippines.

Tổng thống Duterte vừa qua đã tiếp ông Hoàng Bình Quân, trưởng ban đối ngoại trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, chắc chắn ông ấy hiểu rõ chính sách và hành động của Việt Nam ở biển Đông.

Philippines cũng có lợi thế lớn lao, là quan hệ đồng minh với Mỹ.

Cho dù có khác biệt giữa ba quốc gia: Philippines, Malaysia, Việt Nam, cả ba quốc gia đều đang hành động để chống lại đường lối bá quyền ở biển Đông của Trung Quốc.

BBC: Cuối cùng, quốc tế và khu vực đang quan sát ra sao các động thái liên quan tới Trung Quốc trên Biển Đông vào thời điểm này, nhất là cùng lúc Trung Quốc dường như đang gặp không ít thách thức ở đối nội, tại Hong Kong lẫn ở khu vực và bên ngoài? Có dự đoán hay cảnh báo gì đáng kể không từ các giới quan sát về tình hình an ninh ở khu vực hiện nay và cho thời gian tới đây?

Tàu Hải Dương 8 trở lại, Việt Nam phải làm gì?

TS Hà Hoàng HợpBản quyền hình ảnhBBC NEWS TIẾNG VIỆT
Image captionTrung Quốc đẩy mạnh việc chiếm hơn 90% biển Đông sau khi đã quân sự hóa 7 đảo nhân tạo, theo nhà phân tích

Bãi Tư Chính: Nhận thức của người dân VN ‘đã cao hơn trước’

Tuyên bố chung ASEAN nhắc đến ‘sự cố nghiêm trọng’ ở Biển Đông

Nhật Bản quan ngại về căng thẳng Biển Đông

TS. Hà Hoàng HợpHiện nay, Trung Quốc đang phải xử lý các vấn đề phát triển kinh tế, thương mại trong lúc đang gặp khó khăn với Mỹ về các vụ áp thuế.

Trung Quốc cũng cần đẩy mạnh sáng kiến vành đai và con đường. Trung Quốc đang gặp khó khăn trong vụ Hong Kong. Vấn đề Đài Loan, biển Hoa Đông, Tân Cương, biên giới với Ấn Độ v.v… là các vấn đề lớn đối với Bắc Kinh.

Chiến lược biển Đông của Trung Quốc không có gì thay đổi; Trung Quốc đẩy mạnh việc chiếm hơn 90% biển Đông sau khi đã quân sự hóa 7 đảo nhân tạo.

Nếu so sánh lúc này, với thời kỳ giữa thế kỷ 18, trước khi Trung Quốc bị các nước phương Tây chia cắt, có thể thấy có một số điểm tương tự: Trung Quốc đang thực hiện chính sách bá quyền trước hết là ở châu Á, bất chấp các quy tắc chung. Trung Quốc đe dọa an ninh khu vực, làm mất niềm tin của láng giềng.

Vấn đề chắc không phải là vì gặp khó khăn bên trong, thì gây ra điều gì ở bên ngoài để đánh lạc hướng dư luận nội bộ.

Vấn đề của Trung Quốc là chính sách bá quyền của Trung Quốc đang vấp phải sự phản kháng từ cộng đồng quốc tế, trong đó có Việt Nam.

Đường lối bá quyền lúc này của Trung Quốc không hứa hẹn hòa bình ít nhất cho khu vực châu Á.

Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp, mà phần trả lời ở trên là quan điểm cá nhân, đồng thời là thành viên nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) có trụ sở tại London, Anh quốc, ông có nhiều nghiên cứu và phân tích về chính trị, chiến lược và địa chính trị liên quan Việt Nam, quốc tế và khu vực.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tàu Hải Dương 8 vào gần bờ biển VN, ‘cách Phan Thiết 185km

Tàu Hải Dương 8 vào gần bờ biển VN, ‘cách Phan Thiết 185km’

Ryan Martinson / TwitterBản quyền hình ảnhRYAN MARTINSON / TWITTER
Image captionChuyên gia Ryan Martinson đăng bản đồ vị trí tàu Hải Dương Địa Chất 8 trong buổi sáng ngày 24/8 (giờ Việt Nam)

Tàu Hải Dương Địa Chất 8 của Trung Quốc hôm thứ Bảy mở rộng hoạt động tới khu vực sát với bờ biển của Việt Nam hơn, ngay sau khi Úc và Mỹ lên tiếng tỏ ý quan ngại về các hoạt động của Bắc Kinh tại Biển Đông.

Trong ngày 24/8 giờ Việt Nam, ông Ryan Martinson, thành viên chủ chốt của Viện Nghiên cứu Hải quân Trung Quốc thuộc Đại học Chiến tranh Hải quân, Hoa Kỳ, đăng tweet rằng tàu Hải Dương 8 đang khảo sát ở vị trí rất gần với bờ biển Việt Nam.

Việt Nam, Úc bày tỏ quan ngại về căng thẳng ở Biển Đông

Bãi Tư Chính: VN tái yêu cầu Trung Quốc rút tàu

Tàu Hải Dương 8 quay trở lại Bãi Tư Chính

Tàu khảo sát, với sự hộ tống của ít nhất bốn tàu khác, đang tiếp tục tiến hành khảo sát Vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam ở vị trí cách đảo Phú Quý 102km về phía đông nam và cách bờ biển Phan Thiết 185km, Reuters dẫn nguồn dữ liệu từ Marine Traffic, trang chuyên theo dõi sự di chuyển của các tàu bè.

Theo luật quốc tế, vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia được tính với bề rộng 200 hải lý (370km) kể từ đường bờ biển, và là vùng quốc gia đó có quyền chủ quyền khai thác tài nguyên.

Biển ĐôngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTrung Quốc sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, trong đó có các tàu ‘nghiên cứu’ Hải Dương Địa Chất, đưa vào các khu vực ‘tạo tranh chấp’ và có tranh chấp ở Biển Đông và khu vực

Các dữ liệu cũng cho thấy có ít nhất hai tàu hải quân Việt Nam theo sát nhóm tàu Trung Quốc.

Việt Nam ‘vô cùng quan ngại’

Việt Nam “vô cùng quan ngại” về những diễn biến gần đây trên Biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói hôm thứ Sáu, trước khi có tin tàu Hải Dương Địa Chính 8 tiến vào sát hơn.

“Chúng tôi quan ngại sâu sắc về những diễn biến phức tạp gần đây trên Biển Đông, nhất trí cùng hợp tác, bảo đảm duy trì hoà bình, ổn định an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình,” nhà lãnh đạo Việt Nam phát biểu.

Đây cũng là lần đầu tiên một lãnh đạo thuộc giới cao cấp nhất Việt Nam chính thức lên tiếng kể từ khi Trung Quốc cho nhóm tàu Hải Dương Địa Chính 8 vào khu vực Bãi Tư Chính ở ngoài khơi Vũng Tàu.

Thủ tướng Phúc phát biểu trong cuộc họp báo chung với Thủ tướng Úc trong chuyến thăm ba ngày của ông Scott Morrison tới Việt Nam.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lên tiếng về tình hình Biển Đông

Vị khách đến từ Australia cũng thúc giục các nước láng giềng của Trung Quốc không nên chịu đựng, không nên để chủ quyền của mình bị đe dọa.

Ông Morrison nói rằng luật quốc tế cần phải được tôn trọng, trong đó gồm các nguyên tắc căn bản liên quan tới việc tự do hàng hải, tự do hàng không, đảm bảo cho các quốc gia được theo đuổi các cơ hội khai thác tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế của mình và trong vùng biển của mình.

Chỉ vài tiếng sau phát biểu của Thủ tướng Phúc, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đáp trả với việc đòi được “tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán”.

Phát ngôn viên Cảnh Sảng, tại cuộc họp báo thường lệ, nói thêm rằng Trung Quốc hy vọng “các nước có liên quan… hợp tác với Trung Quốc để duy trì sự hòa hợp và yên bình tại các vùng biển có liên quan”.

Kể từ đầu tháng Bảy tới nay, các tàu của Việt Nam và Trung Quốc đã liên tục trong tình trạng đối đầu tại Bãi Tư Chính.

Mỹ cam kết đảm bảo an toàn năng lượng ở vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương

Hôm thứ Năm, Hoa Kỳ cũng nói quan ngại sâu sắc về việc Trung Quốc can thiệp vào các hoạt động dầu khí ở vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền.

Trong thông cáo báo chí, Washington cũng thẳng thừng lên án việc đưa tàu khảo sát và nhóm tàu hộ tống có vũ trang của Trung Quốc hôm 13/8 vào lại vùng biển ngoài khơi Việt Nam, gần khu vực Bãi Tư Chính, và nói việc đưa tàu tới là “việc Bắc Kinh leo thang nhằm hăm dọa các bên khác có tuyên bố quyền khai thác các nguồn tài nguyên ở Biển Đông”.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionPhát ngôn viên Morgan Ortagus nói việc đưa tàu tới là “việc Bắc Kinh leo thang nhằm hăm dọa các bên khác có tuyên bố quyền khai thác các nguồn tài nguyên ở Biển Đông”

“Hoa Kỳ mạnh mẽ phản đối việc Trung Quốc tìm cách đe dọa hoặc ép buộc các nước đối tác không được hợp tác với các hãng không phải là của Trung Quốc, hoặc bằng các cách khác quấy rối các hoạt động hợp tác đó,” phát ngôn viên Morgan Ortagus nói.

Mỹ cũng cam kết sẽ “thúc đẩy an toàn năng lượng cho các đối tác và đồng minh ở vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương và đảm bảo việc khai thác dầu khí trong khu vực sẽ không bị gián đoạn”, thông cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ nói.

Ngay lập tức, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Cảnh Sảng hôm thứ Sáu cáo buộc Washington “gieo rắc chia rẽ và có những động cơ không nói ra”, nhằm “gây hỗn loạn tình hình ở Biển Nam Hải (cách Trung Quốc gọi Biển Đông) và làm tổn hại hòa bình, ổn định trong khu vực.”

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Vấn đề Biển Đông sẽ “nóng” tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52

Vấn đề Biển Đông sẽ “nóng” tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52

Từ ngày 29/7 đến 3/8 sẽ diễn ra Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52 (AMM-52) và một số hội nghị liên quan tại Bangkok, Thái Lan.

Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN tại Hội nghị AMM-51

Theo Bộ Ngoại giao Thái Lan, Hội nghị AMM-52 với chủ đề “Kết nối, Sự bền vững, Môi trường và Tài chính toàn diện” nhằm mang lại lợi ích cho tất cả các thành viên. Ngoài các vấn đề chính, Thái Lan trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2019 cũng hy vọng rằng, ASEAN sẽ là một trung tâm đàm phán toàn cầu liên quan đến những vấn đề như Mỹ – Triều Tiên, xung đột Biển Đông và những vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai.

Trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2019, Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan Don Pramudwinai sẽ chủ trì AMM và đồng chủ trì các hội nghị PMC với các đối tác đối thoại cùng những hội nghị khác, trong đó bao gồm cuộc gặp giữa các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR), Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN+3 (APT), Hội nghị Bộ trưởng Cấp cao Đông Á (EAS) và Diễn đàn Khu vực ASEAN lần thứ 26 (ARF). Một số hội nghị liên quan bao gồm các hội nghị hợp tác tiểu vùng, như Hội nghị Bộ trưởng Sáng kiến Hạ nguồn Mekong (LMI) lần thứ 12, Hội nghị Bộ trưởng Hợp tác sông Mekong – sông Hằng lần thứ 10, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Mekong – Hàn Quốc lần thứ 9, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Mekong – Nhật Bản lần thứ 12.

Theo tờ The Nation dẫn lời một quan chức ngoại giao cao cấp của Thái Lan cho biết các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN sẵn sàng thảo luận với các đối tác toàn cầu về những biện pháp kết nối và hợp tác, sau khi văn kiện Quan điểm của ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương được các nhà lãnh đạo ASEAN thông qua hồi tháng 6.

Đáng chú ý, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 51, ASEAN đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong triển khai chủ đề “Tự cường và sáng tạo”. Theo đó, các nước ASEAN nhấn mạnh tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế-phát triển cả trong nội khối cũng như với các Đối tác; tập trung đẩy mạnh kết nối khu vực (triển khai hiệu quả Kế hoạch tổng thể Kết nối ASEAN gắn với các Kế hoạch phát triển tiểu vùng và liên khu vực khác), phát triển bền vững (gắn kết Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN với các mục tiêu phát triển bền vững của LHQ đến 2030, triển khai công tác thu hẹp khoảng cách phát triển), đổi mới và sáng tạo để tận dụng các tiến bộ của công nghệ mới từ Cách mạng công nghiệp 4.0 (trong đó có phát triển kinh tế số, hình thành Mạng lưới các thành phố thông minh ASEAN, số hóa dữ liệu…). ASEAN cũng đã thể hiện bản lĩnh vững vàng trong ứng phó hiệu quả với các vấn đề khu vực; kịp thời bày tỏ tình đoàn kết và tương trợ cho Lào sau sự cố vỡ đập thủy điện, thông qua các hoạt động trợ giúp của Trung tâm điều phối hỗ trợ nhân đạo ASEAN-AHA.

ASEAN kiên trì giữ vững lập trường nguyên tắc về các vấn đề quan trọng có ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định khu vực như Biển Đông. Dù mức độ quan tâm khác nhau, các nước đều nhất trí những nguyên tắc cơ bản, cùng thảo thuận về quan điểm đối với các vấn đề trên thực địa cũng như về đàm phán Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Cho đến nay, ASEAN và Trung Quốc đã đạt được một văn bản dự thảo duy nhất đàm phán về COC được các Bộ trưởng ghi nhận, làm cơ sở tiếp tục đàm phán về COC.

ASEAN tiếp tục giữ được vai trò trung tâm trong điều hòa quan hệ với các Đối tác. Dịp này, ASEAN đã linh hoạt đáp ứng yêu cầu của các Đối tác Ấn Độ, Australia và Hàn Quốc về tổ chức Cấp cao mà không để ảnh hưởng nhiều đến quy định nội bộ của ASEAN.

Không những vậy, ASEAN và các Đối tác đạt nhất trí cao về cam kết ủng hộ và thúc đẩy hệ thống đa phương quốc tế dựa trên luật lệ, duy trì đà liên kết kinh tế, tự do hóa thương mại và đầu tư trong bối cảnh xu thế bảo hộ và chống toàn cầu hóa gia tăng. Hầu hết các Đối tác đều chia sẻ với ASEAN tầm quan trọng của việc duy trì trật tự dựa trên luật lệ, tôn trọng luật pháp quốc tế, ủng hộ vai trò của các thể chế đa phương, trong đó có WTO, khẳng định phối hợp tích cực sớm hoàn tất đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và phê chuẩn Hiệp định đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); cho rằng quan hệ thương mại-đầu tư là có đi có lại, cùng có lợi, nên các bên đều cần nỗ lực cân bằng và hài hòa lợi ích của nhau. Các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN cũng nêu vấn đề trao đổi thương mại với Mỹ, cho rằng các nước ASEAN chỉ đạt thặng dư về thương mại hàng hóa, trong khi lại thâm hụt về thương mại dịch vụ. Không chỉ đầu tư của Mỹ tạo ra công ăn việc làm ở các nước ASEAN mà đầu tư của ASEAN ra ngoài cũng tạo ra hàng trăm ngàn việc làm ở Mỹ. ASEAN và một số Đối tác tỏ quan tâm thúc đẩy khả năng xem xét đàm phán một số FTA mới như với Canada hoặc khôi phục đàm phán FTA trước đây gặp khó khăn như với EU (trong ASEAN đã có Singapore và Việt Nam lập FTA song phương với EU).

Cuối cùng, ASEAN nhất trí cần xây dựng cách tiếp cận chủ động đối với các sáng kiến/đề xuất hợp tác mới được đưa ra ở khu vực. Trước sự xuất hiện của nhiều sáng kiến, ý tưởng hợp tác mới như Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Vành đai & Con đường, Đối tác hạ tầng chất lượng cao v.v., ASEAN đã trao đổi và thống nhất cần hình thành cách tiếp cận chủ động để khai thác các điểm đồng của những sáng kiến này, trên cơ sở đáp ứng các nguyên tắc và mục tiêu đề ra của ASEAN, từ đó, tìm kiếm cơ hội hợp tác. Các Đối tác hoan nghênh cách tiếp cận nói trên của ASEAN. Một số nước tiếp tục mong muốn ASEAN đóng vai trò trung tâm trong chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương; trong khi đó, Trung Quốc đề nghị gắn kết chặt chẽ Sáng kiến Vành đai & Con đường với Kế hoạch tổng thể Kết nối ASEAN (MPAC) 2025.

Được biết, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh sẽ dẫn đầu đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52 (AMM52) và các Hội nghị liên quan. Ngoài ra, tham dự chuỗi các hội nghị ASEAN lần này có đại diện của hơn 30 nước, bao gồm các nước ASEAN, các nước đối thoại, các nước không phải là thành viên đối thoại tham gia ARF, và khách mời của chủ nhà như Na Uy, Peru, Thụy Sỹ và Thổ Nhĩ Kỳ. Đáng chú ý, Hội nghị AMM-52 diễn ra trong bối cảnh tình hình Biển Đông đang có nhiều diễn biến nguy hiểm. Trung Quốc đã đơn phương, trái phép điều tàu thăm dò địa chất Hải Dương 08 và nhiều tàu chấp pháp hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của Việt Nam. Có thể nói, hoạt động của nhóm tàu Hải dương Địa chất 8 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam không chỉ vi phạm nghiêm trọng Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS), mà còn xâm phạm trắng trợn các quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam tại khu vực phía nam Biển Đông.

Trước những hành vi này của Trung Quốc, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng (25/7) đưa ra tuyên bố cứng rắn, khẳng định quyết tâm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ ở Biển Đông, cho biết Việt Nam đã có nhiều hình thức giao thiệp ngoại giao phù hợp, trao công hàm phản đối phía Trung Quốc, yêu cầu các tàu rút ngay khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; nhấn mạnh Việt Nam kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán như đã được xác lập tại Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Với mục tiêu trên, Việt Nam đã có nhiều hình thức giao thiệp ngoại giao phù hợp, trao công hàm phản đối cho phía Trung Quốc, yêu cầu rút ngay khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Các lực lượng chức năng của Việt Nam triển khai các biện pháp phù hợp đúng pháp luật. Duy trì hòa bình, ổn định, đảm bảo tự do hàng không, hàng hải, đề cao thượng tôn pháp luật, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia như được xác lập tại Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 là lợi ích và trách nhiệm chung của các nước và cộng đồng quốc tế. Việt Nam hoan nghênh, sẵn sàng cùng các nước và cộng đồng quốc tế nỗ lực đóng góp vào mục tiêu nói trên vì hòa bình ổn định, hợp tác, phát triển của tất cả các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

Trước đó, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng (19/7) cho biết: “Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau, trao công hàm phản đối, kiên quyết yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam; tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam vì quan hệ hai nước và ổn định, hòa bình ở khu vực. Các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều biện pháp phù hợp thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam”. Bà Lê Thị Thu Hằng nhắc lại lập trường nhất quán của Việt Nam là kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 trước bất cứ hành vi nào xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển được xác định phù hợp với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định, việc duy trì trật tự, hòa bình, an ninh ở khu vực Biển Đông là lợi ích chung của các nước trong và ngoài khu vực cũng như cộng đồng quốc tế. Do đó, Việt Nam mong muốn các nước liên quan và cộng đồng quốc tế cùng nỗ lực đóng góp nhằm bảo vệ và duy trì lợi ích chung.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

giặc là ai? Ai là giặc?

Ngyễn Thùy Dương

14-8-2019

Không quá khó để bắt gặp đâu đó cách giải thích, tranh luận kiểu như là: “Đất nước này đã phải đánh đổi quá nhiều đau thương mất mát để có hoà bình. Cố gắng nhẫn nhịn đừng để các thế lực thù địch nhân cơ hội làm rối xã hội. Nếu chiến tranh nổ ra sẽ gây đau thương cho Nhân Dân. Dân tộc này đã quá dư đau khổ.”

Những câu nói như thế hay tương tự như thế là một lằn ranh khiến mọi phản ứng tự nhiên vô điều kiện vốn thuộc về mặt tích cực của con người để xây dựng một xã hội tiến bộ hơn bị chặn lại. Nhân Dân không được quyền tức giận với chính cái cơ chế do mình còng lưng ra nuôi để bảo vệ hoà bình Đất nước, không được mạnh mẽ phản đối những chính sách gây thiệt hại cho chính bản thân mình, gia đình mình vì sẽ tạo điều kiện cho các thế lực thù địch chống phá đất nước, không được quyền kêu cứu trước oan sai bất công của chính những” nhóm lợi ích thân quan” sẽ tạo hình ảnh xấu cho Đất nước, cho chính quyền.

Chiến tranh là nỗi ám ảnh của mọi dân tộc. Chiến tranh là đau thương chia lìa, là đau thương mất mát và đối với một số kẻ tiểu nhân: “Chiến tranh là con ngáo ộp để doạ dân”. Tiếc thay chúng ta không dư quân tử lại thừa tiểu nhân. Với luận điệu chống phá và xuyên tạc Nhân Dân bọn phản động dễ dàng hát những khúc ru hò như: “hãy cố chờ đợi từ từ rồi sẽ được giải quyết những oan sai bức xúc. Hoà bình quý giá, đừng tạo cơ hội cho thế lực thù địch lật đổ Chính quyền”.

Bọn phản động mặc nhiên cướp phá. Mặc nhiên đập nhà, cướp đất. Mặc nhiên xây dựng nhà máy nhiệt điện phá huỷ ngư trường. Mặc nhiên hạ từng cánh rừng thành đồi trọc. Mặc nhiên bức tử những dòng sông, con rạch. Mặc nhiên thu những khoản thu đã được đóng vào thuế khiến kẻ chết bị từ chối khai tử, kẻ sinh ra bị từ chối khai sinh, sinh viên bị từ chối cấp giấy chứng nhận để đến trường. Vẫn còn rất nhiều điều mặc nhiên nữa để rồi khi sự dối trá được lặp đi, lặp lại nhiều lần nó trở thành sự thật. Một sự thật dĩ nhiên rằng quan có quyền định đoạt vận mệnh của dân. Còn dân cam chịu nó như một lẽ dĩ nhiên. Điều đó đồng nghĩa với một xã hội phong kiến, chậm tiến, đau thương đang có mặt trên một thực tế rằng cả thế giới đang sống trong thời kì dân chủ, văn minh.

Thế nào là một đất nước hoà bình? Là không chiến tranh, an ổn, bình yên hạnh phúc. Là nụ cười mãn nguyện, là sống và làm việc để tận hưởng cuộc sống, phục vụ cộng đồng một cách viên mãn. Cái thứ Hoà bình cướp bóc, hoà bình bất công, hoà bình trơ tráo và dối trá chỉ là viễn vông, bỉ cực mà không hẹn ngày cam lai cho Nhân Dân.

Một dân tộc không chết vì bom đạn chiến tranh mà chết vì ung thư, vì tai nạn giao thông, vì ô nhiễm, vì lũ lụt. Nước mắt không rơi vì nhà bị giặc ngoại xâm đốt phá mà vì bị cưỡng chế cướp đất trắng trợn, phụ nữ không phải bị cưỡng hiếp bởi quân xâm lăng mà kéo từng đoàn sang nước ngoài làm gái mại dâm… Nhân Dân có chọn hoà bình này không? Tôi tin họ không chọn thứ hoà bình điên khùng ấy. Họ bị bó buộc vào thứ Hoà bình bất nhân.

Sẽ có người mắng chửi Nhân Dân tại sao không phản ứng mạnh mẽ. Dĩ nhiên là có người phản ứng mạnh mẽ, người không phản ứng. Đừng trách họ vì họ bị ám ảnh bởi những tiềm thức trong quá khứ khi loài thú vồ mồi. Con thú chỉ nhìn họ, nhìn cha mẹ anh em họ như một con mồi cho chúng đi săn. Quá khứ đó ám ảnh người ta khiến mọi phản kháng đều bị rụi tàn.

Khi giặc ngoài kia chưa bắn viên đạn nào vào Đất nước thì giặc trong này đã tàn phá gần xong Đất nước. Cuối cùng giặc là ai? Ai là giặc?

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Bãi Tư Chính: Rủi ro an ninh thế nào nếu Trung Quốc quay trở lại?

Bãi Tư Chính: Rủi ro an ninh thế nào nếu Trung Quốc quay trở lại?

Hải quân Việt NamBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionMười năm qua, Việt Nam chỉ chi tiêu cho quân sự dưới 40 tỷ USD, trong khi Trung Quốc chi khoảng trên dưới 2000 tỷ USD, theo nhà nghiên cứu

Nếu Trung Quốc chưa khảo sát xong, thì nước này có thể điều tàu và thiết bị quay trở lại để làm cho xong, do đó mà khả năng Trung Quốc quay trở lại khu vực Bãi Tư Chính và lân cận là không nhỏ, theo một nhà nghiên cứu chính trị và bang giao quốc tế từ Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Iseas, Singapore).

Cũng không ngoại trừ việc Trung Quốc tiến hành khai thác sau khi thăm dò, và những hành động này hàm chứa những nguy cơ và rủi ro an ninh ở khu vực rất cao và khó lường hết, Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp, nhà nghiên cứu cao cấp khách mời của Viện Iseas nói với BBC News Tiếng Việt hôm 10/8/2019 từ Hà Nội.

Sau đây là toàn bộ nội dung cuộc trao đổi được thực hiện qua bút đàm với nhà phân tích này.

Thương chiến Mỹ – Trung, đối đầu Biển Đông và thách thức với TQ

VN ‘quá rụt rè trước TQ’ trong vấn đề Biển Đông

Biển Đông: “Nhiều khả năng TQ sẽ trở lại Bãi Tư Chính với dàn khoan”

TQ: Tập Cận Bình đang gặp thách thức lớn nào?

BBCVụ việc ở khu vực Bãi Tư Chính đã tạm yên ổn chưa hay Trung Quốc sẽ quay trở lại với một hình thức nào đó? Nếu có thì đó là hình thức gì, thưa Tiến sỹ?

Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp: Phía Trung Quốc không tuyên bố lý do rút tàu, vì thế có thể phán đoán rằng, nếu tàu đó đã khảo sát địa chấn xong rồi, thì Trung Quốc hoàn toàn có thể kéo giàn khoan vào khoan thăm dò và nếu có dầu khí trữ lượng thương mại, họ sẽ khoan khai thác luôn.

Trong trường hợp chưa khảo sát xong, thì họ sẽ quay lại khảo sát cho đến khi xong. Khó có thể hình dung, rằng họ chưa xong, mà họ rút hẳn. Do chưa xong việc, Trung Quốc có thể điều tàu khảo sát khác vào.

Tóm lại, khả năng Trung Quốc quay lại bãi Tư Chính là cao, nếu phía Việt Nam không có các biện pháp hòa bình mạnh mẽ và kiên quyết hơn, ví dụ biện pháp pháp lý.

Quá tự tin, liều lĩnh?

Biển ĐôngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionHãng Rosneft của Nga có hoạt động hợp tác với Việt Nam ở khu vực mà Trung Quốc mới đưa tàu thăm dò địa chất vào và gây ra đối đầu căng thẳng từ đầu tháng 7/2019

BBC: Trong cuộc đối đầu vừa qua, ở khu vực có sự hiện diện liên quan lợi ích của các bên thứ ba, trong đó có doanh nghiệp của Nga và Nhật Bản, vì sao Trung Quốc quyết định đưa hàng chục tàu của họ vào? Phải chăng Trung Quốc quá tự tin hay đây là hành động liều lĩnh?

TS. Hà Hoàng Hợp: Việc quấy rối giàn khoan Harukyu 5 của Nhật thực hiện hợp đồng khoan với Rosneft ở khu vực lô 06-01 thực chất là thách thức trực tiếp lợi ích của các doanh nghiệp Nga, Nhật và Việt Nam bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, là một việc làm trái với luật pháp quốc tế, khiêu khích các bên liên quan, đe dọa dùng vũ lực đối với các bên liên quan là Nga, Nhật và Việt Nam.

Hành động này là liều lĩnh, nhưng có tính toán kỹ từ phía Trung Quốc, có tin rằng trong tháng Năm và tháng Sáu 2019, phía Trung Quốc đã yêu cầu Việt Nam một số điều vô lý liên quan đến liên doanh Rosneft. Và trong thời gian từ ngày 3 tháng Bảy, phía Trung Quốc đòi Việt Nam phải buộc giàn khoan Nhật dừng hoạt động, rút khỏi lô 06-01.

Chúng ta nhớ lại rằng năm 2017, phía Trung Quốc đã hỏi Nga rằng về hoạt động liên doanh của Rosneft, Zarubezneft… ở biển Đông, phía Nga đã trả lời rằng các doanh nghiệp Nga cho biết họ đang hoạt động một cách hợp pháp ở biển Đông.

Như vậy, vụ việc lần này ở bãi Tư Chính và vùng rộng lớn gần đó của nhóm tàu Trung Quốc được tính toán kỹ, liều lĩnh cao độ.

Để trả lời, Việt Nam đã gia hạn công việc khoan của giàn khoan Nhật đến 15 tháng Chín.

Nga chưa có phát ngôn nào về vụ việc này, tuy nhiên tổng thống Nga đã có thư khen ngợi, động viên Rosneft. Và ngoại trưởng Nga hôm ở Bangkok trong cuộc họp Nga – Asean, đã nói Nga đang theo dõi tình hình và mong muốn các bên xử lý vụ việc bằng các biện pháp hòa bình.

Lượng giá ngưỡng căng thẳng

Biển ĐôngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTruyền thông Việt Nam hồi tháng 6/2014 đưa tin về tàu tuần duyên Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam và tấn công tàu của Việt Nam ở gần địa điểm neo đậu của Dàn khoan HD 981.

BBC: Có nguồn tin nói, nếu Trung Quốc đợt vừa qua chỉ đưa tàu của họ vào sâu thêm nữa ở một số điểm nhạy cảm trong khu vực Bãi Tư Chính, hoặc đưa giàn khoan vào khai thác, thì có thể Việt Nam sẽ có phản ứng bằng hành động quân sự, đặc biệt từ hải quân, ông đánh giá thế nào về mức độ căng thẳng này và bài học?

Bàn tròn BBC: Trung Quốc từ thương chiến đến Biển Đông

VN: ‘Bãi Tư Chính’ và Cơ hội thoát Trung

Quan hệ Việt – Trung: Bãi Tư Chính là thời điểm thay đổi với VN?

Carl Thayer: ‘Tam giác ngoại giao VN, TQ và Mỹ sẽ còn căng’

TS. Hà Hoàng Hợp: Đi theo bảo vệ giàn khoan, giống như vụ năm 2014, sẽ là đông đảo các loại tàu hải cảnh, thậm chí tàu hải quân…

Việt Nam đương nhiên giành quyền xử lý một cách chủ động. Nếu phía Trung Quốc để xảy ra đụng độ vũ trang, thì Trung Quốc phải chịu trách nhiệm.

Nói cách khác, nếu Trung Quốc kéo giàn khoan vào và khoan, thì rủi ro đụng độ sẽ rất cao, và một khi đã xảy ra đụng độ, thì không biết tiếp theo sẽ thế nào.

BBC: Nếu tới đây, Trung Quốc đưa một giàn khoan hoặc thiết bị khai thác dầu khí trở lại khu vực căng thẳng vừa qua, hoặc một địa điểm nhạy cảm mà Việt Nam đã phản đối gay gắt, có nguy cơ cao nào về an ninh có thể xảy ra không? Các bên có tiên lượng được hết không?

TS. Hà Hoàng Hợp: Một phần chúng tôi đã đề cập ở ngay câu hỏi thứ ba, xin khẳng định lại, rằng khó có thể quản trị nổi rủi ro xung đột nếu Trung Quốc kéo giàn khoan vào và khoan.

Khả năng giàn khoan được kéo vào là không nhỏ.

Năm 2012, Trung Quốc đã mời thầu thăm dò và khai thác ở các lô 130 đến 137, cộng thêm hai lô Riji03 và Riji27.

Vừa qua, tàu khảo sát đã khảo sát kỹ lưỡng 10 lô kể trên và vùng rộng hơn bao trùm ra ngoài khu vực 10 lô đó.

BBC: Vì sao Việt Nam phản đối mạnh, nhưng không đưa Trung Quốc ra trước một tòa án quốc tế để thưa kiện? Phải chăng Việt Nam e ngại Trung Quốc sẽ có hành động trả đũa, trừng phạt mạnh mẽ hơn và do đó còn tính toán, lưỡng lự? Về lâu dài, theo suy xét của ông, Việt Nam có kiện và dám kiện Trung Quốc không? Nếu không thì sao?

TS. Hà Hoàng Hợp: Năm 2014, phía Việt Nam cho biết đã chuẩn bị áp dụng biện pháp pháp lý. Sau đó, giàn khoan Haiyang Shiyou 981 rút, thì phía Việt Nam chưa áp dụng biện pháp đó.

Bây giờ, cũng có tin trên truyền thông Việt Nam, rằng phía Việt Nam có thể áp dụng biện pháp pháp lý đối với Trung Quốc .

Lúc này phía Việt Nam chưa áp dụng biện pháp pháp lý, có thể là do đang cân nhắc mọi điều kiện không phải là điều kiện pháp lý, ví dụ, cần dự báo các hành động kinh tế, thương mại, chính trị… của phía Trung Quốc.

Biển ĐôngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionVụ đối đầu ở khu vực Bãi Tư Chính gây căng thẳng trong quan hệ Việt – Trung

Ngoài ra, cũng cần xem xét lựa chọn biện pháp và kỹ thuật pháp lý nào, để có hiệu quả nhất, để có quyết định phân xử hay phán quyết đúng đắn nhất, trong thời gian sớm nhất.

Để bảo vệ lợi ích quốc gia của mình, tôi tin rằng chính phủ Việt Nam đã, đang và sẽ làm mọi cách hòa bình, hợp pháp. Đến nay, các biện pháp ngoại giao đã được sử dụng với ưu tiên cao. Biện pháp pháp lý, chắc sẽ có ưu tiên cao trong thời gian tới đây, có thể sẽ rất sớm!

Mục đích địa chính trị

BBC: Có ‎ý kiến nói Trung Quốc quá tự tin và có thể chủ quan, liều lĩnh, coi nhẹ khả năng phòng vệ bất cân xứng của Việt Nam, ông đánh giá thế nào về tương quan giữa hai bên trong trường hợp có thể xảy ra một căng thẳng và đối đầu lớn lần nữa và hệ quả có thể thế nào nếu Trung Quốc khinh suất trong bối cảnh địa chính trị ở khu vực và quốc tế đang có nhiều biến chuyển, chuyển động nhạy cảm hiện nay?

Bãi Tư Chính: Nhận thức của người dân VN ‘đã cao hơn trước’

Tuyên bố chung ASEAN nhắc đến ‘sự cố nghiêm trọng’ ở Biển Đông

Nhật Bản quan ngại về căng thẳng Biển Đông

TS. Hà Hoàng Hợp: Bản chất của các vụ việc mà Trung Quốc gây ra ở biển Đông từ năm 2005 cho đến nay, là Trung Quốc muốn độc chiếm biển Đông mà không có căn cứ pháp lý hay lịch sử xác đáng nào.

Chiếm Lưỡi Bò bên trong đường 9 đoạn, ngoài các mục tiêu kinh tế, thì nổi bật là các mục tiêu địa chính trị và chiến lược.

Mọi hoạt động làm thay đổi hiện trạng trên biển của Trung Quốc, mọi hành động nhằm khẳng định các quyền của Trung Quốc, đều không có giá trị chiếu theo luật quốc tế.

Vậy mục đích địa chính trị ở đấy là bá quyền.

Quan hệ Mỹ - TrungBản quyền hình ảnhREUTERS/GETTY IMAGES
Image captionDiễn biến ở khu vực Bãi Tư Chính xảy ra trong lúc có chiến tranh thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc

Việt Nam và cộng đồng quốc tế mong muốn tất cả, trong đó có Trung Quốc, hành xử trên cơ sở trật tự quốc tế dựa trên luật lệ do Liên hợp quốc quy định và mọi bên đều công nhận.

Là nước lớn, thì càng không thể hành xử vô trách nhiệm, bất chấp luật pháp quốc tế.

Năng lực quốc phòng của Việt Nam rất nhỏ bé so với năng lực quân sự của Trung Quốc.

Mười năm qua, Trung Quốc chi tiêu cho quân sự khoảng trên dưới 2000 tỷ USD, trong khi đó, Việt Nam chỉ có chi phí dưới 40 tỷ USD.

Việt Nam tuân thủ luật pháp quốc tế, nên cộng đồng quốc tế đã, đang và sẽ ủng hộ Việt Nam.

Nếu xảy ra xung đột vũ trang, Việt Nam không có cách nào khác là giáng trả tự vệ để bảo vệ lợi ích quốc gia Việt Nam.

Phía Việt Nam đã nhiều lần tuyên bố rằng Việt Nam không để xảy ra bị động, bất ngờ.

Lựa chọn thế đứng nào?

BBC: Cuối cùng, nhìn rộng hơn, có chuyển động gì đáng kể không ở khu vực trên phương diện học thuyết, tiếp cận an ninh, quân sự giữa các đại cường và các khối hiện diện hoặc có lợi ích liên quan ở khu vực và trên Biển Đông mà Việt Nam và các nước được cho là nhỏ và tương đối yếu hơn cần đặc biệt quan tâm để đảm bảo hiệu quả tốt hơn cho an ninh và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải và các lợi ích của mình?

TS. Hà Hoàng Hợp: Chiến lược an ninh quốc gia và chiến lược quốc phòng Mỹ được hơn 80% lưỡng viện Mỹ ủng hộ. Bản chất là Mỹ tiếp tục đóng vai trò đảm bảo trật tự quốc tế dựa trên các quy tắc.

Chiến lược an ninh Ấn Độ dương – Thái Bình Dương do Bộ quốc phòng Mỹ công bố ngày 1/6 coi Trung Quốc là đối thủ chiến lược số một.

Biển ĐôngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES/ILLUSTRATION BY BBC
Image captionMùa Hè 2019 nóng lên với các động thái ngoại giao và an ninh ở khu vực do sự kiện Trung Quốc điều nhóm tàu vào khu vực Bãi Tư Chính trên Biển Đông

Cộng đồng quốc tế hoan nghênh sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc. Mỹ và tất cả các nước đang góp sức duy trì an ninh, an toàn ở biển Đông, coi đó là một phần địa chính trị quan trọng của Ấn Độ dương – Thái Bình Dương.

Hành động của Trung Quốc ở biển Đông đang làm giảm đáng kể an ninh ở biển Đông, làm cho tình hình phức tạp. Năm 2015, chủ tịch Trung Quốc ông Tập Cận Bình hứa với thế giới rằng không quân sự hóa ở biển Đông, dù vậy, từ đó, Trung Quốc đã đẩy mạnh quân sự hóa, trái lại với cam kết công khai đó.

Mỹ và các nước khác như Nhật Bản, Úc, Ấn Độ… có lợi ích ở biển Đông. Chắc chắn họ sẽ bảo vệ lợi ích của họ ở biển Đông, khi lợi ích của các nước đó trùng với lợi ích của Việt Nam ở biển Đông, Việt Nam nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ cụ thể từ các nước đó, trong đó có Mỹ.

Đường lối quốc phòng để bảo vệ hòa bình của Việt Nam, có 3 “không” như mọi người đều biết, Việt Nam luôn đây mạnh hợp tác quốc phòng với các nước. Với nguy cơ xung đột hoặc chiến tranh, đương nhiên sẽ cần có điều chỉnh cho phù hợp. Bởi vì lợi ích quốc gia là vĩnh viễn, các mối quan hệ khác sẽ thay đổi.

Việt Nam không ngả theo Mỹ, cũng không ngả theo Trung Quốc hoặc theo bất kỳ nước nào khác.

Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp, mà phần trả lời ở trên là quan điểm cá nhân, đồng thời là thành viên nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) có trụ sở tại London, Anh quốc, ông có nhiều nghiên cứu và phân tích về chính trị, chiến lược và địa chính trị liên quan Việt Nam, quốc tế và khu vực.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Hong Kong: Vì sao phe thân-Bắc Kinh đồn Joshua Wong là người ‘gốc Việt’?

Hong Kong: Vì sao phe thân-Bắc Kinh đồn Joshua Wong là người ‘gốc Việt’?

Joshua Wong không phải là 'người gốc Việt'Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionJoshua Wong không phải là ‘người gốc Việt’

Nếu vô tình dạo quanh Weibo hay Twitter trong những ngày gần đây thì bạn rất có thể nhìn thấy những dòng bình luận gọi Joshua Wong, lãnh đạo phong trào sinh viên là “con khỉ Việt Nam”.

Không chỉ Joshua (Hoàng Chi Phong), mà nhiều nhà hoạt động Hong Kong như Deniso Ho, Claudia Mo, Agnes Chow đang bị nhóm thân Bắc Kinh ‘đồn thổi’ có gốc gác Việt Nam.

Những cụm từ mang tính kỳ thị sắc tộc này thực ra đã xuất hiện từ 2014, khi phong trào Chiếm lĩnh Trung hoàn (Occupy Central) hay được biết đến là phong trào Dù vàng bùng nổ ở Hong Kong, và Joshua Wong là một nhân vật chủ chốt.

Ảnh chụp màn hình từ một diễn đàn Trung Quốc từ 12/9/2014 cho thấy một người cho rằng mẹ của Joshua Wong, bà Grace Ng, có họ “giống với họ Nguyễn hoặc Ngô của Việt Nam.”

Thông tin này đang được lan truyền trên mạng xã hội
Image captionThông tin này đang được lan truyền trên mạng xã hội

“Ng là dạng viết ngắn của Nguyễn và Ngô… nếu như giả thuyết của tôi là đúng thì mẹ của Wong là gốc Việt. Điều này có nghĩa Wong có nửa dòng máu Việt Nam.”

“Và nếu điều này đúng thì Joshua Wong và mẹ anh ta có khả năng cao là thuộc về một tổ chức chính phủ do Mỹ hậu thuẫn ‘Việt Tân’.”

Bài đăng này cho rằng bố mẹ của bà Ng, tức ông bà ngoại của Wong là người Việt Nam tỵ nạn sang Hong Kong sau chiến tranh Việt Nam.

Người này nói truyền thông Việt Nam đưa tin tổ chức Việt Tân là kẻ đứng đằng sau các cuộc biểu tình chống chính quyền ở Việt Nam, phá hoại quan hệ Việt-Trung, kiểm soát phong trào Chiếm lĩnh Trung hoàn với mong muốn “khiến Trung Quốc hỗn loạn”.

Chính khách Úc ‘ví’ Trung Quốc như phát xít Đức

Biểu tình Hong Kong: Cảnh sát thừa nhận sử dụng lực lượng ‘cải trang’

Hong Kong hủy hơn 160 chuyến bay do có biểu tình

Hình ảnh giờ lại được lan truyền trên Twitter và Weibo, kèm theo nhiều thông tin cáo buộc khác.

Joshua Wong nói gì?

Joshua Wong không đưa ra phản hồi chính thức về tin đồn này. Tuy nhiên Deniso Ho đã đăng lên Facebook của cô hôm 10/8 một cách châm chọc rằng:

“Tin đồn là tôi tự nhiên trở thành một người Trung gốc Việt…” với những dòng hashtag mỉa mai như “#Quánhiềudấuhỏi #Tôithậtracũngthíchbánh mìViệtNam và #HoChiMinhkhôngphảilànơitôisinhra

reply by Joshua Wong

Phản hồi lại dòng trạng thái này của Denise Ho, Joshua Wong viết: “Tôi cũng không hiểu vì sao tôi lại trở thành người gốc Việt…”

Trả lời BBC hôm 13/8, Jeffrey Ngo, nghiên cứu sinh về người tỵ nạn Việt Nam ở Hong Kong, và đồng thời là thành viên của Demosisto và là người phụ trách tài khoản Facebook của Joshua Wong nói:

“Đây là những lời sỉ nhục mang tính phân biệt chủng tộc của những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc” – ám chỉ cụm từ ‘con khỉ Việt Nam’.

Ngo không nghĩ việc đồn thổi những lãnh đạo biểu tình là người gốc Việt là một động thái có tính toán.

“Tôi nghĩ hầu hết họ là trolls (những kẻ quấy phá), mục đích của họ không phải làm ảnh hưởng đến phong trào mà chỉ khiến nhiều người tức giận. Tôi không nghĩ chính bản thân họ tin những gì họ nói.”

“Một kiểu tự thương hại trước phương Tây, nhưng lại tự cao tự đại trước những nước Đông Nam Á,” Ngo nói.

Sinh viên TQ đại lục ‘tấn công’ sinh viên Hong Kong ở Úc

Trump: Bắc Kinh sẽ tự giải quyết ‘bạo loạn’ ở Hong Kong

Nancy Pelosi: Hong Kong ‘dũng cảm’ trước một ‘chính phủ hèn nhát’

Lời đồn thành trò hề

Trên thực tế, họ Nguyễn hay Ngô của Việt Nam không có quy định viết tắt thành “Ng” khi chuyển sang tiếng Anh.

Và những thông tin do phe thân Bắc Kinh đồn thổi đến giờ vẫn không có cơ sở, và dần trở thành trò cười trên mạng xã hội trong giới hoạt động và nghiên cứu.

Phóng viên Cho Wai Lam của BBC Tiếng Trung bình luận về hiện tượng này:

“Trung Quốc không có tự do báo chí và tự do ngôn luận. Họ kiểm soát người dân bằng các loại thông tin khác nhau. Gần đây, nhiều tin tức giả mạo đã được tìm thấy trên mạng xã hội. Hầu hết các bài viết tìm cách liên kết người biểu tình với nước ngoài để chứng minh rằng phong trào đó được kích động bởi sự can thiệp của nước ngoài. Nó nhắm mục tiêu các nhóm ít học, những người ít nhạy cảm với tin tức đáng tin cậy.”

“Tuy nhiên, tuyên truyền như vậy chỉ thu hút cư dân mạng đại lục, chứ không thu hút được công chúng Hong Kong.”

Anh Lam dẫn chứng một cuộc khảo sát do Đại học Trung Hoa ở Hong Kong thực hiện, người Hong Kong tin rằng lãnh đạo Carrie Lam, lực lượng cảnh sát và chính phủ Bắc Kinh là thủ phạm chính của cuộc khủng hoảng này, và “lực lượng nước ngoài” được xếp hạng là khả năng thấp nhất.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Đã đến lúc Việt Nam nên xem lại chính sách ‘Bốn không’ của mình?

Đã đến lúc Việt Nam nên xem lại chính sách ‘Bốn không’ của mình?

Quan hệ Vi - TrungBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionChủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong chuyến thăm Việt Nam ngày 12/11/2017

Sự kiện ở Bãi Tư Chính trên Biển Đông không có gì mới, chỉ là tiếp diễn xu thế chính sách của Trung Quốc từ năm 2005 hay sớm hơn, có thể đoán được là tình hình căng thẳng sẽ tiếp tục trong nhiều năm đến khi Trung Quốc dần dần thiết lập quyền kiểm soát trên phần lớn biển Đông, theo một nhà nghiên cứu chính trị học và Đông Nam Á học từ Đại học Oregon, Hoa Kỳ.

Với áp lực từ cả ngoài lẫn trong, đã đến lúc ban lãnh đạo Việt Nam cần xem xét thay đổi đối sách mà không chỉ là ‘ba không’ mà phải gọi là ‘bốn không’ bao gồm không kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, mà như đã thể hiện và thi triển có hệ thống và ổn định lâu nay, vẫn theo ý kiến này.

Chủ trương quan hệ thân thiết và liên Đảng, hơn nữa, đã tỏ ra “mâu thuẫn và làm giảm hiệu lực” của các biện pháp khác nhằm cân bằng với Trung Quốc, nếu nhìn từ góc độ lợi ích lâu dài của quốc gia, nó còn “cản trở” việc thực hiện những cải cách kinh tế – chính trị sâu rộng để tạo sự phát triển bền vững cho Việt nam, ý kiến này nhấn mạnh.

Bàn tròn BBC: Áp lực với TQ “từ chiến tranh tiền tệ” với Mỹ tới Biển Đông

Carl Thayer: ‘Tam giác ngoại giao VN, TQ và Mỹ sẽ còn căng’

Biểu tình nhỏ ở Hà Nội về Bãi Tư Chính

VN ‘quá rụt rè trước TQ’ trong vấn đề Biển Đông

Bãi Tư Chính: Asean vẫn chia rẽ, người dân VN ‘sẽ không manh động’

Trả lời BBC News Tiếng Việt qua bút đàm, mà dưới đây là nội dung, về sách lược và tính toán địa chính trị của Trung Quốc qua sự kiện ở khu vực Bãi Tư Chính từ đầu tháng 7/2019, Giáo sư Vũ Tường, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ASEAN thuộc Đại học Oregon, trước hết nêu nhận định:

Sự kiện ở Bãi Tư Chính trên Biển Đông không có gì mới, chỉ là tiếp diễn xu thế chính sách của Trung Quốc từ năm 2005 hay sớm hơn. Với chính sách này, Trung Quốc ngày càng tăng cường các tuyên bố và biện pháp cưỡng chế thể hiện chủ quyền của mình ở vùng biển Nam Trung Hoa hay biển Đông của Việt nam. Xu hướng này thể hiện một Trung Quốc (cả lãnh đạo và dân chúng) tự tin vào sức mạnh quốc gia về cả quân sự và kinh tế, cũng như nhu cầu ngày càng lớn của Trung Quốc để trở thành một cường quốc hải quân sau khi đã là một cường quốc mậu dịch và kinh tế.

Xu hướng này có thể dẫn đến căng thẳng với Mỹ nếu Trung Quốc không khéo léo kiềm chế, nhưng có vẻ họ bất cần – vì tự hào dân tộc quá lớn chăng? Họ cũng thực sự tin rằng chủ quyền của phần lớn khu vực biển trên là thuộc về Trung Quốc. Họ cho rằng lãnh đạo Việt Nam ngày nay tráo trở lật lọng vì chính Thủ tướng Phạm Văn Đồng và toàn thể ban lãnh đạo miền Bắc Việt nam (Việt nam Dân chủ Cộng Hoà) vào năm 1958 đã công khai thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và thềm lục địa 12 hải lý của Trung Quốc quanh các đảo này.

Thực ra là Bốn không‘?

Quan hệ Việt - TrungBản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM/GETTY IMAGES
Image captionSự kiện ở Bãi Tư Chính trên Biển Đông không có gì mới, chỉ là tiếp diễn xu thế chính sách của Trung Quốc từ năm 2005 hay sớm hơn, theo GS Vũ Tường

BBCViệt Nam có nên điều chỉnh chính sách quốc phòng ‘ba không’ lâu nay và liệu có khả năng xảy ra nguy cơ đối đầu xung đột ở mức cao trên Biển Đông hay không?

Giáo sư Vũ Tường: Chính sách của chính phủ Việt nam cho đến nay mà thể hiện rõ ràng là phản ứng yếu ớt; “giữ gìn đại cục”; đàn áp dân chúng biểu tình; nhận viện trợ và ưu đãi cho các công ty Trung Quốc đầu tư; “ba không” – thực ra là bốn không, còn bao gồm không kiện Trung Quốc ra toà án quốc tế, làm cho lãnh đạo Trung Quốc càng tin là họ có thể dùng tiền để xoa dịu các phản đối nếu có từ phía Việt nam trước chính sách của họ.

Câu hỏi chính là liệu sẽ có chiến tranh Việt-Trung và Mỹ-Trung? Từ lâu tôi vẫn tin là căng thẳng ở biển Đông sẽ không dẫn đến chiến tranh Việt – Trung vì chính phủ Việt Nam có quá nhiều thứ để mất, đặc biệt là quyền lực độc tôn của Đảng Cộng sản và quyền lợi kinh tế của các công ty nhà nước, nếu để chiến tranh nổ ra.

Chiến tranh Mỹ-Trung cũng khó xảy ra phần vì Trung Quốc có thể đạt được mục tiêu (bá chủ phần lớn khu vực biển) mà không chạm đến lợi ích cốt lõi của Mỹ (tự do hàng hải).

BBC:Câu hỏi chính nào đang được đặt ra với giới nghiên cứu và những ai quan tâm tới an ninh, chính trị và bang giao quốc tế ở khu vực, đặc biệt liên quan đối sách của các nước được cho là nhỏ và yếu trong vùng?

GS. Vũ Tường: Giới nghiên cứu quan hệ quốc tế đã tranh luận nhiều về sự trỗi dậy của Trung Quốc, khả năng trỗi dậy hoà bình cũng như nguy cơ chiến tranh. Dĩ nhiên các nước lân bang của Trung Quốc sẽ chịu ảnh hưởng trước nhất và nhiều nhất khi Trung Quốc trỗi dậy.

Trong tình hình này, các thể chế và tổ chức khu vực như ASEAN hay APEC có thể sẽ thay đổi, thậm chí giải thể và bị thay thế bởi những thể chế mới để phản ánh tương quan lực lượng mới. Ví dụ: khái niệm Ấn-Thái Bình Dương là một khái niệm khá mới. Ý tưởng này có thành hiện thực dưới hình thức một liên minh hay không còn phải chờ xem.

Quan hệ Việt - TrungBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTrung Quốc sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, trong đó có các tàu ‘nghiên cứu’ Hải Dương Địa Chất, đưa vào các khu vực đang có tranh chấp ở Biển Đông và khu vực

Trong trung và dài hạn, các nước tương đối yếu hơn ở khu vực trong đó có Việt Nam sẽ phải tự điều chỉnh theo cách riêng của mình, dựa trên sức mạnh kinh tế và quân sự, vị trí địa lý, khả năng điều hành của lãnh đạo, v.v… Mỗi nước có những thách thức khác nhau và không có câu trả lời chung.

Lý thuyết quan hệ quốc tế cung cấp hai chọn lựa cơ bản cho các nước nhỏ trong khu vực: hoặc chấp nhận sự lãnh đạo của Trung Quốc hoặc dùng Mỹ và các cường quốc khác cân bằng Trung Quốc (luật pháp quốc tế cũng có thể là một loại đồng minh cân bằng với Trung Quốc trong việc tranh chấp lãnh thổ).

Hai chọn lựa này không loại trừ việc phát triển khả năng tự thân để tự vệ. Phát triển khả năng tự thân trước mắt là mua vũ khí và tăng cường hải quân cũng như phát huy tinh thần dân tộc, nhưng trong trung hạn phải có kế hoạch công nghiệp hoá gấp rút như Hàn Quốc đã làm trong 30 năm. Cân bằng để tự vệ có thể thông qua liên minh quân sự, quan hệ mậu dịch, hay cải tổ chính trị. Trong điều kiện Việt nam, dân chủ hoá sẽ tăng tính chính danh của chế độ đối với trong nước và thế giới, giúp Việt nam thêm sức mạnh, bạn bè.

Viễn vọng và kịch bản?

BBC: Quan hệ liên đảng cộng sản giữa chính quyền Việt Nam với Trung Quốc hiện nay có giúp giải quyết vấn đề, hay trở thành ‘cái bẫy’ lợi bất cập hại? Viễn vọng và kịch bản nào (kể cả nguy cơ nếu có) đang chờ Việt Nam, nếu không thay đổi đường lối?

Giải pháp nào cho tranh chấp Tư Chính?

Bãi Tư Chính: “Đã đến lúc VN kiện TQ ra tòa quốc tế”?

Bãi Tư Chính: TQ ‘đẩy vấn đề’ tinh vi hơn

Bãi Tư Chính và lô 06-01: Rõ hơn về tàu Trung Quốc ‘quấy nhiễu’ Việt Nam

Bình luận chuyện báo VN ‘im’ về vụ bãi Tư Chính

“Đối đầu” giữa các tàu TQ và VN lại xảy ra ở Biển Đông

GS. Vũ Tường: Trong thời gian dài trước năm 2007, ban lãnh đạo Việt nam không quan tâm lắm đến chủ quyền biển đảo. Từ năm đó, họ đã quan tâm hơn, tìm cách tăng cường khả năng tự thân tự vệ bằng quân sự và phát triển quan hệ với các đối thủ tiềm tàng của Trung Quốc như Mỹ, Nhật và Ấn Độ.

Mặt khác, họ từ chối dùng luật pháp quốc tế để kiện Trung Quốc, nâng cấp quan hệ với Mỹ trong một chừng mực hạn chế, đàn áp những biểu hiện của tinh thần dân tộc, và ngăn cản xã hội dân sự phát triển. Tại sao chính phủ Việt nam không làm tất cả những việc có thể làm?

Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Tướng Ngụy Phượng Hoàng,Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionBộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Tướng Ngụy Phượng Hoàng, mới đây phát biểu rằng nước này chưa bao giờ xâm lược một quốc gia nào trong lịch sử từ trước tới nay

Đó là vì đường lối chính, nhưng không công khai, của Đảng Cộng sản Việt nam là giải quyết vấn đề trên quan hệ song phương giữa hai Đảng cầm quyền mà cùng gắn nhãn “cộng sản”, hai nhà nước mà cùng mô hình độc tài toàn trị, hai quân đội mà cùng gắn nhãn “nhân dân”.

Chủ trương này có cơ sở lịch sử, cái thời mà “Bác Hồ ta đó cũng là bác Mao” như trong thơ Chế Lan Viên ghi lại và phản ánh, cơ sở viễn kiến chính trị vẫn được biết tới là “đại cục” hay tương lai toàn thắng của chủ nghĩa xã hội, và cơ sở vật chất với lợi ích kinh tế cho các công ty nhà nước hay “sân sau” của quan chức.

Chủ trương này tốt nhất cho Đảng Cộng sản Việt nam vì nó tương thích với mục tiêu và lợi ích của đảng này, nó còn dễ thực hiện vì nó đi theo đường lối sẵn có, không phải cố gắng nhiều mà đem lại lợi ích lớn trước mắt cho cán bộ đương chức đương quyền.

Chủ trương này, mặt khác, mâu thuẫn và làm giảm hiệu lực của các biện pháp khác nhằm cân bằng với Trung Quốc. Nếu nhìn từ góc độ lợi ích lâu dài của quốc gia, chủ trương này còn cản trở việc thực hiện những cải cách kinh tế chính trị sâu rộng để tạo sự phát triển bền vững cho Việt nam.

Quan hệ kinh tế gần gũi với Trung Quốc không mang lại công nghiệp tiên tiến mà có rủi ro lớn là nợ công, ô nhiễm môi trường, và tham nhũng. Cơ sở lịch sử và chính trị của chủ trương này hoàn toàn sai lệch, “viển vông” như từ ngữ của ông Nguyễn Tấn Dũng đã dùng.

Tương lai toàn thắng của chủ nghĩa xã hội chỉ là cái bánh vẽ lãnh đạo Đảng Cộng sản còn níu kéo nhưng cả thế giới và có lẽ đại đa số Đảng viên đã từ bỏ.

Lịch sử quan hệ hai Đảng Cộng sản Việt-Trung không có gì đáng tự hào nếu không nói là thảm kịch kinh tởm của niềm tin và sự phản bội lẫn nhau, dẫn đến chiến tranh và sự hy sinh vô ích của hàng vạn người dân và chiến sĩ.

Rất có thể áp lực ngày càng tăng của Trung Quốc và của dân chúng, kể cả những Đảng viên có tinh thần dân tộc, sẽ buộc Đảng của ông Nguyễn Phú Trọng phải thay đổi chính sách.

Vấn đề là Đảng này hiện nay thiếu lãnh đạo có tinh thần dân tộc, tầm nhìn xa, và khả năng tạo ra thay đổi bước ngoặt. Có thể đoán được là tình hình căng thẳng sẽ tiếp tục trong nhiều năm đến khi Trung Quốc dần dần thiết lập quyền kiểm soát trên phần lớn biển Đông.

Giáo sư Vũ Tường giảng dạy và nghiên cứu tại Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Oregon, Hoa Kỳ từ năm 2008. Ông từng thỉnh giảng tại Đại học Princeton, Đại học Quốc gia Singapore, cũng như tại Naval Postgraduate School ở MontereyCalifornia. Nghiên cứu của ông về chính trị so sánh, liên quan các chủ để về hình thành quốc gia, phát triển, chủ nghĩa dân tộc và các cuộc cách mạng, đặc biệt tập trung vào Đông Á. Chính sách quốc phòng “ba không” được Việt Nam thi triển bao gồm: không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Biển Đông: ‘Quá rụt rè trong việc kiện TQ, VN đang mất lợi thế’

Biển Đông: ‘Quá rụt rè trong việc kiện TQ, VN đang mất lợi thế’

HOANG DINH NAM / Getty ImagesBản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM / GETTY IMAGES
Image captionTàu hải cảnh Trung Quốc trong vụ giàn khoan HD-981 hồi năm 2014

Tác giả cảm ơn Thái Văn Cầu, Nguyễn Lương Hải Khôi, Phan Văn Song, Dự Văn Toán và Lê Vĩnh Trương đã góp ý cho nội dung bài viết.

“Tránh sao khỏi tai họa về sau”

Từ tháng 5/2019 đến tháng 8/2019, với một sự leo thang lấn lướt kép, Trung Quốc vừa điều tàu cảnh sát biển Hải Cảnh 35111 uy hiếp các tàu tiếp tế giàn khoan hoạt động tại mỏ Lan Đỏ trong Lô 06-01, vừa điều tàu Hải Dương Địa Chất 8, với một đội tàu hộ tống hùng hậu đến khảo sát các lô 130, 131, 132, 133, 154, 155, 156 và 157 trên một diện tích 31.000 km² trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam.

Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) không cho phép đơn phương khảo sát tài nguyên hay nghiên cứu khoa học biển trong EEZ của nước khác.

Google Earth / Pham Van SongBản quyền hình ảnhGOOGLE EARTH / PHAM VAN SONG
Image captionTrung Quốc khảo sát và uy hiếp bên trong EEZ 200 hải lý của Việt Nam

Việc báo chí nhấn mạnh tên “Bãi Tư Chính” đã không thể hiện hết mức độ của sự xâm lấn mới này. Thật ra, mỏ Lan Đỏ nằm trong bồn Nam Côn Sơn, gần bờ hơn Bãi Tư Chính, cạnh mỏ Lan Tây, vốn là nguồn cung cấp 30% khí đốt của Việt Nam từ năm 2003. Và thật ra sáu trong tám lô bị đội tàu Hải Dương Địa Chất 8 vi phạm, các lô 130, 131, 132, 154, 155 và 156 đều nằm phía bắc Bãi Tư Chính, với lô 130 chỉ cách đất liền Việt Nam khoảng 80 hải lý và đảo Phú Quý khoảng 37 hải lý.

Năm 2017 và 2018 Trung Quốc đã gây áp lực khiến Việt Nam phải ngưng Repsol hoạt động trong các lô 07-03 và 136-03 gần đó, và năm 2012, để trả đũa việc Việt Nam ban hành luật biển, Trung Quốc đã rao thầu cho 160.000 km² trong EEZ của Việt Nam, trong đó có các lô 130, 131, 132, 133, 154, 155, 156 và 157, mà họ gọi là RJ03 và RJ27. Dĩ nhiên động thái mới của Trung Quốc là những bước tiến trong một quá trình có chủ đích và sẽ không phải là những bước cuối cùng.

Ngày xưa, Trần Hưng Đạo thấy “sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ; ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau“, làm ông “thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.

Ngày nay, Việt Nam lại đứng trước tình trạng “hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau” và Bắc Kinh lại uốn tấc lưỡi bảo Việt Nam phải “ứng xử cho đúng”, “tôn trọng chủ quyền Trung Quốc” và “đừng làm phức tạp tình hình”.

Chúng ta không sánh được với người hùng anh xưa, nhưng may mắn được sống trong một thế giới có những biện pháp hòa bình để bảo vệ quyền lợi của đất nước. Nếu bỏ phí cả những biện pháp đó thì “chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc… há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa?

Cơ chế giải quyết tranh chấp UNCLOS

Bài viết này sẽ cố gắng, qua các câu hỏi và trả lời, cung cấp thông tin về một trong những biện pháp văn minh nhất, bình đẳng nhất, với nó chí nhân có thể thay cường bạo như Nguyễn Trãi đã viết. Đó là kiện Trung Quốc.

1. Kiện Trung Quốc về điều gì?

Việt Nam cần kiện Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

2. Nếu Trung Quốc không chấp nhận ra tòa?

UNCLOS, trong Phần XV và các Phụ lục liên quan, quy định về một cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc cho các quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc. Cơ chế này cho phép các thành viên kiện nhau về các tranh chấp liên quan đến việc diễn giải và áp dụng Công Ước, trong đó có tranh chấp về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Với cơ chế này, dù Trung Quốc không chấp nhận ra tòa cũng không ngăn cản được vụ kiện. Trung Quốc cố ý không giải quyết tranh chấp một cách công bằng, và mục đích của cơ chế này chính là để cho các thành viên UNCLOS có thể thoát khỏi những sự cố ý tồi tệ như thế.

Tuy cơ chế này cần hội tụ đủ một số điều kiện và có một số hạn chế, thí dụ như trong Điều 297 và 298, việc vụ kiện Phi-Trung 2013-2016 được thụ lý cho thấy khả năng là nếu Việt Nam kiện và Trung Quốc không chấp nhận ra tòa thì tòa cũng sẽ thụ lý.

3. Sao không kiện Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa?

Bản chất của tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa là tranh chấp chủ quyền, không phải là diễn giải và áp dụng UNCLOS.

Cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS không bao gồm những tranh chấp mà bản chất là tranh chấp chủ quyền. Tòa án Công lý Quốc tế cũng không có thẩm quyền để xử tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa cho đến khi mọi bên trong tranh chấp đã chấp nhận thẩm quyền của Tòa bằng một trong những hình thức trong Điều 36 và 37 của Quy chế của Tòa, và hiện nay điều kiện đó chưa được đáp ứng.

Trung QuốcBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTrung Quốc sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, trong đó có các tàu ‘nghiên cứu’ Hải Dương Địa Chất, đưa vào các khu vực đang có tranh chấp ở Biển Đông và khu vực

4. Tòa nào sẽ xử?

Điều 287 của UNCLOS cho phép các bên trong tranh chấp tuyên bố chọn phương tiện phân xử, thí dụ như Tòa án Công lý Quốc tế hay Tòa Trọng tài Quốc tế về Luật Biển (ITLOS), nhưng phương cách mặc định là một Hội đồng Trọng tài (HĐTT) lâm-cấp thời (ad hoc) được thiết lập theo Phụ lục VII của UNCLOS.

Hội đồng bao gồm năm trọng tài: mỗi bên được chọn một và các bên cùng nhau chọn số còn lại. Nếu không đủ năm trọng tài vì các bên không đồng ý với nhau, hay có bên không chọn, thì Chủ tịch Tòa Trọng tài Quốc tế về Luật Biển sẽ chọn. Chính một HĐTT như thế đã phân xử vụ kiện Phi-Trung Philippines chọn một trọng tài, nhưng Trung Quốc không tham gia, và Chủ tịch ITLOS Shunji Yanai chọn bốn trọng tài còn lại.

5. Hội đồng Trọng tài không phải là Tòa án Công lý Quốc tế, phán quyết của họ có ý nghĩa gì không?

Phán quyết của HĐTT được thiết lập theo Phụ lục VII của UNCLOS hoàn toàn có tính ràng buộc giữa các quốc gia trong vụ kiện, đối với các quốc gia này thì không khác gì Tòa án Công lý Quốc tế đã xử. Thí dụ, phán quyết 2016 có tính ràng buộc giữa Philippines và Trung Quốc, dù Trung Quốc không công nhận.

Tuy nhiên, phán quyết đó không có tính ràng buộc giữa các quốc gia đó và các bên thứ ba.

6. Phán quyết 2016 đã bác bỏ Đường Chữ U rồi, kiện nữa làm gì?

Phán quyết đó chỉ có tính ràng buộc giữa Philippines và Trung Quốc. Nếu Việt Nam muốn có một phán quyết có tính ràng buộc giữa mình và Trung Quốc, Việt Nam phải kiện Trung Quốc.

BBC

Lợi ích và khả năng thắng

7. Kiện có ích gì khi Trung Quốc sẽ không tuân thủ?

Chắc chắn Trung Quốc sẽ không tự nguyện tuân thủ phán quyết, cũng như họ đã không tuân thủ phán quyết 2016 về vụ kiện Phi-Trung.

Nhưng một phán quyết xác nhận Việt Nam đúng, Trung Quốc sai, sẽ vô cùng hữu ích trong việc tranh thủ sự ủng hộ của thế giới. Các nước khác, đặc biệt là Mỹ, có thể ủng hộ Việt Nam một cách danh chính ngôn thuận, không thể bị cho là thiên vị một bên trong tranh chấp và sự ủng hộ của họ sẽ có nhiều trọng lượng hơn.

Trung Quốc sẽ không thể ngụy biện rằng họ đang giải quyết và quản lý tranh chấp với các nước nhỏ một cách tốt đẹp, các nước ngoài khu vực không nên xen vào. Các nước khác có thể lên tiếng bảo vệ các công ty dầu khí của họ khi các công ty này làm việc với Việt Nam, Trung Quốc không thể yêu cầu họ rút ra khỏi “vùng tranh chấp”.

Nếu trong tương lai Việt Nam phải đưa tranh chấp ra LHQ, vì chắc chắn là Trung Quốc sẽ leo thang lấn lướt, nếu có trong tay một phán quyết xác nhận Việt Nam đúng, Trung Quốc sai, Việt Nam sẽ được nhiều phiếu ủng hộ hơn.

Ngoài ra, phán quyết của HĐTT UNCLOS sẽ xứng đáng với chính nghĩa của Việt Nam hơn là cử người phát ngôn BNG, thậm chí cử ngoại trưởng, ra lặn ngụp trong cù nhầy với các tương nhiệm Trung Quốc, trong khi Bắc Kinh càng ngày càng lấn tới.

8. Lập luận của Việt Nam sẽ là gì?

Lập luận của Việt Nam có thể là:

  1. Các lô 05, 06, 07, 130, 131, 132, 133, 154, 155, 156, 157 và một phần của bãi Tư Chính nằm trong EEZ tính từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam.
  2. Phần còn lại của bãi Tư Chính nằm trong thềm lục địa tính từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam.
  3. Các khu vực này nằm dưới mặt nước, do đó không nước nào có thể tuyên bố chủ quyền đối với chúng. Bất cứ nước nào, tối đa cũng chỉ có các loại quyền chủ quyền và quyền tài phán (khác với chủ quyền) dựa trên nguyên tắc đất thống trị biển và UNCLOS.
  4. Các khu vực này không thể nằm trong EEZ hay thềm lục địa của bất cứ đảo nào đang bị tranh chấp (tức là các đảo thuộc quần đảo Trường Sa). (Lý do là theo Điều 121(3) UNCLOS không đảo nào được hưởng quy chế vùng EEZ hay thềm lục địa, như HĐTT 2016 đã khẳng định).
  5. Trung Quốc không thể có quyền lịch sử đối với vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của Việt Nam. (Lưu ý HĐTT 2016 đã khẳng định rằngTrung Quốc vừa không hề có quyền lịch sử đối với vùng biển và đáy biển bên ngoài lãnh hải 12 hải lý, vừa không thể bắt cá hai tay, một mặt thì đòi tự do tiền-UNCLOS trong việc họ khai thác bên trong EEZ của các nước khác, một mặt thì không chấp nhận tự do tự do tiền-UNCLOS của các nước khác khai thác bên trong EEZ của họ. Việc phê chuẩn UNCLOS có nghĩa phải bỏ cả hai sự tự do này).
  6. Vì vậy các khu vực này hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. (Lưu ý đây là những quyền có hạn chế được UNCLOS quy định, khác với chủ quyền mà không nước nào có thể có).
  7. Trung Quốc đã vi phạm các quyền này của Việt Nam và phải ngưng vi phạm.

Giáo sư Ngô Vĩnh Long bình luận về động thái và ‘mưu đồ’ của Trung Quốc trên Biển Đông

9. Khả năng Việt Nam thắng là bao nhiêu?

Để thắng, Việt Nam phải vượt qua ba thử thách: Hội đồng Trọng tài có thẩm quyền hay không (vấn đề jurisdiction), vụ kiện có thể được chấp nhận hay không (vấn đề admissibility), và các lập luận của Việt Nam có đúng hay không (vấn đề merit). Ba thử thách này dựa trên cùng các nguyên tắc trong vụ kiện Trung-Phi.

Tuy HĐTT mới không bị phán quyết 2016 bắt buộc phải xử Việt Nam thắng, khả năng là Việt Nam cũng sẽ thắng.

Thử thách thứ nhất tương đương với trong vụ kiện Trung-Phi, và khả năng là HĐTT mới cũng sẽ kết luận rằng họ có thẩm quyền.

Các luật gia ủng hộ Trung Quốc có thể cho rằng cả hai nước đều đòi chủ quyền trên quần đảo Trường Sa như một đơn vị bao gồm các thực thể và các vùng nước, do đó tranh chấp là tranh chấp chủ quyền và nằm ngoài thẩm quyền của HĐTT. Nhưng yêu sách của bất cứ nước nào cũng phải dựa trên nguyên tắc đất thống trị biển, và thêm vào đó các vùng biển trong vụ kiện nằm quá xa quần đảo để bất cứ nước nào có thể đòi chủ quyền với chúng như một đơn vị với quần đảo, cho nên lập luận đó sẽ bị bác bỏ.

Trong thử thách thứ nhì, Việt Nam có một điểm mà Philippines không có, đó là bản “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa” ngày 11/10/2011, trong đó có câu “Đối với tranh chấp trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc, hai bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị”.

Các luật gia ủng hộ Trung Quốc có thể khai thác câu này, diễn giải rằng nó đã loại cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS. Tuy nhiên, lập luận của HĐTT của vụ kiện Phi-Trung trong phán quyết về thẩm quyền, đoạn 222-225, tuy là về DOC, cho thấy khả năng là diễn giải đó cũng sẽ bị HĐTT mới bác bỏ.

Thử thách thứ ba có hai phần: bác bỏ yêu sách “quyền lịch sử đối với EEZ và thềm lục địa”, và chứng minh “không có EEZ có thể thuộc Trường Sa phủ trùm lên các khu vực trong vụ kiện.”

HĐTT 2016 đã bác bỏ yêu sách “quyền lịch sử đối với EEZ và thềm lục địa” một cách vững chắc, và khả năng là HĐTT mới sẽ công nhận lập luận đó.

Điểm “không đảo nào trong quần đảo Trường Sa có EEZ” là điểm có thể bị tranh cãi nhiều nhất, và khó có thể chắc chắn 100% rằng HĐTT mới cũng sẽ công nhận điểm đó.

May mắn cho Việt Nam, giả sử như HĐTT mới không công nhận điểm đó đi nữa, ba đảo lớn nhất, Ba Bình, Thị Tứ, Bến Lạc đều nằm xa các khu vực trong vụ kiện.

Giả sử các đảo này được cho là có EEZ đi nữa, EEZ tối đa của chúng chỉ trùm phủ lên một diện tích nhỏ của các khu vực trong vụ kiện. Nếu các luật gia ủng hộ Trung Quốc đưa ra lập luận kiểu quần đảo Trường Sa và vùng nước lân cận là một đơn vị chủ quyền thì cũng vô ích, vì nếu đã là “vùng nước lân cận” thì không thể lan ra đến các khu vực trong vụ kiện. Do đó, khả năng Việt Nam thắng kiện còn lớn hơn khả năng Philippines thắng khi họ đưa Trung Quốc ra tòa.

Rụt rè và lỡ cơ hội

10. Nếu Trung Quốc rút ra khỏi UNCLOS thì sao?

Đây là một câu hỏi quan trọng cho Việt Nam. Nếu Trung Quốc rút ra khỏi UNCLOS trước khi Việt Nam nộp đơn kiện, HĐTT sẽ không còn thẩm quyền để xử, Việt Nam sẽ không còn cơ chế để đưa Trung Quốc ra Tòa.

Năm 2006 Trung Quốc đã vận dụng Điều 298 cho phép họ tuyên bố rút ra khỏi một phần của cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS, phần liên quan đến phân định ranh giới biển. Với tuyên bố đó, Trung Quốc đã đi trước một bước và làm cho Việt Nam mất đi cửa ngõ rộng nhất để kiện những bước kế tới của họ: đuổi BP năm 2007, đuổi Exxon Mobil năm 2008, phản đối đệ trình của Việt Nam về thềm lục địa năm 2009, và hàng loạt những hành động lấn lướt khác.

Nếu Việt Nam để cho Trung Quốc đi bước trước lần nữa, Việt Nam sẽ mất đi cửa ngõ duy nhất còn lại để kiện họ. Có thể Trung Quốc sẽ đi bước này trước khi họ bắt đầu một giai đoạn mới để tước đoạt từ Việt Nam.

TQ có ý đồ gì trong cuộc đối đầu ở Bãi Tư Chính?

11. Vậy tại sao Việt Nam không kiện?

Đây cũng là câu hỏi quan trọng cho Việt Nam. Có thể là Việt Nam quá rụt rè, không làm điều tối ưu, không tận dụng các phương tiện hòa bình để tự vệ, không có một chiến lược tổng thể và lâu dài, có thể sẽ lỡ cơ hội.

Có điều đáng lưu ý là khi Philippines còn bị lấn lướt ít hơn Việt Nam thì họ đã khởi kiện Trung Quốc rồi (năm 2013), và khi đó họ không thể biết nhiều về thắng-thua như ta biết hiện nay.

Điều thứ nhì là khi họ kiện thì Bắc Kinh đã nổi giận nhưng không trả đũa.

Điều thứ ba là mặc dù Tổng thống Duterte có chính sách thân-sợ-thua Trung Quốc, gác phán quyết sang một bên, họ có sự lựa chọn gác hay không – Việt Nam không có sự lựa chọn đó.

Điều thứ tư đáng lưu ý là khi tàu Trung Quốc đâm chìm một tàu cá Philippines thì người dân Philippines phản ứng mạnh mẽ, và Trung Quốc chỉ lấp liếm đó là tai nạn, tàu của họ định cứu các ngư dân Philippines bị nạn, nhưng do bị tám tàu cá Philippines bao vây nên phải bỏ đi – khác hẳn khi tàu Trung Quốc đâm chìm rất nhiều tàu cá Việt Nam và không mảy may đếm xỉa đến các phản ứng ngoại giao của chính phủ Việt Nam.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng và cách hành văn của tác giả, một nhà nghiên cứu hiện đang sống và làm việc tại Anh Quốc.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.